Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ XÃ BẢO KHÊ VÀ CÁC HÌNH THỨC TÔN GIÁO TÍN NGƯỠNG 1. Khái quát về xã Bảo Khê 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Xã Bảo Khê nằm cách trung tâm thành phố Hưng Yên về phía Bắc khoảng 6km. Phía Bắc giáp xã Ngọc Thanh và xã Hiệp Cường huyện Kim Động; Phía Nam giáp phường An Tảo và phường Lam Sơn thành phố Hưng Yên; Phía Đông giáp xã Trung Nghĩa thành phố Hưng Yên; Phía Tây giáp đê sông Hồng và xã Hùng Cường thành phố Hưng Yên.
Xã Bảo Khê hiện nay có diện tích tự nhiên là 395,82ha, với tổng dân số là 6.831 người [8, tr. Xã Bảo Khê có vị trí địa lý và giao thông vô cùng quan trọng. Chạy qua địa bàn xã có quốc lộ 39A, là trục đường chính của thành phố Hưng Yên nói riêng và cả tỉnh Hưng Yên nói chung. Theo quốc lộ 39A về phía Bắc hơn 60km là đến thủ đô Hà Nội; theo hướng Đông Nam hơn 10km là đến cầu Triều Dương, qua con sông Luộc sẽ đến tỉnh Thái Bình.
Theo đường 39B khoảng 50km đến thành phố Hải Dương. Đi về phía Tây tới sông Hồng, qua cầu Yên Lệnh 10km sẽ đến đường cao tốc Bắc – Nam, quốc lộ 1A và đường sắt Bắc – Nam, nối với Đồng Văn tỉnh Hà Nam và từ đó có thể đi khắp cả nước… Với vị trí địa lý này quy định tính chất quan trọng của xã Bảo Khê về quân sự, hiện nay Bảo Khê ở vị trí địa đầu phía Bắc của thành phố Hưng Yên, có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng khu vực phòng thủ bảo vệ thành phố. Tất cả diện tích của xã là đồng bằng, xã có 5 thôn đều nằm ở trong đê. Khí hậu của xã Bảo Khê nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa ẩm.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là khoảng 23,3oC, nhiệt độ cao nhất là từ 39oC đến 40oC, nhiệt độ thấp nhất là khoảng 5oC. Lượng mưa trung bình hàng năm là khoảng 1500mm đến 1600mm, số ngày mưa trung bình trong năm khoảng 147 ngày/năm. Khí hậu có 4 mùa rõ rệt, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, trồng lúa hai mùa vụ trong một năm. Mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau với khí hậu khô và ẩm; mùa 8 móng kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mưa nhiều và nhiệt độ tương đối cao do ảnh hưởng của gió mùa đông nam [26, tr.
Với điều kiện tự nhiên như vậy đã ảnh hưởng rất lớn đền hoạt động sản xuất nông nghiệp, kinh tế và dân sinh của xã Bảo Khê, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp mà đặc biệt là với số giờ nắng nhiều trong năm, rất thuận tiện cho người dân làng nghề làm hương Cao Thôn có thể phơi hương sau khi hương được làm xong. Lịch sử hình thành và đặc điểm dân cư * Lịch sử hình thành xã Bảo Khê Địa giới hành chính và tên gọi của xã Bảo Khê có nhiều thay đổi trong diễn trình lịch sử. Vào thời kỳ Hùng Vương dựng nước, dân cư sống tập trung chủ yếu ở ven sông Hồng. Vùng đất Bảo Khê lúc bấy giờ thuộc quận Giao Chỉ còn là những gò, đống do sông Hồng bồi tụ lên giữa các đám lau sậy, cỏ lác.
Dân cư sống chủ yếu bằng các hình thức săn bắn, sản xuất nông nghiệp, đánh cá. Thời Văn Lang – Âu Lạc vùng đất Bảo Khê thuộc bộ Dương Tuyền (Thanh Tuyền). Thời Ngô, Đinh, tiền Lê địa bàn xã Bảo Khê thuộc huyện Vũ Bình, Lộc Nam Sách, phủ Thái Bình; Thời Lý Cao Tông thuộc Châu Đằng - Châu Khoái; thời Trần thuộc lộ Long Hưng rồi lại thuộc lộ Khoái; thời nhà Minh đô hộ thuộc phủ Kiến Xương; Thời Hậu Lê thuộc Thuận Thiên - Nam Đạo. Thời Nguyễn năm Minh Mạng thứ 12 (1831) bỏ đơn vị hành chính trấn, chi nhỏ trấn thành tỉnh.
Tỉnh Hưng Yên ra đời, gồm hai phủ Tiên Hưng và Khoái Châu. Từ năm 1873, tỉnh Hưng Yên còn 2 phủ 6 huyện, dưới cấp huyện là tổng và xã. Địa bàn Bảo Khê khi đó thuộc tổng Tiên Cầu, huyện Kim Động [8, tr. Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng được thiết lập.
Cấp tổng bị xóa, các thôn Bảo Khê lúc này thuộc địa bàn xã Hiệp Cường huyện Kim Động. Kết thúc thắng lợi kháng chiến chống Pháp năm 1955, xã Tự Do được thành lập gồm 5 thôn là: Tiền Thắng, Đoàn Thượng, Cao Thôn, Triều Tiên và Vạn Tường. 9 Cao Thôn trước đây được gọi là làng Chạ. Thôn Đoàn Thượng gồm xóm Mụa, xóm Đoàn Kết.
Thôn Tiền Thắng gồm xóm Điềm, xóm Thắng Lợi (xóm Phượng Lâu). Làng Triều Tiên có nguồn gốc từ làng Hoàng Xá. Vài năm trước, Hoàng Xá là một làng lớn, gồm xóm Hoàng Trung, xóm Hoàng Triều, xóm Thượng và xóm Đạo. Nhưng do tác động của quá trình bồi lở của sông Hồng, cư dân làng Hoàng Xá có sự dịch chuyển, một bộ phận thuộc địa bàn của xã Phú Cường, Hùng Cường hiện nay; một bộ phận lùi vào trong đồng lập lên thôn Hoàng Tiên, sau cách mạng tháng Tám xóm Hoàng Triều tiếp tục lui vào trong đồng, hợp với Hoàng Tiên thành thôn Triều Tiên như ngày nay.
Thôn Vạn Tường trước đây gồm có xóm Mòi (còn gọi là Tiên Khê) và xóm Suối (còn gọi là Bảo Khê). Sau đó hai xóm nhập lại gọi chung là Tiên Khê rồi đổi tên thành Vạn Tường. Ngày 26/1/1968, Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội ra Nghị quyết số 504/NQ/TVQH phê chuẩn hợp nhất hai tỉnh Hưng Yên và Hải Dương thành tỉnh Hải Hưng. Xã Tự Do thuộc huyện Kim Động tỉnh Hải Hưng.
Năm 1974 xã Tự Do đổi tên thành xã Bảo Khê thuộc huyện Kim Động tỉnh Hải Hưng. Ngày 24/02/1979, Hội đồng chính phủ ra Quyết định số 70-CP hợp nhất hai huyện Kim Động và Ân Thi thành huyện Kim Thi. Xã Bảo Khê thuộc huyện Kim Thi, tỉnh Hưng Yên [8, tr. Ngày 27/01/1996, Chính phủ ra Nghị quyết số 5-NĐ/CP tách huyện Ân Thi thành hai huyện Kim Động và Ân Thi, xã Bảo Khê thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hải Hưng [8, tr.
Ngày 06/11/1996 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX phê chuẩn việc tách tỉnh Hải Hưng thành hai tỉnh Hưng Yên và Hải Dương. Ngày 01/01/1997, tỉnh Hưng Yên được tái lập. Xã Bảo Khê thuộc huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên [8, tr. Ngày 23/9/2003, theo Quyết định số 108/2003/NĐ-CP của Chính Phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính mở rộng Thị xã, thành lập phường và điều chỉnh địa giới hành chính các phường, thuộc Thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
Xã 10 Bảo Khê thuộc huyện Kim Động gồm 397,82 ha diện tích tự nhiên và 5.692 nhân khẩu chuyển về thị xã Hưng Yên quản lý. Từ đây xã Bảo Khê thuộc thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên [8, tr. Chính phủ quyết định thành lập thành phố Hưng Yên thuộc tỉnh Hưng Yên trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc thị xã Hưng Yên theo Nghị định số 04/NĐ-CP Ngày 19/01/2009. Xã Bảo Khê thuộc thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên [8, tr.
Như vậy, xã Bảo Khê thuộc thành phố Hưng Yên – một vùng đất có bề dày lịch sử với điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc dân cư quần tụ sinh sống từ lâu đời theo mô hình làng Việt truyền thống. Cư dân sống ở xã Bảo Khê chủ yếu là người Việt sinh sống dọc theo triền đê sông Hồng. Khi xã Bảo Khê tách về thành phố Hưng Yên, do có vị trí giáp trung tâm thành phố nên khu vực này đã thu hút được nhiều người dân ở khu vực khác là các cán bộ, công nhân viên chức từ các địa phương khác về đây sinh sống. Cư dân của các làng trong xã sống rất gắn bó, đoàn kết với nhau cùng làm kinh tế để đưa xã Bảo Khê phát triển.
* Đặc điểm dân cư Xã Bảo Khê có 5 thôn: Đoàn Thượng, Tiền Thắng, Bảo Khê, Vạn Tường, Triều Tiên. Thôn Đoàn Thượng là một làng Việt cổ có 352 hộ và 1.454 nhân khẩu, với các dòng họ: Nguyễn, Lê, Phạm, Dương. Nghề chính của thôn đó là chăn nuôi gia súc, gia cầm và kinh doanh buôn bán [12, tr. Thôn Vạn Tường là một làng Việt cổ tiền thân là thôn Tiên Khê và Bảo Khê hợp thành.
Thôn Tiên Khê và Bảo Khê được hình thành từ thời Bắc thuộc, thôn có tổng số hộ là 265 hộ với 1450 nhân khẩu. Làng có 12 dòng họ cùng chung sống [11, tr. Thôn Tiền Thắng có 395 hộ với 1670 nhân khẩu, có 10 dòng họ là: Nguyễn, Lê, Đỗ, Trần, Trương, Lã, Bùi, Đoàn, Vương cùng chung sống từ bao đời nay [14, tr. Làng Cao Thôn có 195 hộ với số nhân khẩu là 986, cả làng có 15 dòng họ luôn đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng làng xóm [10, tr.
2] 11 Triều Tiên là một trong năm làng thuộc xã Bảo Khê, có 321 hộ với 1271 nhân khẩu, cả thôn có 6 dòng họ chính là: Đỗ, Phạm, Nguyễn, Tạ, An, Cao. Nhân dân các dòng họ luôn sinh sống chan hòa, đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau [13, tr. Đời sống kinh tế và Văn hóa xã hội Những năm gần đây do có chủ trương và định hướng đúng đắn, kinh tế của xã Bảo Khê phát triển khá nhanh, tương đối đồng bộ và toàn diện. Tốc độc tăng trưởng kinh tế trung bình đạt 15%/năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp và dịch vụ thương mại, tuy nhiên xã vẫn cân đối sản xuất để đảm bảo an ninh lương thực.
Sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, toàn xã tích cực chuyển đổi giống, vật nuôi, cây trồng phù hợp với phát triển nông nghiệp ven đô. Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 9,15%/năm, bình quân 1ha canh tác thu nhập đạt khoảng 61,8 triệu đồng. Diện tích gieo trồng cây vụ đông đạt 75-78%. Tập trung chủ yếu vào loại giống có chất lượng, năng suất cao.
Chăn nuôi tiếp tục phát triển, đàn bò sinh sản, bò thịt, lợn, đàn gia cầm tăng lên nhanh chóng. Nhờ có sự hỗ trợ của tỉnh, thành phố và nguốn vốn từ ngân hàng phát triển nông thôn, trong phát triển sản xuất nông nghiệp, xã đã đầu tư tổng số tiền là 310.500 đồng cho nhiệm vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Trong đó đầu tư một số dự án mới như nuôi gà Đông Tảo, nuôi bò, hỗ trợ giống lúa lai và lúa thuần, phân bón, thuốc trừ sâu, chuyển giao khoa học kỹ thuật nông nghiệp… [8, tr. Tiểu thủ công nghiệp được duy trì phát triển nhanh, đa dạng.