Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN Để làm rõ những vấn đề đặt ra trong nội dung luận án, chúng tôi đi sâu phân tích các khái niệm chính: nghệ nhân, nghệ nhân Đờn ca tài tử Nam Bộ, bối cảnh xã hội đương đại và một số khái niệm liên quan. Đồng thời trình bày những luận điểm cơ bản của 2 lý thuyết: Đặc thù lịch sử và Lựa chọn duy lý để làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài. Các khái niệm liên quan đề tài 1.
Nghệ nhân Nghệ nhân - người thực hành di sản văn hóa Theo nghĩa của từ nguyên, “nghệ” là nghề có chuyên môn cao hoặc là nghệ thuật, “nhân” là người. Nghệ nhân được hiểu là người hoạt động có chuyên môn về một loại nghề nghiệp nào đó (thường là các nghề truyền thống). Từ điển tiếng Việt định nghĩa nghệ nhân: “Người chuyên nghề biểu diễn một bộ môn nghệ thuật hoặc chuyên làm một nghề thủ công mỹ nghệ, có tài nghệ cao” (Hoàng Phê cb, 2003, tr 676). Từ định nghĩa này, chúng tôi nhận thấy, nội hàm của khái niệm nghệ nhân có hai nghĩa cơ bản: 1/ Là người chuyên nghề biểu diễn thuộc một bộ môn nghệ thuật, hoặc thủ công - mĩ nghệ.
2/ Là người có tài nghệ cao được xã hội công nhận. Hay một định nghĩa khác cụ thể hơn đối với nghệ nhân thực hành di sản văn hóa phi vật thể: “Là người được kế thừa, nắm giữ di sản của cha ông truyền laị qua bao đời, tiếp tục thực hành, gìn giữ và trao truyền lại cho thế hệ mai sau. Nghệ nhân thực hành được ví như những “báu vật nhân văn sống”, “bảo tàng sống”, “kho tàng di sản văn hóa sống” không thể có một hình thức vật chất nào thay thế được” (Phạm Cao Quý, 2019, tr 2). Nghệ nhân trong âm nhạc dân gian (một trong những thành tố của văn hóa phi vật thể) thường được chia làm hai nhóm: nghệ nhân trình diễn và nghệ nhân chế tác.
Nghệ nhân trình diễn là người diễn tấu trên nhạc cụ, hoặc dùng chất giọng để diễn đạt lời ca, hay dùng động tác tay chân kết hợp hình thể để nhảy múa theo cách thức dân gian, hoặc theo những khuôn mẫu được đào tạo có hệ thống. Nghệ nhân chế tác là người làm ra các sản phẩm thủ công - mĩ nghệ tinh xảo, có tính thẩm mỹ cao, thể hiện sự khéo léo, điêu luyện hoặc ý tưởng mới lạ. Riêng với Đờn ca tài tử có 3 nhóm 11 nghệ nhân: nghệ nhân chế tác (làm ra các loại nhạc cụ), nghệ nhân trình diễn (đờn, ca) và nghệ nhân sáng tác (viết lời trên lòng bản hoặc sáng tác bản mới). Nghệ nhân - đối tượng của chính sách bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa Ở Việt Nam, nghệ nhân còn là đối tượng của chính sách nhà nước với mục đích bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc.
Theo Thông tư liên bộ số 41/2002/TTLT/BNN-BLĐTBXH-BVHTT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Văn hoá - Thông tin về việc hướng dẫn tiêu chuẩn, thủ tục xét công nhận danh hiệu và một số chính sách đãi ngộ, thì: “Nghệ nhân là công dân Việt Nam làm việc trong các ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp, thủ công mĩ nghệ truyền thống của Việt Nam”. Thông tư cũng đưa ra 4 tiêu chuẩn cụ thể về: trình độ, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức, chất lượng tác phẩm, sự phát huy và truyền dạy nghề nghiệp, để xét danh hiệu cho nghệ nhân. Tuy nhiên, nội dung văn bản này chưa đề cập đến nghệ nhân thực hành nghệ thuật dân gian truyền thống. Đến năm 2014, ở Việt Nam đã có một số di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận, việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản thông qua nghệ nhân càng trở nên cấp thiết.
Chính phủ ban hành Nghị định số 62/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2014 Về xét tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể. Theo Nghị định thì nghệ nhân được xét công nhận danh hiệu là “Công dân Việt Nam đang nắm giữ, truyền dạy và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể thuộc các loại hình: Tiếng nói, chữ viết; Ngữ văn dân gian; Nghệ thuật trình diễn dân gian; Tập quán xã hội và tín ngưỡng; Lễ hội truyền thống; Tri thức dân gian” (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Văn bản hợp nhất, 2019) Theo đó, danh hiệu Nghệ nhân nhân dân và Nghệ nhân ưu tú được xét tặng cho cá nhân phải đạt đủ các tiêu chuẩn sau: 1. Trung thành với tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị, tổ chức, địa phương; 2. Có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu trong cuộc sống; tâm huyết, tận tụy với nghề, được đồng nghiệp và quần chúng mến mộ, kính trọng; đào tạo được cá nhân đang tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể; 3.
Có tài năng nghề nghiệp đặc biệt xuất sắc, có cống hiến to lớn, tiêu biểu cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trong phạm vi cả nước (đối với Nghệ nhân nhân dân) hoặc của địa phương (đối với Nghệ nhân ưu tú ), 12 thể hiện ở việc nắm giữ kĩ năng, bí quyết thực hành di sản văn hóa phi vật thể, có thành tích, giải thưởng, sản phẩm tinh thần hoặc vật chất có giá trị cao (đối với Nghệ nhân nhân dân) và có giá trị (đối với Nghệ nhân ưu tú ) về lịch sử, văn hóa, khoa học, nghệ thuật, thẩm mĩ, kĩ thuật; 4. Có thời gian hoạt động trong nghề từ 20 năm trở lên (đối với Nghệ nhân nhân dân và đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú); có thời gian hoạt động trong nghề từ 15 năm trở lên (đối với Nghệ nhân ưu tú). Phân biệt những nét cơ bản về nghệ nhân, nghệ sĩ Hiện nay, có sự lẫn lộn trong cách dùng từ nghệ nhân và nghệ sĩ khi nói về những người hoạt động nghệ thuật dân gian. Mặc dù trên thực tế có một số nghệ sĩ xuất thân từ các gia đình làm nghệ thuật dân gian truyền thống (như Đờn ca tài tử, Ca trù, Quan họ), hoặc được đào tạo chính quy… song lại hoạt động ở các tổ chức văn nghệ dân gian (nhóm, câu lạc bộ).
Trong kho từ vựng tiếng Việt “nghệ sĩ” thường được hiểu là “người chuyên hoạt động (sáng tác hoặc biểu diễn) trong một bộ môn nghệ thuật” (Hoàng Phê cb, 2003, tr 676) hay là “người có học thức, dùng nghệ thuật để thi thố với đời như đàn, ca, hội họa, đóng kịch” (Bửu Kế, 1999, tr 1214). Ở hai định nghĩa này, chúng ta có thể nhận thấy, nghệ sĩ đều là người được đào tạo trường quy và hoạt động ở các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp. Nghệ sĩ cũng được chia thành hai nhóm: nghệ sĩ sáng tác và nghệ sĩ trình diễn. Như vậy, nghệ nhân và nghệ sĩ là những khái niệm gần gũi nhưng không đồng nhất về ý nghĩa.
Chúng tôi cho rằng, sự khác nhau cơ bản chính là ở tính chuyên nghiệp, phương thức đào tạo và mục đích hoạt động. Nếu nghệ sĩ là người có tài năng được đào tạo qua hệ thống trường lớp thì nghệ nhân cũng là người có tài năng, được truyền dạy từ gia đình “nhà nòi” hoặc học từ những nghệ nhân đi trước, theo phương thức truyền khẩu, truyền ngón. Nếu nghệ sĩ là người hoạt động chuyên nghiệp, mưu sinh bằng chính chuyên môn được đào tạo thì nghệ nhân là người hoạt động “nghiệp dư”, không đặt nặng vấn đề mưu sinh, nhất là đối với những nghệ nhân thực hành văn nghệ dân gian. Tuy nhiên, sự phân biệt ở đây chỉ có tính tương đối, bởi trên thực tế vẫn có một số nghệ nhân giỏi, có chuyên môn cao, hiện hoạt động chuyên nghiệp, thậm chí họ còn được mời giảng dạy chuyên môn ở các cơ sở đào tạo nghệ thuật chuyên nghiệp.
Nghệ nhân - Báu vật nhân văn sống ở các quốc gia Cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XXI, sự phát triển vượt bậc về kỹ thuật và công nghệ, sự giao lưu và hợp tác mở rộng trên phạm vi toàn cầu đã tác động rất lớn đến nghệ 13 nhân trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Trước thực tiễn đó, kì họp lần thứ 25 của UNESCO tại Paris vào ngày 15.1989 đã đưa ra khái niệm “Báu vật nhân văn sống” (Living Human Treasures) trong Khuyến nghị của UNESCO về việc Bảo vệ văn hóa cổ truyền và văn hóa dân gian. Khái niệm “Báu vật nhân văn sống” là những nghệ nhân tiếp tục được sử dụng tại điều 2 của Công ước về Bảo vệ Di sản Văn hóa phi vật thể do Đại hội đồng UNESCO thông qua vào năm 2003. Đến nay, hơn 80 quốc gia thành viên của UNESCO tham gia phê chuẩn và thực hiện công ước này.
Các tiêu chí để được công nhận là “báu vật nhân văn sống” do UNESCO đề ra gồm có: nghệ nhân xuất sắc trong việc áp dụng tri thức và kĩ năng nghề nghiệp, sự tận tụy cống hiến, khả năng phát triển hơn nữa kiến thức và kĩ năng đã có, khả năng truyền dạy kĩ năng và kiến thức cho người học. Trong xu hướng toàn cầu hóa văn hóa, các quốc gia trên thế giới đều chú trọng việc giữ gìn bản sắc dân tộc. Tuy nhiên, việc tôn vinh các nghệ nhân bằng cách thiết lập hệ thống “báu vật nhân văn sống” đã được Nhật Bản và Hàn Quốc đặc biệt chú trọng và có những hành động thiết thực trong việc phát huy vai trò nghệ nhân thực hành di sản văn hóa dân tộc. Ở Nhật Bản Đây là quốc gia đầu tiên đề ra chính sách tôn vinh “Báu vật nhân văn sống”.
Luật Bảo vệ tài sản văn hóa (文化財保护法: Văn hóa tài bảo hộ pháp) do chính phủ Nhật Bản ban hành năm 1950 đã sử dụng thuật ngữ “Jūyō mukei bunkazai hojisha” ( 重要無形文化財保特者: trọng yếu vô hình văn hóa tài bảo đặc giả) để chỉ cá nhân (hoặc nhóm người) đang nắm giữ và phổ biến những kĩ năng và bí quyết nhằm lưu truyền những tài sản văn hóa phi vật thể quan trọng của đất nước cho các thế hệ tương lai. Điều đó cho thấy việc bảo vệ hợp pháp di sản văn hóa phi vật thể (ICH) đã được thiết lập ở Nhật Bản sớm hơn bất kỳ quốc gia nào khác.