Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Diễn xướng Ca Huế - Truyền thống và biến đổi của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Việt Hà, chuyên ngành Văn hóa dân gian (mã số: 9229041), được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Từ Thị Loan tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (năm 2019). Công trình tiếp cận Ca Huế như một hiện tượng văn hóa mang tính chỉnh thể nguyên hợp trong dòng chảy văn hóa của vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế.
- Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Vùng đất Huế với lịch sử hơn 700 năm và gần 400 năm là thủ phủ Đàng Trong, kinh đô của triều Nguyễn, đã sản sinh nên di sản âm nhạc cổ truyền đặc sắc, trong đó Ca Huế là sự dung hòa giữa âm nhạc cung đình bác học và âm nhạc dân gian. Trước bối cảnh hiện đại hóa, toàn cầu hóa và sự du nhập của các loại hình nghệ thuật đương đại, diễn xướng Ca Huế đang đối diện với nguy cơ mai một và biến dạng bản sắc. Đa số các công trình nghiên cứu trước đây chỉ khảo cứu Ca Huế từ góc nhìn âm nhạc học, âm nhạc dân tộc học hoặc tiếp cận ở trạng thái "tĩnh" trong bối cảnh phong kiến quá khứ. Luận án lựa chọn khảo sát Ca Huế ở trạng thái "động" trong dòng chảy lịch sử từ truyền thống đến hiện đại, đặt trong chuyên ngành Văn hóa dân gian với tư cách là một loại hình nghệ thuật diễn xướng mang tính chỉnh thể nguyên hợp.
- Mục đích nghiên cứu: Khảo sát sự biến đổi của Ca Huế trong dòng chảy văn hóa xứ Huế từ truyền thống đến hiện đại với tư cách là một loại hình nghệ thuật diễn xướng; làm rõ những vấn đề đặt ra đối với sự tồn tại, thích ứng và phát triển của Ca Huế trong đời sống đương đại.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về nghệ thuật diễn xướng và diễn xướng Ca Huế.
- Tìm hiểu lịch sử hình thành, phát triển; nhận diện những đặc điểm, giá trị của diễn xướng Ca Huế.
- Nghiên cứu diễn xướng Ca Huế truyền thống trong quá khứ với tư cách một loại hình nghệ thuật diễn xướng mang tính chỉnh thể nguyên hợp.
- Khảo sát sự biến đổi của diễn xướng Ca Huế trong bối cảnh hiện nay, làm rõ những vấn đề đặt ra và đưa ra các bàn luận khoa học.
- Đối tượng nghiên cứu: Diễn xướng Ca Huế và sự biến đổi của loại hình diễn xướng này trong bối cảnh xã hội hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Giới hạn chủ yếu tại tỉnh Thừa Thiên - Huế (tiểu vùng văn hóa xứ Huế), có mở rộng so sánh đối chiếu với các vùng văn hóa khác khi cần thiết.
- Thời gian: Giai đoạn truyền thống dựa trên thư tịch, sử liệu trước năm 1945 và phỏng vấn hồi cố trước năm 1975; giai đoạn đương đại khảo sát thực trạng trong khoảng 10 năm trở lại đây (tính đến thời điểm bảo vệ năm 2019), khi Ca Huế phát triển mạnh mẽ thành loại hình trình diễn phục vụ đại chúng và du lịch.
- Nội dung: Khảo sát các thành tố cấu thành diễn xướng (chủ thể sáng tạo, chủ thể thực hành, chủ đề phản ánh, môi trường diễn xướng, thời gian diễn xướng, lời ca, âm nhạc, trang phục). Về bài bản, tác giả chọn lọc các bài bản tiêu biểu trong hơn 25 bài bản đang thịnh hành để phân tích minh họa, không đi sâu phân tích toàn bộ từng bài một.
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Diễn xướng Ca Huế hình thành và phát triển trong lịch sử như thế nào?
- Những thành tố chính của diễn xướng Ca Huế truyền thống là gì? Đặc trưng chính của diễn xướng Ca Huế giai đoạn này?
- Sự biến đổi của diễn xướng Ca Huế trong bối cảnh hiện nay ra sao? Những vấn đề gì đặt ra từ sự thay đổi đó?
- Giả thuyết nghiên cứu: Diễn xướng Ca Huế được hình thành và phát triển phù hợp với các giai đoạn lịch sử và bối cảnh văn hóa - xã hội khác nhau. Thời kỳ phong kiến, yếu tố cung đình, thính phòng mang tính nổi trội. Sau năm 1945 và đặc biệt từ thời kỳ Đổi mới đến nay, điều kiện văn hóa - xã hội thay đổi khiến tính cung đình, thính phòng suy giảm; diễn xướng Ca Huế tìm kiếm chỗ đứng và phương thức trình diễn mới nhằm phục vụ nhiều mục đích và đối tượng khác nhau, từ đó tiếp tục thích nghi, tồn tại và phát triển.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu liên quan theo bốn nhóm nội dung chính:
Các công trình về cách tiếp cận nghiên cứu văn hóa dân gian
Tác giả điểm lại sự phát triển của thuật ngữ folklore từ W. Thoms (1846) và ba trường phái nghiên cứu lớn (Anh - Mỹ chịu ảnh hưởng nhân học, Tây Âu chịu ảnh hưởng xã hội học, Nga chịu ảnh hưởng ngữ văn học) qua tổng kết của Ngô Đức Thịnh. Công trình Nghiên cứu folklore Mỹ của Jan Harold Brunvand (1968, 1985) cung cấp nền tảng về tính chỉnh thể nguyên hợp của tác phẩm văn hóa dân gian. Tại Việt Nam, công trình Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian (1989) của Đinh Gia Khánh được xem là mốc đặt nền móng với việc giới thuyết khái niệm văn hóa dân gian, nhấn mạnh tính nguyên hợp và các thành tố nghệ thuật tạo hình, biểu diễn, ngữ văn dân gian. Tác giả cũng viện dẫn quan điểm của Tô Đông Hải về mối liên hệ không thể tách rời giữa âm nhạc dân gian và sinh hoạt văn hóa tộc người, cùng luận điểm của Nguyễn Xuân Kính về mối quan hệ giữa lời ca và giai điệu trong tác phẩm dân gian.
Các công trình nghiên cứu diễn xướng Ca Huế truyền thống
- Nguồn gốc và thời điểm hình thành: Ưng Bình Thúc Giạ Thị trong Bán buồn mua vui (1942) và Thái Văn Kiểm trong Cố đô Huế cho rằng Ca Huế khởi điểm từ thời chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (cuối thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XVIII). Lê Văn Hảo xác định thời kỳ hình thành từ cuối thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII tại đô thành Phú Xuân. Tô Vũ khẳng định gốc gác Ca Huế hình thành từ cội nguồn nhạc Bắc theo bước chân mở cõi, thể hiện qua các "bản Bắc" (hay "bản Ngự"). Trần Văn Khê trong bài viết Lối ca Huế và lối nhạc Tài tử (1961) và các nghiên cứu khác xếp Ca Huế vào loại "quan nhạc", "cung trung nhạc" xuất phát từ cung thất hoàng gia rồi mới lan tỏa ra dân gian.
- Phương diện âm nhạc và bài bản: Hoàng Yến (1919) trên tập san Bulletin des Amis du Vieux Hué (BAVH) khảo cứu về Đờn Nguyệt, Đờn Tranh và ký âm Hán Nôm các bài bản cổ; Le Bris (1922, BAVH) chuyển lòng bản các bài bản của Hoàng Yến sang hệ thống ký âm năm dòng kẻ phương Tây; Nguyễn Trung Phán và Nguyễn Trung Nghệ (1925) xuất bản cuốn Dạy hát tiếng Nam hướng dẫn 31 điệu hát Ca Huế; Trần Văn Khê (1961) chỉ ra 3 ưu điểm (rao/dạo, nhấn, cách hòa đờn) và 4 nhược điểm (bài bản ít hay lặp điệu, chép nhạc không khoa học, lý thuyết yếu, nhạc khí thô sơ); Văn Lang (1993) trong cuốn Ca Huế và Ca Kịch Huế; Dương Bích Hà khảo cứu về điệu thức (Bắc, Nam, Nam xuân) và cấu trúc làn điệu trong cuốn Lý Huế; các công trình của Nguyễn Đình Sáng và Nguyễn Thị Kim Liên (2012) nghiên cứu mối quan hệ giữa Ca Huế và dân ca Bình Trị Thiên.
- Hiện tượng giao thoa và tiếp biến văn hóa: Đông Châu (1919) trên tạp chí Nam Phong ghi nhận thuật ngữ "Ca lý", "Lý kinh"; Tô Ngọc Thanh phân tích quá trình bác học hóa, chuyên nghiệp hóa văn hóa dân gian để phục vụ cung đình; Nguyễn Thụy Loan trong Lược sử âm nhạc Việt Nam phân tích vai trò của Viện giáo phường thời Nguyễn, trường hợp nghệ nhân Ba Đội chuyển bản Tứ đại cảnh thành Tứ đại oán, cũng như mối quan hệ kế thừa giữa hát Ả đào và Ca Huế; Thái Văn Kiểm (1960) đề cập ảnh hưởng Chiêm Thành trong điệu Nam; trong khi Văn Cao (1956) và Văn Lang (1984) thận trọng hơn khi xem xét ảnh hưởng của âm nhạc Chămpa đối với Ca Huế.
Các công trình nghiên cứu sự biến đổi của diễn xướng Ca Huế
- Lê Anh Tuấn đề xuất giải pháp đào tạo và truyền nghề thông qua nghệ nhân; Nguyễn Hữu Thông phân tích sự cách ly môi trường biểu diễn của giới trẻ và đề xuất tái hiện không gian thính phòng dạng phim trường; Hoàng Thị Mộng Liên (2012) khảo cứu hình thức Ca Huế trên sông Hương - từ góc nhìn văn hóa du lịch; Bùi Ngọc Phúc (2013) thực hiện đề tài cấp Bộ về bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Ca Huế.
- Hội thảo khoa học quốc gia Ca Huế - Giá trị, định hướng bảo tồn và phát huy do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thừa Thiên - Huế tổ chức ngày 22/9/2015 sau khi Ca Huế được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 1877/QĐ-BVHTTDL ngày 08/06/2015.
- Các khảo sát thực tế về việc giải thể Trung tâm Quản lý và Tổ chức biểu diễn Ca Huế vào cuối năm 2018, dẫn đến tình trạng buông lỏng kiểm soát chương trình biểu diễn trên thuyền rồng sông Hương.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Phần lớn các công trình đi trước nghiên cứu Ca Huế ở trạng thái tĩnh, tách rời âm nhạc khỏi môi trường diễn xướng tổng thể, hoặc chỉ tập trung vào phân tích âm nhạc học thuần túy. Luận án lựa chọn lấp đầy khoảng trống này bằng cách xem xét diễn xướng Ca Huế trong trạng thái vận động ("động"), làm rõ tính chất nguyên hợp dân gian kết hợp tính bác học cung đình, phân tích các biến đổi của từng thành tố trong bối cảnh đương đại và đề xuất các luận giải bảo tồn mang tính thực tiễn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Các lý thuyết vận dụng
- Lý thuyết nghệ thuật trình diễn (Performance Theory): Vận dụng quan điểm của Roberts Georges, Kenneth Goldstein (1975) và Richard Bauman (1977), kết hợp nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thu. Lý thuyết này xem văn hóa dân gian là một tiến trình giao tiếp động, nghiên cứu tác phẩm trong chính bối cảnh thực hành cụ thể thông qua mối tương tác giữa người thực hành, thính giả, không gian, thời gian và phương thức diễn ngôn.
- Lý thuyết biến đổi văn hóa (Cultural Change Theory): Dựa trên nền tảng lý thuyết biến đổi xã hội và biến đổi văn hóa (từ thuyết tiến hóa của E. Morgan, thuyết truyền bá của G. Smith, thuyết tiếp biến của R. Redfield và L. Broom) cùng các nghiên cứu thực tế tại Việt Nam của Lê Hồng Lý, Đỗ Lan Phương, Lương Hồng Quang, Nguyễn Thị Phương Châm. Lý thuyết giúp nhận diện quy luật chuyển dịch, biến đổi của các thành tố Ca Huế dưới tác động của kinh tế thị trường, đô thị hóa và du lịch.
- Lý thuyết vùng văn hóa (Cultural Area Theory): Bắt nguồn từ khái niệm văn hóa quyển (kulturkreis) của Wilhelm Schmidt (1924), phát triển qua Alfred L. Kroeber, Clark Wissler và các học giả Xô Viết, được Ngô Đức Thịnh vận dụng phân chia 7 vùng văn hóa và 37 tiểu vùng văn hóa tại Việt Nam. Luận án đặt Ca Huế vào tiểu vùng văn hóa xứ Huế với các đặc trưng về sinh thái (núi, gò đồi, đồng bằng, đầm phá - ven biển), văn hóa chính trị kinh kỳ, văn hóa vật thể (nhà vườn, cung phủ) và văn hóa phi vật thể.
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| KHUNG LÝ THUYẾT VẬN DỤNG |
+------------------------------------+----------------------------------------------+
| Lý thuyết nghệ thuật trình diễn | Phân tích Ca Huế như một tiến trình giao |
| (Bauman, Georges, Goldstein) | tiếp động, gắn với bối cảnh và chủ thể |
+------------------------------------+----------------------------------------------+
| Lý thuyết biến đổi văn hóa | Giải thích sự thích ứng, thay đổi thành tố |
| (Redfield, Broom, Đỗ Lan Phương) | trước tác động của hiện đại hóa và du lịch |
+------------------------------------+----------------------------------------------+
| Lý thuyết vùng văn hóa | Định vị Ca Huế trong không gian sinh thái - |
| (Schmidt, Kroeber, Ngô Đức Thịnh) | nhân văn của tiểu vùng văn hóa xứ Huế |
+------------------------------------+----------------------------------------------+
Các khái niệm cơ bản
Luận án xác lập nội hàm các thuật ngữ then chốt: Diễn xướng (dựa trên quan điểm của Lê Trung Vũ, Vũ Ngọc Khánh, Tô Ngọc Thanh, Kiều Trung Sơn); Ca Huế (phân biệt với dân ca hò, lý; khẳng định tính chất thể loại thính phòng kết hợp giữa cung đình bác học và dân gian); Truyền thống (sự kế thừa các giá trị xã hội qua các thế hệ); Biến đổi (sự thay đổi trạng thái, cấu trúc để thích nghi); Âm nhạc dân gian, Âm nhạc bác học, Âm nhạc cung đình (gồm đại nhạc, tiểu nhạc, miếu nhạc, giao nhạc, cung nhạc, yến nhạc...), Âm nhạc thính phòng.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu thứ cấp: Xử lý văn bản lịch sử, sử liệu triều Nguyễn, các bản ký âm cổ và các công trình nghiên cứu đi trước.
- Phương pháp điền dã, quan sát tham dự: Khảo sát trực tiếp tại các tụ điểm biểu diễn Ca Huế thính phòng, câu lạc bộ và các thuyền rồng trên sông Hương.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện 33 cuộc phỏng vấn sâu đối với các nghệ nhân lão thành, nghệ sĩ biểu diễn, nhà nghiên cứu văn hóa và cán bộ quản lý văn hóa tại Thừa Thiên - Huế.
- Phương pháp thống kê: Thu thập và xử lý số liệu về số lượng diễn viên, nhạc công, thuyền biểu diễn, chương trình biểu diễn và hoạt động kinh doanh dịch vụ Ca Huế.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu giữa diễn xướng Ca Huế truyền thống và diễn xướng Ca Huế đương đại để làm rõ các chiều kích biến đổi.
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| HỆ THỐNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU |
+------------------------------------+----------------------------------------------+
| Phương pháp | Quy mô / Nguồn tư liệu thực hiện |
+------------------------------------+----------------------------------------------+
| Phân tích tài liệu thứ cấp | Thư tịch Hán Nôm, BAVH, sách báo trước 1945 |
| Quan sát tham dự | Điền dã tại không gian thính phòng và sông |
| Phỏng vấn sâu | 33 cuộc phỏng vấn nghệ nhân, chuyên gia, QLVH|
| Thống kê xã hội học văn hóa | Dữ liệu diễn viên, thuyền rồng, bài bản diễn |
| So sánh đối chiếu | Đối sánh thành tố truyền thống và hiện đại |
+------------------------------------+----------------------------------------------+
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về diễn xướng Ca Huế
Chương này dành 48 trang để thiết lập cơ sở lý thuyết, điểm luận tư liệu và phác thảo diện mạo lịch sử của Ca Huế:
- Lịch sử hình thành và phát triển: Xác định Ca Huế ra đời trong khoảng thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XVIII dưới thời các chúa Nguyễn tại xứ Đàng Trong (khởi sắc từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu). Nguồn gốc thể loại bắt nguồn từ Tế nhạc cung đình (các bài bản như Long ngâm, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, 10 bài liên hoàn) kết hợp với các sáng tác mới của giới quý tộc, quan lại và các làn điệu dân gian. Giai đoạn cực thịnh diễn ra vào thế kỷ XIX (đặc biệt dưới triều vua Tự Đức, 1847 - 1883) đến trước năm 1885. Năm 1863, ghi nhận tập bài bản khuyết danh gồm 25 tác phẩm (10 bài có lời ca và 15 bản hòa tấu không lời như Lưu thủy, Kim tiền, Xuân phong, Hồ quảng, Nam xuân).
- Hệ thống bài bản và điệu thức: Tổng hợp toàn bộ di sản Ca Huế gồm 31 bài bản, trong đó 25 bài bản hiện vẫn được thực hành và 6 bài bản chỉ còn ký âm bằng chữ Hán chưa được phục dựng. Cấu trúc 25 bài bản đang lưu hành gồm:
- 13 bài thuộc điệu Bắc (tính chất vui tươi, trang nghiêm, đĩnh đạc).
- 5 bài thuộc điệu Nam (tính chất buồn, sâu lắng, ai oán).
- 5 bài thuộc điệu Nam xuân (mang tính lưỡng tính, trung dung giữa vui và buồn).
- 2 bài ca theo hơi dựng (sắc thái trung gian giữa Bắc và Nam).
- Hệ thống hơi và thang âm: Điệu Bắc gồm 4 hơi (hơi quảng, hơi đảo, hơi thiền, hơi nhạc); điệu Nam gồm 4 hơi (hơi xuân, hơi thương, hơi ai, hơi oán).
- Yếu tố văn hóa dân gian: Phân tích sự thâm nhập của các điệu Hò và Lý Huế vào cấu trúc diễn xướng Ca Huế, tạo nên tính chất chuyển tiếp tự nhiên giữa tính bác học và tính dân gian.
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| CẤU TRÚC HỆ THỐNG BÀI BẢN CA HUẾ (31 BÀI) |
+----------------------+-----------+------------------------------------------------+
| Nhóm bài bản | Số lượng | Đặc điểm tính chất / Tình trạng |
+----------------------+-----------+------------------------------------------------+
| Điệu Bắc | 13 bài | Vui tươi, đĩnh đạc, trang trọng |
| Điệu Nam | 05 bài | Buồn, bi thương, da diết |
| Điệu Nam xuân | 05 bài | Lưỡng tính, vừa vui vừa buồn |
| Hơi dựng | 02 bài | Sắc thái trung gian chuyển tiếp |
| Bản cổ chữ Hán | 06 bài | Còn bản ký âm Hán tự, chưa phục dựng |
+----------------------+-----------+------------------------------------------------+
| Tổng cộng | 31 bài | 25 bài bản lưu hành + 6 bài bản chưa phục dựng |
+----------------------+-----------+------------------------------------------------+
Chương 2: Diễn xướng Ca Huế truyền thống
Chương 2 (33 trang) phân tích toàn diện các thành tố cấu thành diễn xướng Ca Huế trong lịch sử dưới góc độ một chỉnh thể nguyên hợp:
- Bối cảnh lịch sử - văn hóa - xã hội: Gắn liền với thiết chế quân chủ, đời sống sinh hoạt tao nhã của tầng lớp quý tộc, hoàng thân quốc thích và giới trí thức nho học tại kinh đô Huế.
- Chủ thể sáng tạo và thực hành: Người sáng tác là các ông hoàng, bà chúa, văn nhân, thi sĩ và các nhạc công cung đình tài hoa. Người biểu diễn gồm các nghệ nhân, ca nhi được đào tạo bài bản, nghiêm ngặt về kỹ thuật phát âm, nhả chữ, luyến láy và các nhạc công am hiểu sâu sắc về nghệ thuật hòa đàn. Khán giả là giới tri âm tri kỷ, có trình độ thưởng thức văn học và âm nhạc cao.
- Chủ đề phản ánh: Thể hiện tâm tư, tình cảm thế thái nhân tình, cảnh sắc thiên nhiên xứ Huế, lòng trung quân ái quốc, nỗi niềm hoài cổ hoặc các chủ đề giao duyên mang tính văn học bác học.
- Thời gian và môi trường diễn xướng: Diễn ra vào ban đêm, trong không gian thính phòng tĩnh mịch của các tư dinh, phủ đệ, nhà vườn hoặc trên thuyền trôi nhẹ giữa dòng sông Hương. Không gian nhỏ hẹp tạo điều kiện cho sự cộng cảm tối đa giữa người đàn, người hát và người nghe.
- Ngôn ngữ, lời ca và âm nhạc: Lời ca sử dụng chữ Hán và chữ Nôm giàu tính văn học, niêm luật chặt chẽ. Kỹ thuật hát đòi hỏi phát âm chuẩn giọng Huế gốc, khép mở vành môi tinh tế, sử dụng giọng cổ và giọng óc điêu luyện. Biên chế dàn nhạc gồm các nhạc khí truyền thống như đàn Nguyệt, đàn Tranh, đàn Tỳ bà, đàn Nhị, đàn Tam (ngũ tuyệt) kết hợp phách con.
- Trang phục: Ca nhi và nhạc công mặc trang phục áo dài truyền thống, khăn đóng nghiêm trang, thể hiện phong thái tao nhã của người xứ kinh kỳ.
Chương 3: Diễn xướng Ca Huế hiện nay và những vấn đề đặt ra
Chương 3 (42 trang) làm rõ bức tranh biến đổi của diễn xướng Ca Huế đương đại và các thách thức quản lý:
- Các phương diện biến đổi:
- Chủ thể thực hành: Lực lượng diễn viên, nhạc công trẻ hóa nhưng trình độ chuyên môn không đồng đều; nhiều người chỉ học đối phó một vài bài bản để lấy giấy phép hành nghề. Đội ngũ nghệ nhân lão thành nắm giữ bài bản cổ ngày càng thưa vắng.
- Môi trường và thời gian diễn xướng: Không gian thính phòng tri âm bị thu hẹp; hình thức biểu diễn chủ yếu chuyển dịch sang thuyền rồng phục vụ khách du lịch trên sông Hương hoặc sân khấu sự kiện. Thời lượng buổi diễn bị cắt ngắn để khớp với lịch trình tour du lịch (thường chỉ kéo dài 45 - 60 phút).
- Âm nhạc và bài bản: Tốc độ biểu diễn bị đẩy nhanh, làm mất đi nét khoan thai, tinh tế vốn có; dàn nhạc bị thu hẹp, thiếu các nhạc cụ chủ lực; xuất hiện tình trạng xen ghép tân nhạc, dân ca cải biên thiếu chuẩn mực; các bài bản cổ thuộc điệu Nam và Nam xuân ít được trình diễn.
- Trang phục và phong cách biểu diễn: Xuất hiện sự cách tân trang phục chưa phù hợp với tính chất trang nhã truyền thống; phong cách giao lưu mang tính thương mại hóa.
- Những vấn đề đặt ra và các nhóm giải pháp:
- Vấn đề bảo tồn di sản: Ngăn chặn tình trạng biến dạng bản sắc; bảo tồn nguyên trạng các bài bản cổ; phục dựng 6 bài bản chữ Hán còn lưu trữ.
- Vấn đề phát huy trong đời sống đương đại: Tổ chức các không gian biểu diễn thính phòng mẫu mực, xây dựng mô hình tái hiện diễn xướng truyền thống dạng phim trường phục vụ du lịch cao cấp.
- Chủ thể và truyền dạy: Tăng cường chế độ đãi ngộ cho nghệ nhân; đẩy mạnh hoạt động truyền nghề trực tiếp tại các câu lạc bộ và gia đình; chuẩn hóa khung chương trình giảng dạy Ca Huế trong các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp như Học viện Âm nhạc Huế.
- Quản lý nhà nước: Khắc phục khoảng trống quản lý sau khi Trung tâm Quản lý và Tổ chức biểu diễn Ca Huế giải thể vào cuối năm 2018; siết chặt quy trình thẩm định cấp phép, kiểm tra nội dung và chất lượng biểu diễn của các doanh nghiệp thuyền rồng trên sông Hương.
- Giáo dục di sản và công chúng: Đưa Ca Huế vào chương trình giáo dục ngoại khóa tại các trường học trên địa bàn Thừa Thiên - Huế nhằm xây dựng tầng lớp khán giả trẻ am hiểu di sản.
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| SO SÁNH CÁC THÀNH TỐ DIỄN XƯỚNG CA HUẾ TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN NAY |
+--------------------+------------------------------+-------------------------------+
| Thành tố | Diễn xướng truyền thống | Diễn xướng đương đại |
+--------------------+------------------------------+-------------------------------+
| Không gian | Phủ đệ, nhà vườn, thính phòng| Thuyền du lịch, sân khấu lớn |
| Khán giả | Giới trí thức, tri âm tri kỷ | Du khách đại chúng |
| Thời lượng | Kéo dài trọn đêm, tùy hứng | Cố định theo tour (45-60 phút)|
| Dàn nhạc | Đầy đủ biên chế ngũ tuyệt | Rút gọn, mỏng và thiếu nhạc cụ|
| Nhịp độ diễn tấu | Chậm rãi, khoan thai, trau | Bị đẩy nhanh, rút bớt luyến |
| | chuốt luyến láy | láy để chạy theo thời lượng |
| Quản lý biểu diễn | Tự nguyện theo chuẩn mực | Thả nổi sau giải thể Trung |
| | nghiêm ngặt của giới nhà nghề| tâm quản lý (cuối năm 2018) |
+--------------------+------------------------------+-------------------------------+
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về nghệ thuật diễn xướng dân gian áp dụng cho một thể loại nhạc thính phòng đặc thù của Việt Nam.
- Khẳng định tính chỉnh thể nguyên hợp của Ca Huế từ góc nhìn chuyên ngành Văn hóa dân gian, chỉ ra cơ chế tương tác đa chiều giữa lời ca, âm nhạc, môi trường, thời gian và chủ thể thực hành.
- Phân tích và làm sáng tỏ quy luật vận động mang tính biện chứng: Ca Huế không bất biến ở trạng thái "tĩnh" mà luôn vận động ở trạng thái "động" để thích ứng với sự thay đổi của bối cảnh kinh tế - xã hội.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp nguồn tư liệu điền dã hệ thống và 33 cuộc phỏng vấn sâu phản ánh thực trạng diễn xướng Ca Huế tại Thừa Thiên - Huế trong giai đoạn 10 năm đầu thế kỷ XXI.
- Chỉ rõ các bất cập trong quản lý hoạt động biểu diễn Ca Huế trên sông Hương, đặc biệt là khoảng trống kiểm soát sau khi Trung tâm Quản lý và Tổ chức biểu diễn Ca Huế giải thể năm 2018.
- Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác xây dựng hồ sơ đệ trình UNESCO xem xét công nhận Ca Huế là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, đồng thời định hướng bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 1877/QĐ-BVHTTDL.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Xây dựng không gian biểu diễn Ca Huế thính phòng chuẩn mực kết hợp bảo tồn tại gia đình các nghệ nhân.
- Tái cấu trúc cơ chế giám sát biểu diễn Ca Huế trên sông Hương, quy định rõ số lượng diễn viên, cơ cấu nhạc cụ và danh mục bài bản của từng nhóm biểu diễn trước khi xuất bến.
- Tổ chức sưu tầm, giải mã và phục dựng 6 bài bản cổ còn lưu ký âm chữ Hán.
- Đẩy mạnh công tác truyền dạy qua nghệ nhân và đưa giáo dục di sản Ca Huế vào hệ thống trường học địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án không đi sâu phân tích cấu trúc âm nhạc chi tiết của toàn bộ 25 bài bản đang lưu hành mà chỉ trích đoạn ký âm minh họa cho các đặc trưng tiêu biểu; phạm vi khảo sát hiện trạng đương đại chủ yếu giới hạn trong mốc thời gian 10 năm trước thời điểm hoàn thành luận án.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu giải mã và thử nghiệm phục dựng hoàn chỉnh 6 bài bản Ca Huế cổ còn ký âm bằng chữ Hán Nôm theo tư liệu của Hoàng Yến (1919).
- Khảo sát chuyên sâu mối quan hệ tiếp biến liên vùng giữa Ca Huế với Đờn ca tài tử Nam Bộ và Ca trù Bắc Bộ trên bình diện cấu trúc âm nhạc và phương thức trình diễn.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên: Chuyên ngành Văn hóa dân gian, Văn hóa học, Âm nhạc học và Nhân học văn hóa có thể sử dụng khung phân tích chỉnh thể nguyên hợp và tư liệu lịch sử của luận án làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu.
- Cơ sở đào tạo nghệ thuật: Các trường nghệ thuật, đặc biệt là Học viện Âm nhạc Huế, có thể tham khảo phần khảo cứu bài bản, thang âm, kỹ thuật ca hát và trang phục truyền thống để chuẩn hóa giáo trình đào tạo diễn viên, nhạc công.
- Cơ quan quản lý nhà nước: Sở Văn hóa và Thể thao Thừa Thiên - Huế, Cục Di sản Văn hóa và các nhà hoạch định chính sách có thể vận dụng các giải pháp quản lý thực địa nhằm chấn chỉnh dịch vụ Ca Huế trên sông Hương và xây dựng hồ sơ đệ trình UNESCO.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Khung lý thuyết phân tích chỉnh thể nguyên hợp (Chương 1); Phân tích các thành tố diễn xướng truyền thống (Chương 2); Báo cáo hiện trạng và kiến nghị quản lý biểu diễn Ca Huế đương đại (Chương 3).
Câu hỏi thường gặp
1. Ca Huế hình thành vào thời gian nào và xuất phát từ môi trường nào?
Theo các sử liệu và nhận định của Ưng Bình Thúc Giạ Thị, Thái Văn Kiểm, Lê Văn Hảo, Ca Huế hình thành trong khoảng từ cuối thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII, khởi sắc dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu tại thủ phủ Phú Xuân. Về nguồn gốc, Ca Huế bắt nguồn từ Tế nhạc cung đình nhà Nguyễn (như các bài Long ngâm, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, 10 bài liên hoàn) và "cung trung nhạc", sau đó hòa quyện với dòng âm nhạc dân gian (Hò và Lý Huế) để hình thành thể loại thính phòng đặc trưng.
2. Hệ thống bài bản của Ca Huế gồm bao nhiêu bài và phân chia theo các điệu thức nào?
Tổng số bài bản Ca Huế gồm 31 bài bản, trong đó có 25 bài bản hiện đang được sử dụng và 6 bài bản cổ còn ký âm chữ Hán chưa phục dựng. Trong 25 bài bản đang lưu hành:
- Điệu Bắc có 13 bài (tính chất vui tươi, trang nghiêm).
- Điệu Nam có 5 bài (tính chất buồn, sâu lắng).
- Điệu Nam xuân có 5 bài (tính chất lưỡng tính, trung dung giữa vui và buồn).
- 2 bài được ca theo hơi dựng (sắc thái trung gian giữa Bắc và Nam).
3. GS. Trần Văn Khê đã chỉ ra những ưu điểm và nhược điểm nào của nghệ thuật đàn và ca Huế?
Năm 1961, trên Tạp chí Bách Khoa Sài Gòn (số 101), GS. Trần Văn Khê nêu rõ:
- 3 ưu điểm cần phát huy: Rao hay dạo; Nhấn; Cách hòa đờn.
- 4 nhược điểm: Bài bản ít lại hay lặp điệu; Cách chép nhạc không khoa học; Phần lý thuyết rất yếu; Nhạc khí thì thô sơ.
4. Giả thuyết nghiên cứu chính của luận án là gì?
Luận án giả thuyết rằng diễn xướng Ca Huế hình thành và phát triển tương thích với từng bối cảnh lịch sử: thời phong kiến mang đậm tính cung đình, thính phòng bác học; sau năm 1945 và đặc biệt từ thời kỳ Đổi mới, trước sự biến đổi văn hóa - xã hội, tính cung đình thính phòng suy giảm, Ca Huế chuyển dịch phương thức trình diễn phục vụ đại chúng và du lịch nhằm thích ứng, tiếp tục tồn tại và phát triển.
5. Sự kiện quản lý nào vào cuối năm 2018 đã tác động trực tiếp đến thực trạng Ca Huế trên sông Hương?
Vào cuối năm 2018, Trung tâm Quản lý và Tổ chức biểu diễn Ca Huế bị giải thể. Trước đó, trung tâm này chịu trách nhiệm giám sát, tiếp nhận báo cáo về danh mục bài bản, số lượng diễn viên, nhạc công, trưởng nhóm và số hiệu thuyền trước khi xuất bến. Việc giải thể này đã để lại khoảng trống quản lý, khiến hoạt động biểu diễn Ca Huế trên sông Hương trở nên lộn xộn, thiếu sự kiểm soát chuyên môn.
Kết luận
Luận án Diễn xướng Ca Huế - Truyền thống và biến đổi của Nguyễn Thị Việt Hà đã làm sáng tỏ diện mạo Ca Huế từ lịch sử đến hiện tại dưới góc nhìn chuyên ngành Văn hóa dân gian. Bằng việc vận dụng lý thuyết nghệ thuật trình diễn, biến đổi văn hóa và vùng văn hóa, công trình đã phân tích Ca Huế như một hiện tượng văn hóa mang tính chỉnh thể nguyên hợp trong không gian văn hóa xứ Huế. Luận án ghi nhận giá trị nghệ thuật của 25 bài bản truyền thống, đồng thời chỉ ra các biến đổi về chủ thể, môi trường, thời lượng và âm nhạc trong bối cảnh du lịch đương đại. Đây là tài liệu khoa học hữu ích phục vụ công tác đào tạo chuyên ngành và hoạch định chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể.