Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Tìm hiểu văn hóa người Tày ở huyện Bình Liêu (Quảng Ninh) để khai thác phát triển du lịch" do sinh viên Trần Thúy Hiền (ngành Văn hóa Du lịch, Trường Đại học Dân lập Hải Phòng) thực hiện năm 2010 dưới sự hướng dẫn của TS. Dương Văn Sáu.

Nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh du lịch văn hóa tộc người (Ethnic tourism) đang trở thành xu hướng được quan tâm tại Việt Nam và trên thế giới. Bình Liêu là huyện miền núi biên giới phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh, nơi có đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 96% dân số (trong đó người Tày chiếm 58,4%). Mặc dù sở hữu hệ thống tài nguyên nhân văn phong phú, các giá trị văn hóa truyền thống của người Tày tại đây đang đứng trước nguy cơ bị mai một, lai tạp do tác động của đời sống hiện đại, đồng thời việc khai thác phục vụ du lịch vẫn chưa được đầu tư thỏa đáng.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm 4 nội dung cụ thể:

  1. Giới thiệu bức tranh tổng quan về tài nguyên tự nhiên, kinh tế - xã hội và văn hóa của người Tày tại huyện Bình Liêu.
  2. Đánh giá điều kiện thực tiễn, những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển du lịch tại địa phương.
  3. Đề xuất các giải pháp, phương án phục hồi, bảo tồn các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc Tày.
  4. Đưa ra các kiến nghị đối với chính quyền các cấp và ngành văn hóa - du lịch nhằm phối hợp quy hoạch, khai thác hiệu quả tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ các yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể của người Tày trên địa bàn huyện Bình Liêu. Phạm vi không gian được xác định trong ranh giới hành chính huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh; phạm vi thời gian tập trung vào thực trạng đời sống văn hóa và hoạt động du lịch tại địa phương giai đoạn đến năm 2010.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận vận dụng các khái niệm nền tảng về văn hóa học và du lịch học:

  • Khái niệm văn hóa vật thể: Trích dẫn từ Bách khoa toàn thư Việt Nam, xác định là các sáng tạo hữu hình của con người (nhà cửa, công cụ, vũ khí, ẩm thực...).
  • Khái niệm văn hóa phi vật thể: Vận dụng định nghĩa từ Từ điển Tiếng Việt, bao gồm toàn bộ kinh nghiệm tinh thần, tri thức dân gian, phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng và văn học nghệ thuật.
  • Tài liệu dân tộc học và lịch sử: Sử dụng các ghi chép của Reversery (1905), Lagarrue, Tiểu dẫn về tỉnh Hải Ninh (1932), Lược chí địa lý khu tự trị vùng Hải Ninh của Voòng A Sáng (1949) và Dư địa chí Quảng Ninh để làm rõ nguồn gốc nhóm Tày (nhóm Phén và nhóm Thổ/Hờn Bạn) thuộc khối Bách Việt xưa.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu thực địa: Tác giả trực tiếp khảo sát đời sống cư dân tại các xã và thị trấn thuộc huyện Bình Liêu; thực hiện phỏng vấn sâu người dân ở nhiều lứa tuổi và cương vị khác nhau; kết hợp ghi chép, ghi âm và chụp ảnh tư liệu.
  • Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Thu thập số liệu thống kê từ báo cáo của Phòng Văn hóa - Thông tin và Tuyên truyền huyện Bình Liêu, các dự án quy hoạch địa phương, giáo trình chuyên ngành và tài liệu lưu trữ; tiến hành phân loại, thống kê, so sánh và đối chiếu.
  • Phương pháp tham vấn chuyên gia: Tham khảo ý kiến định hướng từ các nhà nghiên cứu dân tộc học, chuyên gia du lịch và giảng viên chuyên ngành để đảm bảo tính chuẩn xác khoa học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Bình Liêu (Quảng Ninh) trong cảnh quan chung của miền Đông Bắc

Chương 1 hệ thống hóa điều kiện địa lý, tự nhiên, kinh tế - xã hội và tiềm năng du lịch tổng thể của huyện:

  • Lịch sử và vị trí địa lý: Nguyên xưa Bình Liêu thuộc Châu Tiên Yên. Ngày 16/12/1919, chính quyền thực dân ra nghị định tách hai tổng Bình Liêu và Vô Ngại lập thành Châu Bình Liêu (thuộc phủ Hải Ninh). Địa phương có vị trí từ 21°27' đến 21°29' vĩ độ Bắc và 107°17' đến 107°36' kinh độ Đông; cách Hạ Long 130 km; có 42,9 km đường biên giới giáp Sùng Tả và Phòng Thành (Quảng Tây, Trung Quốc). Địa phương ghi dấu các sự kiện lịch sử như cuộc binh biến Đội Sáng (1917–1919), thành lập chính quyền cách mạng ngày 20/11/1945, giải phóng huyện ngày 25/12/1950 và bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 tại Cao Ba Lanh, Đồng Văn, Hoành Mô.
  • Điều kiện tự nhiên: Tổng diện tích 471,38 km²; đất nông nghiệp chiếm 15,6% (hơn 7.000 ha, trong đó ruộng lúa và hoa màu hơn 2.000 ha, đồi cỏ hơn 4.000 ha); đất lâm nghiệp chiếm 70% diện tích toàn huyện. Khí hậu có 4 mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình 17–22°C (mùa đông có thể xuống 4°C, có sương muối), lượng mưa trung bình trên 2.400 mm/năm (165 ngày mưa), độ ẩm trên 80%. Sông Tiên Yên là nguồn cấp nước chính với lưu lượng trung bình 21,3 m³/s (khoảng 609 triệu m³/năm). Tài nguyên khoáng sản có mỏ Alumin trữ lượng ước tính 35 triệu tấn và quặng Bô-xít tại xã Vô Ngại.
Dân tộc Tỷ lệ dân số (%) Địa bàn cư trú chủ yếu
Tày 58,4% Tập trung thành bản ở vùng thấp và thị trấn Bình Liêu
Dao 25,6% Xã Đồng Văn và Hoành Mô
Sán Chay (Sán Chỉ) 15,4% Tập trung đông nhất tại xã Húc Động
Kinh 3,7% Rải rác tại các khu trung tâm
Hoa 0,3% Vùng biên giới và trung tâm thương mại
  • Kinh tế: Trọng tâm là nông - lâm nghiệp và thương mại cửa khẩu. Độ che phủ rừng đạt 45,1% (thông Mã Vĩ chiếm 57%, cây keo chiếm 30% diện tích rừng trồng mới hàng năm). Nghề chế biến miến dong từ củ dong riềng (vụ thu hoạch từ tháng 3 đến tháng 11) trở thành đặc sản hàng hóa. Năm 2009, kim ngạch xuất nhập khẩu qua Cửa khẩu Hoành Mô đạt 18 triệu USD (xuất khẩu 7 triệu USD); toàn huyện có 420 hộ kinh doanh.
  • Tiềm năng du lịch:
    • Sinh thái tự nhiên: Thác Khe Vằn (xã Húc Động, cao gần 100m, 3 tầng, mặt bằng 840 m², được Sở VHTTDL thẩm định hồ sơ xếp hạng danh thắng cấp tỉnh ngày 05–06/11/2009), thác Khe Tiền (xã Đồng Văn, 2 tầng), đỉnh Cao Xiêm (cao 1.330 m tại xã Lục Hồn), đỉnh Cao Ba Lanh (cao 1.050 m tại xã Đồng Văn, có truyền thuyết "đá thần" gõ kêu như chuông).
    • Sinh thái nhân văn: Di tích Cây đa lịch sử Lục Hồn; Đình Lục Nà (xã Lục Hồn, thờ Thành Hoàng Hoàng Cần, khởi công tôn tạo ngày 23/07/2009 trên diện tích 10.187 m², đình chính 3 gian 2 chái rộng 187 m²); Cầu treo Vô Ngại (xây dựng năm 2003 qua suối Bản Ngày); Lễ hội Soóng Cọ của người Sán Chỉ (16/3 âm lịch); Ngày hội Sán cố/chợ tình của người Dao (04/4 âm lịch tại Đồng Văn); Chợ phiên Bình Liêu họp định kỳ (đông nhất vào Chủ nhật); Cửa khẩu quốc gia Hoành Mô có Nhà kiểm soát liên ngành.

Chương 2: Văn hóa của người Tày ở Bình Liêu (Quảng Ninh)

Chương 2 mô tả chi tiết các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của cộng đồng người Tày:

  • Lịch sử và dân cư: Dân tộc Tày tại Bình Liêu gồm hai nhóm lịch sử là nhóm Phén (nguồn gốc Phòng Thành) và nhóm Thổ/Hờn Bạn (nguồn gốc Khâm Châu). Theo thống kê năm 1989, toàn huyện có 10.758 người Tày (chiếm 46% tổng số người Tày toàn tỉnh Quảng Ninh).
  • Chu kỳ sản xuất nông nghiệp: Đồng bào canh tác ruộng lúa nước kết hợp nương rẫy, trồng hoa màu, đào ao thả cá, chăn nuôi gia súc theo lịch sản xuất 12 tháng:
Thời gian (Âm lịch) Nội dung công việc sản xuất và sinh hoạt
Tháng 1 Ăn Tết Nguyên đán, làm lễ xuống đồng, phát nương trồng ngô và cây màu
Tháng 2 Tiếp tục gieo trồng các loại ngô, màu
Tháng 3 Vun xới ngô, màu; cày bừa ruộng; gieo mạ vụ chiêm
Tháng 4 Cày bừa ruộng cấy, tu bổ hệ thống mương phai dẫn nước
Tháng 5 - Tháng 6 Nhổ mạ cấy lúa, thu hoạch hoa màu vụ xuân
Tháng 7 - Tháng 8 Chăm sóc, làm cỏ lúa; thu hái lâm, thổ sản
Tháng 9 - Tháng 10 Thu hoạch lúa mùa, làm lễ cơm mới, sửa chữa nhà cửa, tổ chức cưới hỏi
Tháng 11 - Tháng 12 Tiến hành nghi lễ cưới hỏi, nghỉ ngơi, thăm họ hàng, chuẩn bị Tết Nguyên đán
  • Văn hóa vật thể:
    • Kiến trúc nhà ở: Bản người Tày gồm 20–100 nóc nhà định cư ven chân núi, thung lũng. Tồn tại nhà sàn (khung vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột, 2 hoặc 4 mái lợp ngói/tranh/lá, phân chia gian nam ở ngoài, gian nữ ở buồng trong), nhà đất và nhà phòng thủ vùng biên giới. Khi khánh thành nhà mới, gia chủ có tục giữ ngọn lửa cháy liên tục suốt đêm.
    • Trang phục: Tự dệt bằng sợi bông nhuộm chàm đồng nhất, không thêu hoa văn sặc sỡ. Nam giới mặc áo cánh 4 thân xẻ ngực, áo dài 5 thân cài cúc đồng/vải, quần đũng chéo dài chấm mắt cá, quấn khăn chàm chữ "nhân". Nữ giới mặc áo cánh ngắn lót trắng bên trong, khoác áo dài 5 thân cài khuy nách phải, đội khăn chàm gập mỏ quạ, đội nón nan tre lợp lá dáng phẳng rộng; trang sức bạc gồm vòng cổ, vòng tay, xà tích. Kỹ thuật dệt thổ cẩm thể hiện hoa văn đen trên nền trắng, mặt chăn có diềm trên biểu trưng cõi trời (thần linh bảo hộ) và diềm dưới biểu trưng cõi đất (chim muông, cây cỏ).
    • Công cụ và phương tiện: Sử dụng cày chìa vôi, bừa răng gỗ, cọn nước, máng đập lúa bằng gỗ (loỏng), dậu gánh thóc, túi vải đeo vai, bè mảng sông suối; vũ khí săn bắn và tự vệ gồm súng kíp, dao quắm, bẫy gỗ.
  • Văn hóa phi vật thể:
    • Ngôn ngữ và văn học nghệ thuật: Sử dụng tiếng Tày và chữ Nôm Tày (xuất hiện khoảng thế kỷ XV, dùng trong ghi chép truyện thơ, bài cúng). Hát Then kết hợp đàn tính (2–3 dây, cần gỗ, bầu đàn bằng vỏ quả bầu khô) giữ vai trò chủ đạo trong nghi lễ và giao duyên. Địa phương ghi nhận công lao bảo tồn của nghệ nhân Lô Chính trong quá khứ và ông Ngô Đức Nguyên (sưu tầm, sáng tác hàng trăm bài then mới, in ấn thành sách). Hát Then Bình Liêu đang được Sở VHTTDL phục dựng qua hai nhánh: then đàn tính biểu diễn và then nghi lễ cổ (cấp sắc, lảu then). Các điệu dân ca giao duyên khác gồm có hát lượn, hát phong slư.
    • Tín ngưỡng, phong tục: Không theo các tôn giáo lớn; trung tâm tín ngưỡng là bàn thờ tổ tiên, thần Bếp (Táo quân - đặt ống tre dán giấy đỏ cạnh bếp) và Thổ công. Tục lệ ngày 30 Tết làm lễ dán giấy đỏ cho các nông cụ (cày, bừa, dao) nghỉ ngơi. Quan hệ gia đình phụ hệ, phụ quyền, hôn nhân một vợ một chồng ngoại hôn dòng họ.
    • Nghi lễ chu kỳ đời người: Khi mang thai phụ nữ uống chén nước trước bữa ăn để tránh đẻ khan, kiêng bước qua dây buộc trâu/ngựa/chày đâm tiêu; sau sinh 42 ngày mới được về nhà ngoại, tắm nước lá sau 2–3 tuần; làm lễ đầy tháng vào ngày thứ 25 đối với bé trai và ngày thứ 30 đối với bé gái; lễ đầy năm tròn 1 tuổi. Hôn nhân thực hiện qua lễ dạm hỏi (xem tử vi), lễ trầu cau (trao giấy hồng điều Lục mệnh 12 cung), lễ kê khai thách cưới (trước 2–3 tháng; cô dâu chuẩn bị chăn gối tự dệt tặng gia đình nhà chồng), lễ đón dâu và lễ lại mặt sau 3 ngày (chú rể tự nấu 4–5 mâm cơm tạ ơn nhà gái). Nghi lễ mừng thọ người cao tuổi gồm các bước: dựng lương, chuyển lương, dâng rượu đốt đèn, hoàn phúc, làm lường (buộc lầu váng đựng gạo cao 40 cm vào cây thượng lương bằng 3 sợi chỉ màu) và trồng cây mệnh (cây mai hoặc chuối). Tang ma thực hiện nghiêm ngặt (con cháu nhịn ăn đến khi khâm liệm, phụ nữ mang thai đứng xa khi hạ huyệt, mãn tang sau 3 năm).
    • Ẩm thực truyền thống: Xôi đăm đeng (nhuộm các màu đỏ, tím, vàng, đen bằng lá cẩm và cỏ cây rừng tự nhiên), bánh chưng dài (gói ngày 27–28 Tết, đường kính ~8 cm, luộc 10 tiếng), bánh coóc mò (gói lá chít hình chóp nhọn 7–10 cm), bánh gio (ngâm nước gio 6–8 tiếng, chấm mật ong rừng dịp Tết Đoan ngọ), bánh gật gù (bánh tráng tươi cuộn tròn dài 25–30 cm), món khau nhục (thịt ba chỉ thái miếng 2×10 cm, châm bì ngâm giấm, tẩm húng lìu mật ong chao dầu, hấp cách thủy 3–4 tiếng cùng lá tàu soi và gia vị phù nhủi), món nằm quắt (chân giò ninh sệt cùng rượu gừng tỏi).
    • Lễ hội truyền thống: Tết Nguyên đán (bắt đầu từ 28 tháng Chạp, buộc 4 cây mía vào 4 góc bàn thờ, mùng 1 kiêng người lạ vào nhà, mùng 2 thăm bên ngoại, mùng 7 ra đồng, rằm tháng Giêng ăn tết lại); Lễ hội Lồng Tồng (hội xuống đồng tháng Giêng - Hai âm lịch có thi cày cấy, tung còn, đẩy gậy); Tết cơm mới (tháng 10–11 âm lịch, cúng cơm nếp mới tạ ơn tổ tiên và trời đất).

Chương 3: Khai thác các yếu tố văn hóa của người Tày để phát triển du lịch văn hóa ở Bình Liêu (Quảng Ninh)

Chương 3 tổng kết điều kiện thực tiễn và xác định định hướng khai thác tài nguyên:

  • Thực trạng hoạt động du lịch: Hạ tầng kỹ thuật, đường giao thông liên xã và cơ sở lưu trú tại Bình Liêu giai đoạn 2010 còn ở mức sơ khai; bộ máy quản lý và đội ngũ nhân lực du lịch chưa qua đào tạo chuyên sâu; các giá trị văn hóa Tày mới chỉ được khai thác tự phát qua các dịp lễ hội, chợ phiên.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất:
    • Quy hoạch không gian du lịch: Thiết kế không gian lãnh thổ gắn kết các điểm tài nguyên tự nhiên (thác Khe Vằn, Khe Tiền, núi Cao Xiêm, Cao Ba Lanh) với các bản văn hóa Tày truyền thống và di tích Lục Nà, cửa khẩu Hoành Mô.
    • Xây dựng cơ sở hạ tầng: Đầu tư hạ tầng giao thông, hệ thống cơ sở lưu trú và điểm dừng chân mô phỏng kiến trúc nhà sàn truyền thống, sử dụng vật liệu thân thiện môi trường.
    • Phát triển sản phẩm và dịch vụ đặc thù: Tổ chức các tour trải nghiệm văn hóa bản làng, thưởng thức ẩm thực dân tộc (xôi đăm đeng, khau nhục, miến dong), tham quan làng nghề dệt thổ cẩm, tổ chức các chương trình biểu diễn nghệ thuật hát Then đàn tính và tái hiện không gian lễ hội Lồng Tồng.
    • Tạo dựng môi trường văn hóa và đào tạo nhân lực: Khuyến khích người dân địa phương tham gia bảo tồn nếp sống văn hóa, đào tạo kỹ năng du lịch cộng đồng cho bà con người Tày.
    • Tuyên truyền, quảng bá và xúc tiến thị trường: Liên kết tuyến du lịch văn hóa Bình Liêu với trung tâm du lịch Hạ Long, Tiên Yên, Móng Cái và thị trường du lịch qua biên giới Trung Quốc.

Kết quả và đóng góp của khóa luận

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể:

  • Hệ thống hóa dữ liệu dân tộc học và du lịch: Tập hợp tương đối toàn diện các số liệu về địa lý, tự nhiên, cơ cấu 5 dân tộc (Tày 58,4%, Dao 25,6%, Sán Chay 15,4%, Kinh 3,7%, Hoa 0,3%) và lịch sử hình thành huyện Bình Liêu.
  • Khảo cứu chi tiết văn hóa tộc người Tày: Cung cấp bức tranh chi tiết về văn hóa vật thể (nhà sàn, trang phục chàm, thổ cẩm, công cụ sản xuất) và phi vật thể (nghệ thuật hát Then đàn tính, tập tục chu kỳ đời người, hệ thống ẩm thực dân gian, lễ hội Lồng Tồng, Tết cơm mới).
  • Đóng góp ứng dụng thực tiễn: Khắc phục khoảng trống của các nghiên cứu đi trước (vốn chỉ khảo cứu chung về huyện hoặc chỉ đi sâu vào một làn điệu đơn lẻ); đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp mang tính khả thi để chuyển hóa các giá trị văn hóa bản địa thành sản phẩm du lịch đặc thù tại vùng Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế: Do nguồn lực thực hiện khóa luận tốt nghiệp năm 2010 và đặc thù địa bàn du lịch mới ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, công trình chưa triển khai được các cuộc khảo sát xã hội học định lượng quy mô lớn về mức độ chi tiêu và nhu cầu thực tế của du khách ngoài tỉnh; các đề xuất về hạ tầng chủ yếu dừng ở mức định hướng khung.
  • Hướng mở rộng: Mở rộng nghiên cứu xây dựng các sản phẩm du lịch liên kết liên huyện (Hạ Long – Tiên Yên – Bình Liêu – Móng Cái); khảo cứu sâu hơn sự giao thoa văn hóa giữa người Tày với người Dao và người Sán Chỉ trên cùng địa bàn nhằm đa dạng hóa chuỗi sản phẩm du lịch văn hóa vùng biên giới.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên: Chuyên ngành Văn hóa học, Dân tộc học, Du lịch học, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành cần tài liệu khảo cứu thực tế về văn hóa dân tộc Tày và phương pháp xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa tộc người.
  • Cơ quan quản lý và doanh nghiệp lữ hành: Phòng Văn hóa - Thông tin, Trung tâm xúc tiến du lịch tỉnh Quảng Ninh và các đơn vị lữ hành đang nghiên cứu tuyến điểm du lịch sinh thái - văn hóa cộng đồng tại khu vực miền núi Đông Bắc.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu dân tộc và vị trí của người Tày tại huyện Bình Liêu được xác định như thế nào trong khóa luận?

Theo số liệu thống kê được trích dẫn trong khóa luận, người dân tộc thiểu số chiếm 96% dân số toàn huyện Bình Liêu. Trong đó, người Tày chiếm tỷ lệ đông nhất với 58,4% (năm 1989 ghi nhận 10.758 người Tày, chiếm 46% người Tày toàn tỉnh Quảng Ninh), tiếp theo là người Dao (25,6%), người Sán Chay (15,4%), người Kinh (3,7%) và người Hoa (0,3%).

2. Nghệ thuật hát Then và đàn tính của người Tày Bình Liêu có những đặc điểm gì đáng chú ý?

Hát Then của người Tày Bình Liêu vừa mang tính giao duyên vừa mang tính nghi lễ (lảy then, bói then, cúng then), sử dụng cây đàn tính làm bằng vỏ quả bầu khô, cần gỗ và 2–3 dây tơ. Nghệ thuật này gắn liền với nghệ nhân Lô Chính trong quá khứ và ông Ngô Đức Nguyên (người sáng tác hàng trăm bài then mới). Địa phương bảo tồn Then qua hai nhánh: Then đàn tính hiện đại và Then nghi lễ cổ gồm lễ cấp sắc và lảu then.

3. Những món ăn truyền thống tiêu biểu nào của người Tày Bình Liêu được ghi nhận trong nghiên cứu?

Khóa luận mô tả chi tiết quy trình chế biến các món: xôi đăm đeng (nhuộm màu tự nhiên từ lá cẩm và thảo mộc rừng), bánh chưng dài (gói không dùng khuôn ngày 27–28 Tết, luộc 10 tiếng), bánh coóc mò (gói lá chít), bánh gio (ngâm nước gio 6–8 tiếng chấm mật ong rừng), bánh gật gù (tráng bột gạo tươi cuốn dài 25–30 cm), khau nhục (thịt ba chỉ tẩm húng lìu, mật ong chao vàng hấp cách thủy 3–4 tiếng cùng lá tàu soi) và món nằm quắt (chân giò hầm sệt cùng rượu gừng tỏi).

4. Các nghi lễ chu kỳ đời người của người Tày Bình Liêu có những quy định phong tục nào đặc thù?

Trong sinh nở, lễ đầy tháng được tổ chức vào ngày thứ 25 cho bé trai và ngày thứ 30 cho bé gái; sản phụ sau sinh đúng 42 ngày mới được về nhà ngoại. Trong hôn nhân, nhà trai phải xin giấy hồng điều Lục mệnh 12 cung của cô dâu, cô dâu tự tay dệt chăn gối biếu họ hàng nhà chồng và chú rể phải nấu 4–5 mâm cơm trong lễ lại mặt sau ngày cưới 3 ngày. Trong lễ mừng thọ, gia đình thực hiện nghi thức làm lường (dùng 3 sợi chỉ màu buộc lầu váng vào thượng lương) và trồng cây mệnh (cây mai hoặc chuối).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thúy Hiền đã phác họa toàn diện bức tranh văn hóa dân gian phong phú của dân tộc Tày tại huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh. Công trình đã làm rõ mối liên hệ hữu cơ giữa việc bảo tồn di sản văn hóa truyền thống với yêu cầu phát triển du lịch bền vững tại vùng cao biên giới. Những phân tích thực trạng và giải pháp quy hoạch trong tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu học thuật có giá trị cho công tác nghiên cứu dân tộc học và định hướng phát triển du lịch địa phương.