Chương 1 TỔNG QUAN TƯ LIỆU 1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội Liên Khê là một xã nằm ở phía Bắc của huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, cách trung tâm huyện lỵ khoảng 15 km. Phía Bắc giáp sông Đá Bạc, bên kia sông là tỉnh Quảng Ninh; phía Nam giáp xã Kênh Giang; phía Tây giáp xã Lại Xuân và xã Kỳ Sơn; phía Đông giáp các xã Lưu Kỳ, Lưu Kiếm; phía Tây Nam giáp xã Chính Mỹ (đều cùng huyện Thủy Nguyên). Diện tích tự nhiên là 1.392,58ha, trong đó đất nông nghiệp 734,36ha, đất phi nông nghiệp 491,04ha.
Dân số xã là 10. Liên Khê nằm tại nơi có hai con sông Đá Bạc và sông Giá chảy qua. Địa hình khu vực này khá đa dạng, có núi cao, ruộng phẳng xen kẽ nhiều kênh rạch. Nhiều dãy núi đá vôi và núi đất nằm rải rác toàn xã như: núi Thành Dền, núi Bụt Mọc, núi Trẹo, núi Chùa Sối, núi Ngã Ba, núi Cặp Kẹ, núi Điệu Tú (Đạo Tú), núi Hang Lợp, núi Cống Đá, núi Bài Tằm, núi Cổ Ngựa…, tạo thành tấm bình phong thiên nhiên che chắn cả vùng đất Thủy Nguyên cũng như thành phố Hải Phòng.
Trước năm 1945, xã Liên Khê thuộc huyện Yên Hưng (Quảng Yên), sau đó đến tháng 3 năm 1957, xã được tái lập, tách từ xã Lưu Kiếm cũ. Từ cuối năm 1958, xã thuộc huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Năm 2014, xã Liên Khê có các làng Thụ Khê, Thiểm Khê, Mai Động, Điệu Tú (Đạo Tú) và Quỳ Khê, trong đó có 11 thôn (từ thôn 1 đến 11). Toàn bộ xã Liên Khê hiện nay thuộc tổng Trúc Động, huyện Yên Hưng trước kia.
Tổng Trúc Động gồm phần đất mà hiện nay thuộc địa phận các xã Lưu Kiếm, Lưu Kỳ và Liên Khê. Trước năm 1813, tổng Trúc Động thuộc huyện Thuỷ Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương, gồm 9 xã Trúc Động, Hưu Liệt (trước 1927 đổi thành xã Mỹ Liệt), Mai Động, Quỳ Khê, Đạo Tú, Phúc Liệt, 7 Luan van Điệu Khê, Thụ Khê, Viên Khê. Từ 1831, thuộc huyện Thuỷ Đường, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Theo sách Hải Dương toàn hạt dư địa chí, tổng Trúc Động gồm 9 xã kể trên.
Từ ngày 31 tháng 1 năm 1898, xã thuộc huyện Thuỷ Nguyên, tỉnh Phù Liễn. Từ 1901 đến trước năm 1945, tổng Trúc Động được cắt về huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên. Liên Khê là vùng đất có lịch sử hình thành lâu đời, có nền văn hoá mang nét đặc sắc riêng của vùng đất ven sông Đá Bạc, sông Bạch Đằng. Từ rất sớm, đặc biệt thời kỳ văn hoá Đông Sơn, con người đã đến đây sinh sống.
Điều này được minh chứng qua những tư liệu khảo cổ học phát hiện được ở đây như trống đồng, rìu đồng, lưỡi mai đồng, đục sắt trên núi Trọi (thôn Mai Động); mộ thuyền ở Đượng Ruối, ở chân núi Thành Dền, thôn Thiểm Khê; mộ gạch ở núi Điệu Tú. Năm 2015, trong đợt khảo sát di sản văn hoá tại các thôn, làng ở xã Liên Khê, nhóm cán bộ Bảo tàng Hải Phòng đã phát hiện và sưu tầm được nhiều hiện vật như đồ gốm, đồ đồng (rìu đồng, mũi tên đồng, trống đồng, tiền đồng), có niên đại trải dài từ thế kỷ I đến thế kỷ XVIII - XIX. Điều đó minh chứng cho vùng đất này có bề dày lịch sử và giàu di sản lịch sử văn hóa. Vùng đất Liên Khê cũng là nơi chứng kiến những trận đánh lớn trong lịch sử dân tộc.
Cuối thế kỷ XIII, tổng Trúc Động là căn cứ thủy quân lớn của nhà Trần. Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn đã về đây lập căn cứ chỉ huy trận chiến Bạch Đằng. Đây cũng là nơi diễn ra trận Trúc Động oanh liệt, góp phần làm nên chiến thắng Bạch Đằng lịch sử. Sách Đồng Khánh địa dư chí trong mục Đền miếu, huyện Thủy Đường, tỉnh Hải Dương chép: “Đền thờ Trần Hưng Đạo vương ở xã Thụ Khê.
Dân bản xã phụng thờ. Ngày trước, khi đại vương đi đánh Ô Mã Nhi, cho quân dừng lại đóng đồn ở núi Thụ Khê, sau khi phá tan quân giặc, vương có để lại ở đó một thanh kiếm. Người trong làng lập đền thờ phụng” (nay vẫn gọi là đền Thụ Khê, hiện còn chữ Hán đắp trên cổng đền ghi lại sự tích đó bằng việc lấy tên là đền Lưu Kiếm) [21, tr. 8 Luan van Về trận chiến ở Trúc Động (nơi có đền núi Thụ), Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm trong sách Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII có viết: “Sau khi đã về đóng ở Vạn Kiếp, Thoát Hoan lại sai A Ba Tri đem quân đánh vào căn cứ của vua Trần ở Trúc Động (nay là xã Lưu Kiếm, huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng) và cửa biển An Bang, Quảng Yên.
209 An Nam truyện, t. Ngày mùng 7 tháng 3 (8/4/1288) thuyền quân Nguyên mới tiến đến Trúc Động trên sông Giá. Trúc Động đã từng chiến đấu với kỵ binh của A Ba Tri và thuỷ quân của Ô Mã Nhi trong tháng 2 âm lịch (Nguyên sử, q.129 Lai A Bát Xích truyện t.2a; “Cố thừa sự lang Tượng sơn huyện doãn Lý hầu mộ bi”, trong Từ Khê văn cảo, q.18 của Tô Thiên Tước). Bấy giờ các chiến sĩ Đại Việt ở Trúc Động lại một lần nữa chặn đánh địch.
Theo Lê Tắc thì trong trận Trúc Động này, viên tướng giặc là Lưu Khê đã đánh lui quân ta và cướp được 20 chiếc thuyền (An Nam chí lược, q. Điều đó không đúng vì Lưu Khuê, có lẽ là viên tướng chỉ huy bộ phận đi trước dò đường, sau khi bị quân ta chặn đánh ở Trúc Động thì không thể tiến vào sông Giá để ra sông Bạch Đằng được. Toàn bộ binh thuyền của Ô Mã Nhi phải theo sông Đá Bạc để tiến xuống sông Bạch Đằng. Như vậy là Trúc Động đã hoàn thành nhiệm vụ chặn giặc, không cho chúng tiến vào sông Giá.
Chiến thắng ở Trúc Động đã bảo vệ cho trận địa phục kích của quân ta ở Bạch Đằng. Bấy giờ, ở sông Bạch Đằng, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã bố trí một trận địa phục kích lớn. Hưng Đạo vương đã cho đóng những cọc gỗ xuống lòng sông. Bên trên bãi cọc phủ cỏ để nguỵ trang.
Việc đẵn gỗ làm cọc và đóng cọc trên sông đã được chuẩn bị từ trước, có lẽ vào lúc quân Trần quay về hoạt động ở vùng Trúc Động, An Bang trong tháng 2 âm lịch (4/3-1/4/1288) và sau ngày Ô Mã Nhi cướp phá trại Quảng Yên (19/2 âm lịch, 22/3/1288). Nhân dân hai bên sông đã góp sức với quân sĩ trong việc chuẩn bị bãi cọc ở Bạch Đằng” [60, tr. Theo truyền thuyết dân gian địa phương, khu chùa Mai Động, xã Mai Động, tổng Trúc Động tương truyền là nơi Trần Hưng Đạo đặt kho quân lương 9 Luan van tiền phương của quân đội nhà Trần hay thung lũng chùa Thiểm Khê là nơi chiêu binh, luyện mã, là vị trí tập kết kỵ binh của quân đội nhà Trần. Hiện nay, trong hậu cung đền Thụ Khê còn bài vị cổ ghi duệ hiệu của Trần Hưng Đạo là: 最靈興道大王開國护國匡國保國輔國至忠大義豐勲偉烈灝靈卓偉上 等神 (Tối linh Hưng Đạo đại vương Khai quốc Hộ quốc Khuông quốc Bảo quốc Phò quốc Chí trung Đại nghĩa Phong huân Vĩ liệt Hạo linh Trác vỹ thượng đẳng thần).
Hay đền Thụ Khê còn lưu nhiều câu đối ca ngợi lòng trung quân của ông cũng như thắng lợi của trận Bạch Đằng và những đóng góp của nhân dân địa phương vùng Trúc Động, Thuỷ Nguyên: 在仁功德滕江 月留 劍 英 名 竹 洞 山 Tại nhân công đức Đằng Giang nguyệt Lưu kiếm anh danh Trúc Động sơn Nghĩa là: Công đức ở Người như trăng sáng sông Bạch Đằng Tài danh để lại kiếm ở núi Trúc Động Hay: 似古陳朝無敵 將于 今 樹 山 最 靈 祠 Tự cổ Trần triều vô địch tướng Vu kim Thụ sơn tối linh từ Dịch nghĩa: 10 Luan van Từ xưa triều Trần là tướng vô địch Đến nay núi Thụ có đền rất linh Hay: 在人功德滕江 月不 死 精 神 樹 嶺 雲 Tại nhân công đức Đằng giang nguyệt Bất tử tinh thần Thụ lĩnh vân Nghĩa là: Công đức ở Người như trăng sông Bạch Đằng Tinh thần bất tử như mây đỉnh núi Thụ Hay: 萬古白滕留正 氣四 時 赤 紫 木 殷 光 Vạn cổ Bạch Đằng lưu chính khí Tứ thời xích tử mộc ân quang Dịch nghĩa: Muôn thuở sông Bạch Đằng lưu khí chính Bốn mùa Trời Nam cây đầy ánh sáng Hay: 忠君三光傳萬劫 威余壹劍妙群妖 11 Luan van Trung quân tam quang truyền vạn kiếp Uy dư nhất kiếm diệu quần yêu Nghĩa là: Lòng trung trùm tam quang lưu truyền vạn kiếp Uy danh một kiếm khiếp đảm bọn yêu ma Hay khu vực chùa Thiểm Khê còn ngôi đền Tinh Quang thờ Đức Thánh Trần lưu đôi câu đối đắp ở trụ hiên về truyền thuyết đó: Đại tướng Trần Triều hạ mã điều binh chiến Thắng trận Bạch Đằng sử lưu địa Diệm sơn (Thiểm sơn) Tạm dịch: Đại tướng Triều Trần xuống ngựa điều quân chiến đấu Thắng trận Bạch Đằng sử lưu đất Diệm sơn Cũng tại khu vực Thuỷ Nguyên, vào cuối thế kỷ XVI, triều Mạc đã cho xây dựng thành Dền tại chân núi Thiểm Khê làm căn cứ phòng thủ vùng ven biển Đông Bắc. Sách Đại nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn chép trong mục Núi sông: “Núi Thiếm Khê (Thiểm Khê, Diệm Khê) ở cách huyện Thuỷ Đường 12 dặm về phía Bắc, đất đá lẫn lộn, tục gọi là thành “Thạch Bích”, trước kia nhà Mạc họp quân ở đây”. Sách Đồng Khánh địa dư chí cũng chép về núi này trong mục Núi sông: “Núi Diệm Khê ở tổng Trúc Động, liên tiếp nối nhau hơn hai chục ngọn. Dưới núi có thành cổ, gọi là thành Triền (thành Dền).
Tương truyền ngày trước nhà Mạc đóng quân đồn trú, đắp thành ở nơi đây. Đường sông đến đây chia làm ba nhánh, cho nên gọi là ngã ba Thành Triền. Núi này đối diện với núi Đồn Sơn thuộc huyện Đông Triều ở bên kia sông” [21, tr. Trong gia đoạn thế kỷ XVI, những dấu tích thời Mạc còn đọng lại khá đậm nét ở Liên Khê với pho tượng đá ở chùa Mai Động hay bia Trùng tu Bão Phúc Nham Phật tượng bi ký tạc tác niên hiệu Sùng Khang thứ 7 (1572) ở chùa 12 Luan van Quỳ Khê, xã Quỳ Khê, tổng Trúc Động (hiện chỉ còn thác bản ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
Những dấu tích đó đều góp phần quan trọng minh chứng cho lịch sử, truyền thống văn hoá của đất và người Liên Khê được kế nối, duy trì xuyên suốt chiều dài lịch sử từ thời tiền sơ sử sang thời Lý - Trần - Lê - Mạc và đến tận ngày nay.