CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Văn hóa và các khái niệm liên quan 1. Văn hóa Văn hóa liên quan mật thiết với đời sống của con người. Thế nhưng, những nghiên cứu về văn hóa chỉ được quan tâm có thể thấy được bắt đầu ở thế kỷ XX.
Định nghĩa về văn hóa, tính đến nay số lượng đã có hàng trăm. Tùy theo trường phái cũng như cách tiếp cận mà các học giả đã đưa ra các định nghĩa vô cùng phong phú. Điều đó cho thấy văn hóa luôn luôn “động” và “mở”, không có định nghĩa nào có thể dung chứa được hết nội hàm của khái niệm này. Tuy nhiên, có thể kể ra một số định nghĩa về văn hóa mà trong giới học thuật thường sử dụng, như: E.B Tylor đề cập trong tác phẩm Văn hóa nguyên thủy (1871): “Văn hóa hay văn minh theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách thành viên của xã hội” [76: tr.
Đây là định nghĩa văn hóa đầu tiên. Theo định nghĩa này thì văn hóa vật chất bị đẩy ra khỏi khái niệm văn hóa, chưa phân biệt rõ văn hóa với văn minh và định nghĩa này hướng vào việc mô tả cho nên tính khái quát sẽ không cao và cũng không thể liệt kê đầy đủ các yếu tố cần có. Tuy nhiên đây là một trong những định nghĩa mang tính phổ quát, là cơ sở để phát triển cho những định nghĩa về sau. Điều thấy được ở định nghĩa này là E.B Tylor đã xác định rõ nghệ thuật là một thành tố của văn hóa.
Tổ chức UNESCO đưa ra định nghĩa về Văn hóa: Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống (mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá 12 trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống, mà dựa trên đó, từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình [dẫn theo 17: tr.39] Ở định nghĩa này ta thấy tổ chức UNESCO theo hướng định nghĩa nêu đặc trưng, có khuynh hướng xem văn hóa là những sản phẩm. Chúng tôi đã có kế thừa định nghĩa này để giải quyết các vấn đề giá trị, thẩm mỹ, bản sắc của âm nhạc. Ở Việt Nam, trong giới Văn hóa học cũng có rất nhiều định nghĩa về văn hóa: Tác giả Trần Ngọc Thêm trong quyển Những vấn đề Văn hóa học Lý luận và Ứng dụng xuất bản năm 2013, định nghĩa văn hóa đã được tác giả bổ sung hoàn chỉnh như sau: “Văn hóa là một hệ thống giá trị mang tính biểu tượng do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [48: tr. Ở định nghĩa này chúng tôi đã có thêm khái niệm âm nhạc (là thành tố của văn hóa) là một hệ thống giá trị.
Và đồng thời thấy được quá trình sáng tạo của nhạc sĩ cũng không đi ra ngoài qui luật chung của văn hóa. Khái niệm Giá trị văn hóa Giá trị (value) là một khái niệm của nhiều bộ môn khoa học khác nhau Toán học, Kinh tế học, Triết học, Xã hội học, Nghệ thuật học, Văn hóa học… Ở mỗi bộ môn khái niệm giá trị sẽ mang hàm nghĩa khác nhau.Ficheter, một nhà xã hội học người Mỹ đã đưa ra định nghĩa về giá trị như sau: “Theo cách mô tả chúng ta có thể nói rằng, tất cả những gì có lợi ích, đáng ham chuộng hoặc đáng kính phục đối với con người hoặc nhóm, đều là “có một giá trị”1 [dẫn theo 49: tr. Đã nói đến khái niệm văn hóa thì không thể tách rời các khái niệm giá trị. Quan niệm coi văn hóa là giá trị thuộc khuynh hướng xem văn hóa là những sản phẩm.
Tính giá trị là một đặc trưng quan trọng của văn hóa. Tính giá trị cần có trong nghiên cứu văn hóa để nhằm phân biệt giữa giá trị với phi giá trị. Tác giả Ngô Đức Thịnh đã đưa ra khái niệm giá trị như sau: Giá trị, trước nhất là hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của con người về tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng những cái gì là cần, là tốt, là hay, là đẹp, nói cách khác đó chính là những cái được con người cho là chân, thiện, mỹ, giúp khẳng định và nâng cao bản chất người. Do vậy, giá trị văn hoá 1 Ngô Đức Thịnh (2010), Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập, Nxb.
Khoa học và xã hội 13 nói ở đây là giá trị xã hội, nó gắn bó mật thiết với hoạt động sống của con người, sự tồn tại và phát triển của mỗi xã hội [88]. Xem xét sự vật dưới góc độ bản sắc khi ta muốn nói đến cái đặc thù, cái căn cước của một nền văn hóa, một dân tộc. Khi xem xét sự vật dưới góc độ giá trị là ta muốn nói đến tính hữu ích, tính đáp ứng của bản sắc văn hóa với nhu cầu của xã hội. Sản phẩm do con người tạo ra đều hướng đến lợi ích thiết thực nào đó; nhưng lợi ích đó không thể đi trái với lợi ích cộng đồng, không đi ngược lại với xu thế phát triển của xã hội loài người thì khi ấy những sản phẩm đó mới được xem như có Tính giá trị.
Cũng chính từ đó mà ta xác định được tính chất của các hiện tượng trong đời sống sẽ thuộc văn hóa hay phi văn hóa. Dù với khái niệm nào thì giá trị vẫn bao hàm các nghĩa là cái nhu cầu, cái ao ước, cái có ích… Cái giá trị văn hóa hướng đến sự thỏa mãn cho khát vọng của cộng đồng vươn tới chân – thiện – mỹ. Với khái niệm giá trị đã cung cấp công cụ khảo sát và đánh giá ca khúc cách mạng một cách hiệu quả. Từ đây, có thể tổng kết được những giá trị mà ca khúc cách mạng mang lại cho cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước và cũng thấy được giá trị mang đến cho nền văn hóa âm nhạc.
Mỹ học tiếp nhận và vấn đề liên quan đến âm nhạc Nghiên cứu tiếp nhận của trường phái Mỹ học tiếp nhận Konstanz giữa những năm 60 của thế kỷ XX ở Cộng hòa liên bang Đức với tư tưởng cho rằng, vấn đề chính của sáng tác nghệ thuật không phải là do cấu trúc tinh vi, phức tạp như thế nào, mà quan trọng nhất là người thưởng ngoạn tác phẩm đó đã tiếp nhận nó ra sao. Có thể xem đây là một quan điểm chủ đạo của trường phái Mỹ học tiếp nhận của Đức. Theo đó, các nhà Mỹ học tiếp nhận cho rằng: lịch sử nghệ thuật không chỉ bao gồm lịch sử sáng tác mà còn phải bao gồm lịch sử tiếp nhận. Mỹ học tiếp nhận đã mở ra một hướng nhìn, một lối đi mới cho Mỹ học sáng tạo và đồng thời nó góp phần lớn vào việc xây dựng nền Mỹ học hiện đại.
Có quan điểm cho rằng mối liên hệ giữa nghệ sĩ và công chúng chỉ một chiều (sơ đồ 1. Tức là người nghệ sĩ chỉ làm nên tác phẩm và tác phẩm đó có đi đến công chúng với những hiệu ứng như thế nào đi nữa thì cũng không tác động trực tiếp trở lại người sáng tạo. Nhưng với quan điểm của Mỹ học tiếp nhận thì tác phẩm và nghệ sĩ phải chịu sự tác động theo hướng ngược lại từ công chúng, thậm chí còn là sự tác động quyết định. Từ đó đã hình thành nên chức năng giao tiếp trong Mỹ học tiếp nhận.1: Mối liên hệ giữa các thành tố trong cấu trúc tiếp nhận nghệ thuật Công chúng không chỉ đóng vai trò thụ động trong việc cảm thụ mà họ sẽ phản hồi tích cực và tác động đến tác phẩm đang thưởng thức dưới nhiều hình thức.
Qua tác động của công chúng đến tác phẩm mà người nghệ sĩ sẽ có những điều chỉnh, định hướng trong sáng tác nhằm phù hợp với thực tế sinh động mà công chúng luôn đặt ra yêu cầu đối với người sáng tác. Trong Mỹ học tiếp nhận, công chúng đóng vai trò quan trọng, trung tâm và tác động ngược lại tích cực đối với quá trình sáng tạo. Với quan điểm này, sáng tạo và tiếp nhận luôn gắn liền nhau, công chúng đã phát huy tính tích cực của mình trong quá trình sáng tạo và cảm thụ nghệ thuật. Công chúng phải bao gồm: biên tập viên các báo, đài; giám đốc nhà xuất bản; nhà phê bình; người thưởng thức.
Với chiều hướng tác động ngược lại một cách tích cực, rõ ràng muốn nâng cao trình độ tác phẩm thì phải nâng cao trình độ công chúng. Công chúng sẽ đánh giá và định hướng tác phẩm, là thành tố quan trọng trong tiến trình nghệ thuật. Nhìn trên bình diện rộng, ta có thể thấy mối quan hệ rất chặt chẽ giữ công chúng và nghệ sĩ cũng như các sản phẩm của nghệ thuật qua hình sau: Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ tương tác giữa công chúng và các thành tố nghệ thuật Qua sơ đồ này, ta thấy công chúng đóng vai trò trung tâm và có mối liên hệ hữu cơ với các thành tố khác, ngoài thành tố nghệ sĩ. Công chúng tác động đến cả tác phẩm, đến các loại hình nghệ thuật và các trào lưu trường phái; cho nên có thể nói công chúng đã tạo nên một nền văn hóa nghệ thuật tương ứng trên nền tảng của những ước vọng, tình cảm, niềm tin… của cộng đồng.
15 Với góc nhìn hẹp hơn, trên cơ sở lấy tác phẩm (sản phẩm của sự sáng tạo) làm hệ qui chiếu ta có sơ đồ 1.3 biểu thị mối liên quan chặt chẽ giữa các thành tố của quá trình tiếp nhận và sự tác động của chúng đến tác phẩm: Sơ đồ 1.3: Ảnh hưởng của công chúng đối với quá trình sáng tạo Ở sơ đồ này, ta thấy được các thành tố của công chúng ảnh hưởng như thế nào đối với quá trình sáng tạo. Công chúng ở đây phải nhìn thấy bao hàm cả nhà xuất bản, nhà phê bình và phát hành. Khi tác phẩm ra đời, nếu không được tổ chức biểu diễn thì nó mãi mãi là con số không; nếu có tổ chức biểu diễn mà không được sự ủng hộ của truyền thông thì sức lan tỏa bị hạn chế ở tầm địa phương mà thôi; nếu không có sự ủng hộ của báo chí thì các ý kiến cũng như bài phê bình sẽ không phản hồi được đến với người sáng tạo.