CHƯƠNG 1 VÀI NÉT VẺ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU QUA TRÌNH PHAT HIỆN, NGHIÊN CỨU KHAO CO HỌC 1. VỊ TRÍ DIA LÝ NHÂN VĂN, MOI TRƯỜNG TỰ NHIÊN 1. Vi trí địa lý nhân văn Bà Rịa - Vũng Tàu là tỉnh duyên hải miền Đông Nam Bộ. Có tọa độ địa lý từ 10°20' đến 10°45' vĩ Bắc và 107° đến 107°35' kinh Đông, cách thành phố Hồ Chí Minh 125km về phía đông bắc.
Bà Rịa - Vũng Tàu có diện tích tự nhiên 2.006,70km” với dân số gần 800.000 người, gồm 20 thành phan dân tộc. Trong đó người Việt chiếm 97,50% dân số, các dân tộc khác có người Hoa, người Chơ Ro, người Khơ Me, người Stiêng và người Tày. Địa giới hành chính phía bắc giáp tinh Đồng Nai; phía tây giáp thành phố Hồ Chí Minh; đông, đông bắc giáp tinh Bình Thuận; tây, đông nam giáp biên Đông. Tổ chức hành chính tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay gồm thành phố Vũng Tàu, thị xã Bà Rịa và 5 huyện: Tân Thành, Châu Duc, Long Dat, Xuyên Mộc va huyện đảo Côn Đảo.
Lịch sử nhân văn vùng đất Bà Rịa - Vũng Tàu đã trải qua nhiều biến đổi với một số nét sơ lược như sau: Qua những phát hiện về khảo cổ học đã chứng minh hàng ngàn năm trước con người đã có mặt trên vùng đất này. Theo các tài liệu đã nghiên cứu cho biết trên địa bàn tỉnh đã phát hiện các di chỉ khảo cổ học thuộc nền văn hoá Óc Eo. Qua sự nghiên cứu của học giả người Pháp và sau này của các học giả Việt Nam cho thấy sự có mặt của nền văn hoá Óc Eo qua các di chỉ đã phát hiện như Bàu Thành (Long Đất), Suối Nghệ (Châu Đức), Phước Hoà - Hội Bài (Tân Thành) và trên địa bàn thành phố Vũng Tàu [13, tr. 3 - 5] Từ thế kỷ VII đến trước thế kỷ XVI, trước khi người Việt đến định cư ở Bà Rịa - Vũng Tàu và cả vùng Đông Nam Bộ vùng đất này được xem như vùng đệm giữa hai khối Chăm và Chân Lạp.
Cư dân bản địa ở đây có người Mạ, Stiêng, Chơ Ro. Quá trình hình thành của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tau gan liền với những sự kiện thăng tram của lich sử trên đưới 300 năm nay. Vào thé kỷ 16 - 17, trên vùng đất người Mạ trước đây người Việt đã đến khẩn hoang, sinh cơ lập nghiệp [13, tr. Năm 1689, Chúa Nguyễn Phúc Chu cử Thống suất Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam, lập phủ Gia Định gồm 4 tổng, trong đó tổng Phước An ngay nay là Ba Ria - Vũng Tau.
- Năm Minh Mang thứ 18 (1837) lập phủ Phước Tuy (trong đó có Ba Ria - Vũng Tàu) thuộc tỉnh Biên Hoà. - Hoà ước Nhâm Tuất 1862, triều Nguyễn nhường 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ cho thực dân Pháp. Người Pháp thành lập hạt thanh tra Bà Rịa gồm 7 tổng và 64 thôn. - Năm 1867 đổi thành khu Tham biện Bà Rịa.
Đến năm 1905 thành lập tinh Ba Rịa. Nhà Nguyễn gọi Vũng Tau là Thuyền Uc, thời Pháp gọi Cap Saint Jacques thuộc Bà Ria. Năm 1929 tách Vũng Tàu lập thành tỉnh Cap Saint Jacques năm 1934 lại nhập về Ba Ria cho đến năm 1945. - Từ sau Cách mạng tháng Tám đến năm 1947, chính phủ lâm thời Cộng hoà Nam kỳ tách Vũng Tàu lập thành tỉnh Cap Saint Jacques.
Sau năm 1951 đến 1954 hợp nhất tỉnh Bà Rịa với Chợ Lớn thành tỉnh Chợ Lớn. - Năm 1957 chính quyền Sài Gòn hợp nhất Vũng Tàu, Bà Rịa thành tỉnh Phước Tuy. Năm 1963 hợp nhất Bà Rịa và Biên Hoà thành tỉnh Bà Biên. Một năm sau đó lại tách ra.
Sau đó hợp nhất với tỉnh Long Khánh thành tỉnh Bà Rịa Long Khánh cho đến 1975. - Sau 1975, Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc tỉnh Đồng Nai. Năm 1979, tách Vũng Tàu Côn Đảo thành lập Đặc khu Vũng Tàu Côn Đảo. Đến 1991, Chính phủ quyết định thành lập tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, trên cơ sở nhập Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo cũ với 3 huyện Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc của tỉnh Đồng Nai.
Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay là tỉnh có vị trí rất quan trọng trong những vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Với lợi thế ưu đãi của thiên nhiên, Bà Rịa - Vũng Tàu có thế mạnh về thăm đò khai thác, chế biến dầu khí, sản xuất điện năng, khai thác chế biến thuỷ hải sản, dịch vụ xuất nhập khẩu thông qua hệ thống các cảng biển, cảng sông, dịch vụ du lịch. Kinh tế nông nghiệp chủ yếu là trồng trọt cây công nghiệp phục vụ chế biến xuất khẩu. Bên cạnh nguồn lực tự nhiên phong phú, nguồn lực con người năng động đã góp phần to lớn cho sự phát triển của tỉnh trong cả hai thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Môi trường tự nhiên Bà Rịa - Vũng Tàu cũng như các tỉnh trong vùng Đông Nam Bộ có lịch sử kiến tạo địa chất phức tạp, lâu dài, từ hàng triệu năm trước. Các nhà địa chất cho biết đây là vùng đất thuộc miền uốn nếp chuyền tiếp giữa địa khối Đà Lạt và miền sụt võng của châu thé sông Cửu Long. Từ giai đoạn Tân kiến tạo (Neogen cách đây 25 triệu năm), nhất là từ cuối thời Poliocene (5 triệu năm) đến đầu Pleistocene (2 triệu năm) xảy ra những hoạt động kiến tạo mạnh mẽ có tác động đến cảnh quan môi trường hiện tại. Cùng sự nâng lên của khối núi Nam Trung Bộ, và Tây Campuchia, sự hạ thấp bù trừ giữa hai sơn khối đó, xảy ra sự phun trào bazan qua các khe nứt kiến tạo mạnh mẽ có ảnh hưởng nhiều đến cảnh quan địa hình hiện nay.
Vào thời kỳ biến tiến Pleistocene giữa (700.000 năm) đã nhắn chim một phan đồng bằng Nam Bộ, đến Pleistocene muộn (125.000) biên lùi, đồng bang Nam Bộ được nâng lên, lộ ra trầm tích Pleistocene sau này gọi là phù sa cô vào khoảng thời Holocene trung kỳ cách ngày nay khoảng 6000 năm, hoạt động phun trào lớn xảy ra tạo thành lớp phủ bazan trẻ lên phần lớn bề mặt vùng Đông Nam Bộ. Dot biển tiến Holocene trung đạt mức cực đại 5m, sau đó biển rút dan. Đến 3000 năm cách ngày nay biển rút xuống tương đương mức nước hiện tại [40, tr. Quá trình biển thoái dẫn đến việc hình thành các đồng bằng phù sa trẻ ở Long Dat, ven sông Thị Vải, hệ rừng ngập mặn và rừng sac phía nam của tinh.
Về cơ bản kiến tạo địa chất, địa hình, thuỷ văn đã khá 6n định như cảnh quan hiện nay.500 cách ngày nay, các bãi biển hiện đại đã được hình thành. Các đồng băng thấp cửa sông phát triển trầm tích đầm lay biển. Các thung lũng bị bazan chắn dòng cơ bản được lấp day tạo thành các hồ, đầm lay, dọc theo bờ biển hình thành các cồn cát cao, tạo môi trường thuận lợi cho một sé bộ phận dân cư di chuyển, định cư dan ở các vùng thấp, gần các thềm sông, đồng băng ven biển. - Địa hình Năm trong vùng chuyên tiếp giữa cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ, địa hình Bà Rịa - Vũng Tàu có địa thế không cao lắm, chia cắt không mạnh, xu thế thấp 10 dần về phía nam.
Có bốn dạng địa hình cơ bản: miền đồi núi thấp, bậc thềm phù sa cô, miền đồng bằng ven biển, vùng sinh lầy ngập mặn cửa sông ven biên. Miền đồi núi thấp độ cao trung binh từ 100 đến 300m, được xem là địa hình cuối hệ núi và cao nguyên vùng Đông Nam Bộ. Địa hình phổ biến là đôi thấp, xen kẽ vài khối núi granít dựng đứng như núi Mây Tào, núi Dinh, núi Thị Vải, Châu Viên, núi Lớn, núi Nhỏ. Riêng Côn Đảo 88% là núi.
Bậc thềm phù sa cổ cao từ 50m đến 100m, phía nam miền núi thấp, từ Tân Thành đến Xuyên Mộc tạo thành dải đất khá bằng phăng, chủ yếu là đất xám, một số nơi xen lẫn đất bazan màu mỡ. Đồng bằng ven biển có độ cao dưới 50m tạo thành do phù sa sông, biển kết hợp. Dễ nhận thấy là phần đất bằng phăng xen giữa núi Lớn, núi Nhỏ, ở Vũng Tau qua ria nam Long Dat, Xuyên Mộc là những cồn cát, bãi lay. Vùng sinh lầy ngập mặn ven biển đang tiếp tục hình thành bởi lượng phù sa lắng đọng của sông Đồng Nai, sông Thị Vải, sông Dinh, sông Ray.
Là địa bàn phát triển của sú, vẹt, đước, đây cũng là nơi nhiều tôm cá và các loài giáp xác. - Khí hậu Năm trong vùng khí hậu cận xích đạo, chế độ gió mùa, nóng ầm, quanh năm. Ba Rịa - Vũng Tàu có khí hậu ôn hoà, nhiệt độ trung bình hằng năm từ 26°C đến 27°C. - SÔng ngòi Bà Rịa - Vũng Tàu không có những sông lớn.
Sông Thị Vải do ba dòng suối lớn hợp thành: suối Cả, suối Thái Phiên, suối Phú Mỹ (suối Nhum hay suối Nhung) chảy qua huyện Tân Thành chảy ra vịnh Ghénh Rai. Sông Dinh do suối Hoài, suối Cầu hợp thành chảy qua vùng Bà Rịa đồ ra vịnh Ghénh Rai. Sông Cái lớn nhất tỉnh, do sông Ray, sông Hoả, sông Bà Đáp hợp lại chảy qua Xuyên 11 Mộc, Long Đất đồ ra biên Đông. Tuy không có những con sông lớn chảy trên địa bàn tỉnh, nhưng vịnh Ghénh Rai lại là nơi hợp nguồn đồ ra biển của sông Đồng Nai.
Đây là nguồn cung cấp phù sa bồi đắp cho các đồng bằng phía nam tỉnh, đồng thời đó cùng là tuyến giao lưu chủ đạo giữa Bà Rịa - Vũng Tàu và khu vực. Biển và bờ biển. Vùng biển Bà Rịa - Vũng Tàu có đặc tính năng quanh năm, chứa đựng nhiều tài nguyên quý: dầu khí, cát trắng và hải sản. Có nhiều bãi cát đẹp thuận lợi cho phát triển du lịch.
Động thực vật. Rừng tự nhiên còn rất ít, trên địa bàn tỉnh còn 2 khu vườn quốc gia Bình Châu - Phước Bửu và Côn Đảo còn rừng nguyên sinh, nhiều gỗ quý, sinh vật biển đa dạng, phong phú. Bà Rịa - Vũng Tàu cũng như vùng Đông Nam Bộ, có điều kiện tự nhiên về mặt địa chất, địa hình, khí hậu, môi trường có nhiều đặc điểm liên quan đến đời sông của con người thời tiền sử với những nét chính sau: Có nhiều loại đá khác nhau vừa đủ độ cứng, vừa thích hợp đề chế tạo công cụ, không có hoặc gần như không có đá vôi nên rất ít hang động do đó di tích đều 16 ra ngoài trời [11, tr. Dia hình bi san bang và xâm thực mạnh mẽ, vỏ phong hoa phát triển, từ đó có nhiều loại đất sét, là nguyên liệu để làm gốm.
Mặt khác cũng có ý kiến cho rằng chính hiện tượng san băng, xâm thực đã làm cho các di tích cư trú của người tiền sử khó bảo tôn.