Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Tìm hiểu và khai thác văn hóa Then của người Tày tại huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh phục vụ hoạt động du lịch" được tác giả Bùi Thị Ngọc Anh thực hiện năm 2018 tại Trường Đại học Dân lập Hải Phòng, thuộc chuyên ngành Việt Nam học (Văn hóa du lịch), dưới sự hướng dẫn của ThS. Vũ Thị Thanh Hương.
Bối cảnh nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn phát triển du lịch văn hóa tộc người tại Việt Nam. Văn hóa tộc người là tài nguyên nhân văn có sức hấp dẫn lớn đối với du khách trong và ngoài nước nhờ tính nguyên sơ, độc đáo và sự gắn kết với cảnh quan sinh thái tự nhiên. Tỉnh Quảng Ninh có 34 dân tộc cùng sinh sống (theo số liệu Tổng cục Thống kê năm 2009), trong đó người Tày là tộc người có dân số đông thứ ba của tỉnh. Riêng tại huyện miền núi biên giới Bình Liêu, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đa số dân cư (trên 90%), trong đó người Tày là nhóm cư dân chiếm tỷ lệ cao nhất. Người Tày nơi đây lưu giữ kho tàng văn hóa phi vật thể phong phú, đặc sắc, tiêu biểu là nghi lễ và nghệ thuật diễn xướng Then.
Mặc dù lượng khách du lịch đến Quảng Ninh tăng trưởng liên tục, luồng khách chủ yếu tập trung tại các trung tâm đô thị và khu vui chơi giải trí ven biển, chưa mở rộng nhiều tới các huyện miền núi xa trung tâm như Bình Liêu. Tiềm năng văn hóa Then tại địa phương chưa được khai thác tương xứng thành sản phẩm du lịch hoàn chỉnh, đời sống đồng bào còn nhiều khó khăn, trong khi làn sóng giao lưu văn hóa hiện đại đang tạo ra nguy cơ mai một các giá trị cổ truyền.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm:
- Giới thiệu chi tiết về diện mạo văn hóa Then và phân tích tiềm năng khai thác du lịch của loại hình di sản này tại địa phương.
- Đề xuất các phương án bảo tồn, phục hồi văn hóa Then của người Tày tại huyện Bình Liêu; kiến nghị với chính quyền các cấp, ngành văn hóa, du lịch và các đơn vị liên quan nhằm phối hợp chỉ đạo, khai thác hiệu quả giá trị văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố văn hóa của người Tày tại huyện Bình Liêu nhằm khai thác phục vụ phát triển du lịch địa phương.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các giá trị văn hóa phi vật thể, trọng tâm là tín ngưỡng và nghệ thuật diễn xướng Then Tày.
- Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh.
- Phạm vi tư liệu và thời gian: Khảo cứu các tư liệu lịch sử, dân tộc học và số liệu phát triển kinh tế - xã hội địa phương tính đến thời điểm hoàn thành khóa luận (năm 2018).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm cơ bản của Dân tộc học và Du lịch học:
- Khái niệm "Tộc người" (ethnic): Phân tích thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ (Ethnos - tộc người, Graphy - miêu tả). Tộc người là một hình thái tập đoàn xã hội hình thành qua quá trình tự nhiên - lịch sử, được phân định bởi ba đặc trưng cơ bản: ngôn ngữ, đặc điểm văn hóa và ý thức tự giác tộc người mang tính bền vững.
- Khái niệm "Văn hóa tộc người": Tiếp cận theo khung phân loại của các nhà dân tộc học thuộc Cộng hòa Xô viết Armenia (Liên Xô) thập niên 1970 (chia thành văn hóa sản xuất, văn hóa bảo đảm đời sống, văn hóa chuẩn mực xã hội, văn hóa nhận thức xã hội) và khung phân loại di sản của UNESCO năm 1988 (văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể).
- Phân loại vùng văn hóa: Vận dụng hệ thống phân vùng văn hóa Việt Nam (Tây Bắc, Việt Bắc và Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Trường Sơn - Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long) và phân loại theo địa vực cư trú (văn hóa vùng núi cao, rẻo giữa, thung lũng chân núi, trung du, châu thổ, ven biển).
- Khái niệm "Then": "Then" trong tiếng Tày có nghĩa là "Thiên" (Trời). Then là hình thức tín ngưỡng cúng vía, diễn xướng dân gian tổng hợp phản ánh thế giới quan về cõi thần linh (Bụt, Giàng, Trời) thông qua vai trò trung gian của ông Then, bà Then cùng nhạc cụ đàn Tính và chùm xóc nhạc. Tác giả cũng viện dẫn việc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký hồ sơ "Thực hành Then của người Tày, Nùng ở Việt Nam" trình UNESCO đưa vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào đầu năm 2017.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng:
- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Khai thác từ giáo trình Dân tộc học, Du lịch, các báo cáo tổng kết, dự án quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và tài liệu lưu trữ.
- Phương pháp phân loại, thống kê, so sánh: Xử lý các nguồn dữ liệu thứ cấp, so sánh đối chiếu đặc điểm văn hóa Then giữa các vùng cư trú khác nhau của người Tày, Nùng.
Nguồn dữ liệu của khóa luận gồm:
- Các tài liệu địa chí, lịch sử: Khảo cứu của Reversery (Revue Indochinoise, 1905), Tiểu dẫn về tỉnh Hải Ninh (1932), Lược chí địa lý khu tự trị vùng Hải Ninh của Voong A Sáng (1949).
- Số liệu thống kê dân số, kinh tế - xã hội từ cuộc Tổng điều tra dân số năm 1999, số liệu Tổng cục Thống kê năm 2009 và báo cáo của UBND huyện Bình Liêu.
- Công trình nghiên cứu chuyên ngành của TS. Nguyễn Thị Yên (Viện Nghiên cứu Văn hóa) và tư liệu thực địa về nghệ nhân Then tại các địa phương Hà Giang, Lào Cai, Lạng Sơn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Khái quát chung về văn hóa tộc người Tày tại huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh
Chương I trình bày hệ thống lý luận về văn hóa tộc người, khảo cứu văn hóa Then liên địa phương, đồng thời khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và diện mạo văn hóa Tày tại Bình Liêu.
Tác giả khảo sát thực hành Then tại các địa phương lân cận:
- Tại Hà Giang: Khảo sát nghi lễ Lẩu Then bjoóc mạ tại xã Phương Độ (thành phố Hà Giang) do nghệ nhân Then cả Nguyễn Văn Chự thực hành, diễn ra trong 2 ngày 1 đêm qua nhiều cung chặng (trình tổ Then, Thổ công, cung ve sầu, thanh lâm, khảm hải, lên phủ Ngọc Hoàng...).
- Tại Lào Cai: Khảo sát Then chữa bệnh, giải hạn, cầu an và lễ cấp sắc (Pang Luông) tại các huyện Văn Bàn, Bảo Yên, Bảo Thắng với các làn điệu dân ca, câu đố dân gian do nghệ nhân Hoàng Thị Cứ, Ma Thanh Sợi sưu tầm.
- Tại Lạng Sơn: Nghi lễ Then của người Nùng mang tính diễn xướng trường ca kể chuyện tâm linh gắn với cây đàn Tính và quạt Then.
Về địa bàn huyện Bình Liêu:
- Vị trí địa lý và tự nhiên: Huyện có tọa độ từ 21°27’ đến 21°39’ vĩ độ Bắc, 107°17’ đến 107°36’ kinh độ Đông; cách thành phố Hạ Long 130 km; có 42,7 km đường biên giới giáp Trung Quốc. Địa hình gồm các đỉnh núi cao như Cao Xiêm (1.330 m), Cao Ba Lanh (1.050 m); sông Tiên Yên có lưu lượng bình quân 21,3 m³/s (khoảng 609 triệu m³/năm); thác nước tiêu biểu gồm Khe Vằn, Khe Tiền. Tài nguyên khoáng sản có mỏ bô-xít tại Vô Ngại, thân quặng alumin trữ lượng ước tính 35 triệu tấn.
- Lịch sử truyền thống: Địa bàn ghi dấu truyền thuyết đá thần Cao Ba Lanh, cuộc khởi nghĩa của Đội Sáng (Thàm Cam Sláy) giai đoạn 1917–1919 và sự kiện giải phóng Bình Liêu ngày 25/12/1950.
- Cơ cấu dân cư và đơn vị hành chính: Huyện gồm 8 đơn vị hành chính cấp xã/thị trấn. Theo số liệu tổng điều tra 1999, dân số là 25.626 người (mật độ 55 người/km²), đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 96%. Đến năm 2009, dân số đạt trên 27.629 người.
| STT |
Đơn vị hành chính huyện Bình Liêu |
| 1 |
Xã Đồng Văn |
| 2 |
Xã Hoành Mô |
| 3 |
Xã Đồng Tâm |
| 4 |
Xã Lục Hồn |
| 5 |
Xã Tĩnh Húc |
| 6 |
Xã Vô Ngại |
| 7 |
Xã Húc Động |
| 8 |
Thị trấn Bình Liêu |
Cơ cấu dân tộc trên địa bàn huyện:
| Tộc người |
Tỷ lệ dân số (Điều tra 1999) |
Địa bàn cư trú chủ yếu |
| Tày |
58,4% |
Các thung lũng thấp, ven sông suối và thị trấn |
| Dao |
25,6% |
Tập trung tại xã Đồng Văn, Hoành Mô |
| Sán Chay (Sán Chỉ) |
15,4% |
Tập trung đông nhất tại xã Húc Động |
| Kinh |
3,7% |
Rải rác tại các khu trung tâm |
| Hoa |
0,3% |
Khu vực cửa khẩu, biên giới |
- Kinh tế địa phương: Trọng tâm là nông - lâm nghiệp và thương mại cửa khẩu. Độ che phủ rừng đạt 41,5%; sản phẩm đặc sản gồm hồi, quế, sở và miến dong chế biến từ củ dong riềng. Hoạt động thương mại qua Cửa khẩu Hoành Mô năm 2009 đạt kim ngạch xuất nhập khẩu 18 triệu USD (trong đó xuất khẩu đạt 7 triệu USD).
Về đặc trưng văn hóa tộc người Tày tại Bình Liêu:
- Nguồn gốc: Gồm hai nhóm địa phương chính là nhóm Phén (từ Phòng Thành) và nhóm Thổ (từ Khâm Châu) thuộc khối Bách Việt cổ di cư sang.
- Văn hóa vật thể: Kiến trúc nhà sàn truyền thống từ 4 đến 7 hàng cột, lợp ngói âm dương hoặc lá gồi; trang phục nhuộm chàm năm thân cài cúc đồng/vải, nón lá nan tre rộng vành; công cụ sản xuất gồm cày chìa vôi, bừa gỗ, máng đập lúa (loóng).
- Văn hóa phi vật thể: Tiếng Tày thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, văn tự Nôm Tày xuất hiện từ thế kỷ XV; văn học dân gian gồm các thể loại truyện thơ, hát Lượn, hát thơ tình Phong slư (Phảng lài), làn điệu Then của nghệ nhân dân gian Lô Chính; tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, Táo quân (thần bếp), Thổ công (thần bản); chu kỳ sản xuất nông nghiệp 12 tháng rõ rệt.
- Hệ thống phong tục tập quán:
- Nghi lễ sinh đẻ: Kiêng cữ nghiêm ngặt, cúng mụ sau 3 ngày, tổ chức lễ đầy tháng (ngày thứ 25 đối với bé trai, ngày thứ 30 đối với bé gái).
- Nghi lễ hôn nhân: Thực hiện qua 5 bước chính gồm Lễ dặm hỏi, Lễ trầu cau (trao giấy lục mệnh 12 cung), Lễ kê khai (thách cưới), Đám cưới (cô dâu chuẩn bị chăn, gối biếu họ nhà chồng), Lễ lại mặt (sau 3 ngày).
- Nghi lễ mừng thọ: Gồm 6 bước nghi thức: 1) Dựng lương; 2) Chuyển lương; 3) Dâng rượu, đốt đèn; 4) Hoàn phúc; 5) Làm lường (buộc lầu váng vào cây thượng lương); 6) Trồng cây mệnh (cây mai hoặc cây chuối).
- Văn hóa ẩm thực: Xôi đăm đeng (nhuộm 5 màu từ lá cẩm rừng), bánh chưng dài nhân thịt lợn đỗ xanh, bánh gio (chấm mật ong rừng), bánh cooc mò, bánh gật gù, khau nhục, nằm quắt (chân giò hầm gia vị).
- Lễ hội truyền thống: Hội Lồng Tồng (xuống đồng vào tháng Giêng, tháng Hai âm lịch với các trò chơi ném còn, kéo co, đẩy gậy, thi cày cấy), Tết cơm mới (tháng 10–11 âm lịch).
Chương II: Văn hóa Then của người Tày ở huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh
Chương II đi sâu phân tích bản chất, cấu trúc và chức năng xã hội của di sản Then Tày tại Bình Liêu:
- Các loại hình nghi lễ Then: Hệ thống Then Tày gồm Then cầu an giải hạ (đầu năm), Then Nàng Hang (dịp Trung thu), Then cúng mụ (đầy tháng), Then thôi tang, và Lẩu Then (nghi lễ cấp sắc lớn nhất của thầy Then, gồm: khai quang, tăng sắc, khao quân, cáo lão).
- Không gian và phương thức diễn xướng: Diễn xướng Then là sự tổng hòa giữa lời ca, điệu múa, âm nhạc của cây đàn Tính (tính tẩu) và chùm xóc nhạc rung theo nhịp chân của thầy Then. Nội dung các khúc hát là hành trình tâm linh vượt qua nhiều cung ải (cửa Thổ công, cửa Tướng, Mường Trời) để dâng lễ vật, chuyển tải ước vọng của gia chủ lên Ngọc Hoàng và thần linh.
- Vị trí tâm linh và xã hội: Then giữ vai trò trấn an tinh thần, củng cố niềm tin của cộng đồng, giải quyết các nhu cầu chữa bệnh, giải hạn, cầu mùa màng tươi tốt, gia đạo bình an.
- Quá trình chuyển hóa chức năng: Then có sự chuyển biến quan trọng từ một hình thức nghi lễ tín ngưỡng tâm linh thuần túy thành loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian trình diễn phục vụ sinh hoạt cộng đồng, giao duyên nam nữ, tham gia vào các hội diễn văn nghệ quần chúng.
- Đánh giá khả năng khai thác du lịch: Nghệ thuật Then sở hữu tính hấp dẫn cao về giai điệu âm nhạc, trang phục, đạo cụ và không khí trình diễn, phù hợp để xây dựng thành sản phẩm du lịch trải nghiệm văn hóa đặc thù tại Bình Liêu.
Chương III: Thực trạng và giải pháp khai thác văn hóa Then phục vụ hoạt động du lịch tại địa phương
Chương III đánh giá thực trạng hoạt động du lịch tại Bình Liêu và đề xuất hệ thống giải pháp:
- Thực trạng: Hoạt động du lịch tại Bình Liêu còn ở giai đoạn sơ khai, cơ sở hạ tầng lưu trú và giao thông tiếp cận còn hạn chế. Di sản Then chủ yếu tồn tại trong phạm vi sinh hoạt gia đình hoặc các dịp lễ hội định kỳ, chưa được sân khấu hóa hay tổ chức thành các điểm biểu diễn phục vụ du khách thường xuyên. Số lượng nghệ nhân nắm giữ bài bản Then cổ suy giảm, thế hệ trẻ ít mặn mà với việc học đàn Tính, hát Then.
- Các giải pháp đề xuất:
- Bảo tồn và phục dựng di sản Then cổ: Khảo sát, ghi âm, ký âm và xuất bản tư liệu các bài Then cổ; duy trì hoạt động của các câu lạc bộ hát Then tại các xã; tổ chức truyền dạy đàn Tính và hát Then trong cộng đồng và trường học.
- Xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng: Đưa biểu diễn Then vào các chương trình du lịch cộng đồng (homestay) tại các bản làng người Tày; kết hợp trình diễn Then với các lễ hội truyền thống (hội au-pò, lễ hội Lồng Tồng, hội Kiêng gió); tổ chức không gian giao lưu học đánh đàn Tính cho du khách.
- Phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ du lịch: Nâng cấp tuyến giao thông kết nối quốc lộ 18C đến các điểm danh thắng (thác Khe Vằn, Cao Ba Lanh, Cao Xiêm) và cửa khẩu Hoành Mô; phát triển ẩm thực bản địa (xôi đăm đeng, khau nhục, miến dong) phục vụ khách du lịch.
- Công tác tuyên truyền, xúc tiến và đào tạo: Tăng cường quảng bá di sản Then Bình Liêu trên các phương tiện thông tin đại chúng; liên kết tour tuyến với các trung tâm du lịch lớn của tỉnh (Hạ Long, Uông Bí, Móng Cái); mở các lớp tập huấn kỹ năng nghiệp vụ du lịch và thuyết minh văn hóa cho người dân địa phương.
- Cơ chế quản lý và phối hợp liên ngành: Chính quyền địa phương cần ban hành chính sách đãi ngộ nghệ nhân Then, hỗ trợ kinh phí hoạt động cho các đội văn nghệ bản làng, đồng thời quản lý chặt chẽ để bảo tồn tính nguyên gốc của di sản, tránh hiện tượng thương mại hóa biến tướng.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã đạt được các kết quả nghiên cứu và đóng góp thực tiễn:
-
Hệ thống hóa cơ sở dữ liệu địa phương:
Khóa luận đã tập hợp số liệu toàn diện về địa lý, tự nhiên, tài nguyên khoáng sản, lịch sử và cơ cấu dân số 8 xã, thị trấn của huyện Bình Liêu.
-
Phân loại chi tiết hệ thống nghi lễ và giá trị diễn xướng Then:
Khóa luận đã phân định rõ các hình thức nghi lễ Then và khả năng chuyển giao sang hoạt động du lịch:
| Loại hình nghi lễ Then |
Mục đích và thời điểm diễn ra |
Khả năng ứng dụng trong du lịch |
| Then cầu an giải hạ |
Cầu an, giải hạn cho gia đình vào dịp đầu năm mới |
Trích đoạn biểu diễn nghệ thuật đầu xuân |
| Then Nàng Hang |
Diễn ra vào dịp Tết Trung thu |
Tổ chức biểu diễn trong các lễ hội mùa thu |
| Then cúng mụ |
Làm lễ tạ ơn bà Mụ dịp trẻ tròn tháng |
Khai thác tư liệu nghiên cứu văn hóa gia đình |
| Lẩu Then (Cấp sắc) |
Lễ cấp sắc công nhận thầy Then (khai quang, tăng sắc...) |
Giới thiệu phim tư liệu, bảo tàng trưng bày chuyên đề |
| Hát Then giao duyên / văn nghệ |
Sinh hoạt cộng đồng, nam nữ giao duyên, hội xuân |
Trình diễn trực tiếp phục vụ khách tại homestay, nhà văn hóa |
-
Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ:
Đưa ra 5 nhóm giải pháp cụ thể kết hợp giữa bảo tồn di sản sống và phát triển sản phẩm du lịch sinh thái - nhân văn, tạo cơ sở cho việc lập quy hoạch du lịch cộng đồng tại địa phương.
-
Đóng góp về mặt khoa học:
So với các nghiên cứu trước đây vốn chỉ đề cập chung về địa lý hoặc văn hóa tổng quát của các dân tộc trên địa bàn huyện Bình Liêu, khóa luận là công trình chuyên khảo tập trung làm rõ giá trị của văn hóa Then Tày dưới góc độ khai thác kinh tế du lịch và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại chỗ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn về nguồn lực và thời gian thực hiện của một khóa luận cử nhân, nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp tổng hợp tài liệu thứ cấp và khảo sát định tính; chưa thực hiện được các cuộc điều tra xã hội học định lượng quy mô lớn về mức độ hài lòng hoặc nhu cầu chi trả thực tế của các phân khúc du khách đối với sản phẩm du lịch Then.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Khảo sát định lượng nhu cầu thị trường khách du lịch đối với sản phẩm văn hóa dân gian vùng Đông Bắc.
- Nghiên cứu xây dựng mô hình tour chuyên đề kết nối di sản Then liên huyện/liên tỉnh (Bình Liêu - Tiên Yên - Lạng Sơn - Hà Giang).
- Đánh giá tác động kinh tế - xã hội và biến đổi văn hóa khi đưa nghi lễ Then vào trình diễn du lịch thương mại.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên các ngành Việt Nam học, Văn hóa học, Du lịch học, Quản lý văn hóa và Dân tộc học khi thực hiện đề tài về văn hóa dân gian các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc hoặc phát triển du lịch di sản.
- Cán bộ quản lý tại Phòng Văn hóa - Thông tin, Trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện Bình Liêu và Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh trong việc tham khảo tư liệu xây dựng chính sách bảo tồn nghệ nhân và quy hoạch tuyến điểm du lịch cộng đồng.
- Các doanh nghiệp lữ hành đang nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch khám phá văn hóa vùng biên giới Bình Liêu.
Các phần nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu nhất:
- Toàn bộ nội dung khảo sát phong tục tập quán vòng đời (sinh nở, hôn nhân 5 bước, mừng thọ 6 bước) và văn hóa ẩm thực Tày tại [Chương I].
- Bảng mô tả cấu trúc các chặng đường diễn xướng và hệ thống nghi lễ Lẩu Then tại [Chương II].
Câu hỏi thường gặp
1. Nguồn gốc lịch sử và cơ cấu dân số của người Tày tại huyện Bình Liêu được ghi nhận như thế nào trong khóa luận?
Người Tày tại Bình Liêu gồm hai nhóm địa phương chính là nhóm Phén (từ Phòng Thành) và nhóm Thổ (từ Khâm Châu) di cư sang từ nhiều đời trước, cùng thuộc khối Bách Việt cổ. Theo số liệu tổng điều tra ngày 1/4/1999, người Tày chiếm 58,4% dân số toàn huyện Bình Liêu (chiếm tỷ lệ đông nhất huyện và là nơi có người Tày đông nhất tỉnh Quảng Ninh). Đến năm 2009, người Tày chiếm 50,3% trong tổng dân số hơn 27.629 người của huyện.
2. Nghi lễ mừng thọ truyền thống của người Tày ở Bình Liêu gồm những bước nghi thức cụ thể nào?
Nghi lễ mừng thọ của người Tày gồm 6 bước trình tự:
- Dựng lương: Dựng đàn cúng và lập lầu váng cao khoảng 40 cm dưới chân bàn thờ để đựng gạo và tiền do con cháu dâng.
- Chuyển lương: Thầy/bà Then niệm chú vào thúng gạo, xúc gạo kèm tiền lẻ đưa cho con cháu truyền tay nhau đổ vào lầu váng.
- Dâng rượu, đốt đèn: Con cháu dâng rượu theo từng chầu hát Then và đốt đèn tượng trưng cho sự minh mẫn.
- Hoàn phúc: Lấy phần gạo dư và tiền lẻ ban lại cho con cháu làm lộc.
- Làm lường (buộc lương): Người con rể dùng ba sợi chỉ ba màu buộc lầu váng vào cây thượng lương của ngôi nhà.
- Trồng cây mệnh: Mang cây mai hoặc cây chuối tượng trưng cho sinh mệnh, sức khỏe của người già ra vườn chăm sóc.
3. Nghi thức cưới xin cổ truyền của người Tày tại Bình Liêu trải qua những lễ nào?
Hôn nhân cổ truyền của người Tày gồm 5 nghi lễ chính: 1) Lễ dặm hỏi (so tuổi âm dương); 2) Lễ trầu cau (nhà trai nhận bản giấy lục mệnh ghi 12 cung của cô gái); 3) Lễ kê khai (nhà gái đưa danh mục thách cưới trước 2–3 tháng); 4) Đám cưới (cô dâu mang chăn gối tự dệt sang biếu từng thành viên nhà chồng); 5) Lễ lại mặt (sau 3 ngày, chú rể sang nấu cơm tạ ơn nhà gái).
4. Khóa luận phân chia hệ thống nghi lễ Then của người Tày thành những hình thức nào?
Hệ thống nghi lễ Then gồm: Then cầu an giải hạ (đầu năm), Then Nàng Hang (dịp Trung thu), Then cúng mụ (đầy tháng trẻ nhỏ), Then thôi tang, và Lẩu Then (lễ cấp sắc lớn nhất của nhà Then, chia thành các cấp bậc: khai quang, tăng sắc, khao quân, cáo lão).
5. Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp trọng tâm nào để phát triển du lịch gắn với Then tại Bình Liêu?
Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp: 1) Sưu tầm, phục dựng và truyền dạy các bài Then cổ qua các câu lạc bộ nghệ nhân; 2) Sân khấu hóa và đưa trình diễn Then vào không gian du lịch cộng đồng (homestay), lễ hội truyền thống; 3) Nâng cấp giao thông, cơ sở lưu trú và dịch vụ ẩm thực bản địa; 4) Tăng cường quảng bá, đào tạo nhân lực du lịch cộng đồng; 5) Hoàn thiện chính sách đãi ngộ nghệ nhân và tăng cường phối hợp quản lý liên ngành.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Bùi Thị Ngọc Anh là công trình nghiên cứu học thuật có hệ thống về di sản văn hóa Then và đời sống văn hóa của tộc người Tày tại huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh. Tác giả đã tổng hợp bức tranh toàn diện về điều kiện tự nhiên, dân cư, phong tục tập quán và cấu trúc diễn xướng Then bản địa, đồng thời chỉ ra thực trạng chưa khai thác hết tiềm năng du lịch của địa phương. Trên cơ sở đó, các giải pháp bảo tồn kết hợp phát triển du lịch được đề xuất mang tính đồng bộ, có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho công tác quản lý di sản và định hướng phát triển du lịch văn hóa bền vững tại vùng biên giới Đông Bắc.