chương 1, trước hết chúng tôi sẽ trình bày khái niệm thơ thế sự. Tiếp đến là phần trình bày cơ sở xã hội và tư tưởng của thơ thế sự trong BVQNTT. Đây sẽ là cơ sở lí luận cần thiết để chúng tôi triển khai đề tài luận văn ở những chương sau. Khái niệm thơ thế sự Hiểu theo triết tự: “thế sự” chính là việc đời nhưng khi nói đến nội dung thơ thế sự thì nội hàm và ngoại diên của khái niệm này không còn bó hẹp trong nghĩa thông thường, cụ thể ấy.
Văn chương thế sự là loại văn chương phản ánh hiện thực xã hội, phản ánh cuộc sống đời thường hàng ngày của nhân sinh, thế cuộc với “những điều trông thấy”. Văn chương thế sự trong một ý nghĩa đơn giản nhất là phản ánh cả hiện tượng và bản chất của đời sống. i từ đi n Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý (Chủ biên), NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội - 1998) định nghĩa: “Thế sự là việc đời nhưng nó không đơn thuần là thời sự, thời thế. Có thể hiểu thế sự là những vấn đề, những việc đang diễn ra nóng hổi có liên quan nhất đến vấn đề chính trị, đến thể chế xã hội và số đông quần chúng nhân dân” [48; tr 1557].
Văn học là một hình thái ý thức xã hội đặc thù thuộc thượng tầng kiến trúc. Nó khác biệt so với khoa học, đạo đức và triết học… Văn học bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống, mà cuộc sống lại rất phong phú, đa dạng nhiều vẻ, khiến cho người nghệ sĩ chỉ phản ánh được những phương diện cụ thể của cuộc sống bề bộn ấy qua lăng kính chủ quan của mình. Nhưng những “mảnh ghép” cuộc sống ấy thường là những vấn đề thiết thực, nổi bật, mang tính thời sự, có ý nghĩa vận mệnh với cá nhân cũng như với cộng đồng, xã hội. Bởi thế, dù sáng tác theo khuynh hướng nào thì văn học cũng bị mối quan hệ này quy định.
Xét về thi pháp, văn học trung đại vốn dĩ bị khống chế trong một hệ thống những nguyên tắc nghiêm ngặt, khắt khe từ đề tài, chủ đề đến nội dung 17 tư tưởng và nhất là phương thức biểu đạt. “Luật lệ” này đã tồn được thừa nhận và tồn tại hàng bao nhiêu thế kỷ và rất ít sáng tác cho thấy sự “sáng tạo” của chủ thể tác giả. Văn học trung đại Việt Nam, với sự ra đời của chữ Nôm và nhất là TNĐL đã tạo điều kiện cho một sự “phá luật” mạnh mẽ. Từ một thứ văn chương với những nguyên tắc mực thước nghiêm cẩn, chính thống hướng tới thứ văn chương nôm na, phi chuẩn mực, phi chính thống, dân chủ về đề tài và chủ đề cho đến nhiều tư tưởng cũng phương thức thể hiện.
Điều đó cho thấy thơ thế sự được hiểu trong ý nghĩa thế sự vừa là đề tài, vừa là đối tượng thẩm mỹ trong sáng tác văn học vươn dần tới cái hằng ngày, đời thường của nhân sinh thế cuộc. Văn chương thế sự từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Bỉnh Khiêm và các tác giả này trong văn học trung đại Việt Nam đã đạt đến những thành tựu rất đáng trận trọng và cần được nghiên cứu trên cảm hứng chiều rộng lẫn chiều sâu. Thơ phản ánh tư duy thế sự của Nguyễn Bỉnh Khiêm có một vị trí trang trọng trên văn đàn văn học Việt Nam với sự tiếp nối dòng văn chương “cảm thán thời thế” trước đó và khẳng định một nội dung phản ánh của văn học. Cơ sở xã hội và tƣ tƣởng của thơ thế sự trong BVQNTT 1.
Cơ sở xã hội Ở thế kỷ XVI, chế độ phong kiến Việt Nam có những biểu hiện khủng hoảng trầm trọng. Mâu thuẫn, xung đột, tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến, gắn với việc hình thành Nam triều, Bắc triều. Các mối quan hệ xã hội cũ đang bị phá vỡ, các mối quan hệ xã hội mới đang nảy sinh, trái với những chuẩn mực của đạo đức Nho giáo và đạo lí truyền thống dân tộc. Xã hội bị phân hóa thành các cực đối lập, đặc biệt là quan hệ giữa người với người: giàu sang - nghèo hèn; được thời - thất thế…; giữa thế lực của đồng tiền với nhân phẩm, danh dự… Trong bối cảnh này, cuộc sống cơ cực của nhân dân cùng những vấn đề đạo đức xã hội được nhiều người quan tâm, đặc biệt là những nhà chân Nho như Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Chính vì thế, khi sáng 18 tác, các tác giả có nhu cầu hướng tới vấn đề thế sự. TNĐL cũng vì thế phát triển dòng thơ thế sự. Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi là cây đại thụ rợp bóng của thế kỷ XVI, ông đã sống gần trọn thế kỷ ấy và lại là người có tư tưởng tiêu biểu cho nhân sỹ thời bấy giờ. Nguyễn Bỉnh Khiêm là người tích cực đấu tranh xóa bỏ xung đột nội bộ, thực hiện hòa hợp và thống nhất dân tộc để phần nào tránh những đau khổ cho nhân dân.
Tuy nhiên, ông đã không thực hiện được hoài bão cao đẹp ấy. Ông theo bước tiền nhân như Đào Tiềm, Chu An về ở ẩn nhưng không đơn thuần chỉ là bảo vệ danh tiết của mình với triết lý “độc thiện kỳ thân”, mà còn dụng ý tìm một biện pháp thích hợp hơn, mong các tập đoàn phong kiến cát cứ thôi chém giết lẫn nhau. Những nỗi niềm trăn trở ấy đã làm nên những áng thơ nặng trĩu ưu tư, mang chứa tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Bỉnh Khiêm về thế sự. Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy muốn đóng góp việc đời, nhưng chủ yếu là thoát ra khỏi vòng danh lợi.
Thế nhưng ông vẫn phải trả lời nhiều người về những thắc mắc về ông. Ông muốn làm một Lã Vọng giúp đời chứ không muốn làm quan theo con đường tắt như Chung Nam. Trong một bài thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm từng trả lời Thái sứ Phùng Trường Lạc rằng: iếu danh khởi tiệp hung Nam kính hửng lo n tằng thi Vỵ ắc trù… (Đâu phải mua danh theo đường tắt Chung Nam, Mà vì muốn cứu loạn, bày mưu chước nơi Vỵ Bắc…) Qua lời thơ, người ta còn nhận thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm là một người có ý thức giữ danh tiết của mình và ông cũng lấy làm tiếc vì bình sinh đã vướng phải cái lầm của văn chương: Văn chương đa ngộ chung vi lụy (Bởi cái lầm của văn chương mà cuộc đời mang lụy). Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng như nhiều nhà Nho xuất thân cửa Khổng sân Trình đều có khát vọng dùng sự nghiệp khoa bảng và văn chương làm phương tiện giúp đời, cho trăm họ yên vui, thái bình.
Nhưng chính “cái bả” văn chương và “cái dây” khoa bảng đã 19 trói buộc bản thân mình lại, tạo nên cái sự bất đắc chí của bao người. Nguyễn Bỉnh Khiêm (và sau này là Phan Bội Châu) chỉ còn mong vào lớp học trò, lớp thiếu niên của mình có thể kế tục sự nghiệp và thực hiện hoài bão của ông, để non sông sớm thu về một mối. Trong sáng tác, cái âm hưởng “nhàn” không chỉ là đưa cái “tôi” tìm về thiên nhiên để lẩn tránh các quan hệ xã hội và dù có lẩn tránh thế nào thì ông cũng không thể sống một mình. Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn phải sống cùng mọi người với những mối quan hệ phức tạp.
Thơ của ông có nói đến chữ “nhàn” nhưng không phải là một cứu cánh mà như một phương thức tư duy, đây cũng chính là chỗ đặc sắc trong thơ thế sự Nguyễn Bỉnh Khiêm. Qua thơ, chúng ta có thể nhận thấy ngòi bút của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã trình bày khá nhiều mặt của đời sống tâm lý xã hội thời ông. Ông không phải là một người sống “nhàn” như quan niệm thông tục xưa nay. Nhà thơ sống gắn bó với đời sống nhân dân và có một năng lực quan sát tinh tế mới với những nhận xét sắc sảo và chính xác.
Thơ thế sự trong tập thơ BVQNTT của Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ cho ta thấy một cách toàn diện và sâu sắc con người và nhân cách nhà thơ và những vấn đề về cuộc sống và con người thời bấy giờ. Từ nhu cầu nhận thức về cuộc sống của nhà thơ Như chúng ta đã biết, con người luôn có nhu cầu nhận thức những vấn đề đặt ra trong thế sự. Thơ thế sự bởi thế không chỉ đơn giản là sự ghi chép những biến đổi của thế thái nhân tình “nhãn tiền”, mà còn thể hiện sự nhận thức bản thân trước những biến đổi của tâm hồn con người trong sự biến đổi của lịch sử xã hội. Lựa chọn một thái độ sống đúng đắn trước những biến đổi của nhân tình thế thái là một việc làm không hề đơn giản, nhất là đối với những trí thức nhà Nho.
Trong lịch sử văn học Việt Nam, đã có rất nhiều nhà thơ đưa chủ đề thế sự hoặc phản ánh những vấn đề thế sự trong sáng tác của mình. Chẳng hạn, trước Nguyễn Bỉnh Khiêm có các tác giả tiêu biểu như Chu An, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi… cuối thời Trần, 20 đầu thời Lê; sau Nguyễn Bỉnh Khiêm, thơ thế sự chủ yếu xuất hiện trong văn học cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX, trong thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương… Những tác giả này đã tạo nên một dòng chảy tư duy thế sự xuyên suốt tiến trình văn học Việt Nam và cũng chính là mảng đề tài cần được nghiên cứu một cách sâu sắc. Nguồn cội của tư duy thế sự trong thơ của nhiều tác giả văn học trung đại Việt Nam nói chúng, trong Nguyễn Bỉnh Khiêm nói riêng bắt đầu từ đâu? Nó có phải là sản phẩm của xã hội đương thời đang trong cảnh sa sút về đạo lý con người, những rối ren của trật tự xã hội hay là sự giác ngộ những chân lý cao đẹp trong đạo đức thánh hiền… Tất cả đều cần một sự lý giải một cách đúng đắn, cũng là để khẳng định giá trị nghệ thuật của một trong những mảng sáng tác quan trọng của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Vừa là nhà Nho, lại là người con ưu tú của dân tộc, Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn đem “sự học” của mình vào việc chuyển xoay tình thế đất nước, thế tất phải làm cái việc luôn luôn tâm niệm với những mệnh đề sáng chói nhất trong hệ thống tri thức mà mình được đào tạo.
Xưa kia, Phạm Trọng Yêm, một danh Nho đời Tống đã từng có câu nói nổi tiếng ca ngợi phẩm chất nhà Nho: “Tiên thiên h chi ưu nhi ưu, ậu thiên h chi l c nhi l c”. Ở Việt Nam thế kỷ XV, Nguyễn Trãi cũng từng thấy mình: “ ui một tấc lòng ưu ái cũ, êm ngày cu n cuộn nước triều đông” (Thuật hứng).