chương 1. Hành trình cuộc sống Nhà thơ, nhà viết kịch Văn Trọng Hùng sinh ngày 12 tháng 2 năm 1954 tại xã Ân Tín, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Quê hương ông bên bờ sông Lại Giang - một dòng sông lớn phía bắc, cùng với sông Côn phía nam tỉnh, tạo nên hai dòng trầm tích văn hóa, lịch sử của “Miền đất võ”, “Xứ văn chương” (Chữ dùng của nhà văn Lê Hoài Lương). Dòng Lại Giang quê ông với lượng phù sa màu mỡ đã góp phần tạo nên những sản vật quý hiếm, hoa màu tốt tươi, phát triển nghề tơ tằm, dệt vải làm xao xuyến biết bao tâm hồn thi nhân từ những lời ca dao da diết: “Khi nào rừng An Lão hết cây - Sông Lại Giang hết nước, thì qua đây mới hết tình”.
Cũng trên dòng sông này, chất chứa biết bao kỷ niệm ấm nồng về con người xứ Nẫu vừa cần cù, chăm chỉ làm lụng, vừa giàu ý chí nghị lực, mạnh mẽ, can trường trước bao giông bão. Bình Định luôn gợi trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam ấn tượng sâu sắc về một vùng đất giàu truyền thống thượng võ, với hồn thiêng sông núi đã hun đúc nên khí chất anh hùng bất khuất, làm nên bao chiến tích oanh liệt, góp phần tô thắm vào trang sử vẻ vang dựng nước và giữ nước của dân tộc. Có lẽ một phần chính do sự ưu ái của thiên nhiên nơi đây đã ban cho tâm hồn của các nhà thơ, nhà văn thêm sự bay bổng, sự phóng khoáng và rộng mở. Cái đất võ ấy không thô ráp, chai sạn như nhiều người vẫn thường nghĩ đến, ở nơi đó người dân sống tình nghĩa, chan hòa, thân thiện, yêu quê hương đất nước.
Gia đình Văn Trọng Hùng vốn nhiều đời có chút chức sắc trong làng nhưng sớm nhận thức lý tưởng cao đẹp với dân với nước mà Đảng đem lại nên sớm tham gia hoạt động cánh mạng. Năm 1954, cha và anh của Văn Trọng Hùng đi tập kết, ông còn nhỏ ở lại với mẹ và chị. Từ năm 1968, khi Văn Trọng Hùng mới học đệ ngũ, đệ lục ở 8 tuổi 13 - 14, tại một trường học phổ thông vùng địch tạm chiếm tỉnh Bình Định, ông đã tham gia hoạt động phong trào học sinh, sinh viên. Sau, phần bị lộ, phần vì Chính quyền Sài Gòn phát hiện ra ông là con một cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc từ năm 1954, nên Văn Trọng Hùng chủ động “nhảy núi” và được biên chế vào Đội võ trang tuyên truyền thuộc Ban Tuyên giáo của tỉnh ở tuổi vị thành niên với nhiệm vụ chủ yếu: viết truyền đơn, rải truyền đơn kêu gọi lòng yêu nước và sử dụng vũ khí đấu tranh.
Giác ngộ cách mạng sớm, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, ông tham gia kháng chiến như lẽ sống tất yếu. Sau khi đất nước hòa bình, thống nhất, ông được phân công về công tác ngành văn hóa. Năm 1997, ông được đề bạt làm Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin Bình Định. Năm 2008, khi ba sở: Văn hóa - Thông tin, Thể thao, Du lịch sáp nhập, ông được bổ nhiệm làm Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bình Định.
Trên lĩnh vực quản lý hành chính, ông vinh dự được nhận Huân chương Lao động hạng Nhì của Chủ tịch nước. Có lẽ chính nhờ lòng say mê và sự ham học đã giúp Văn Trọng Hùng vừa có thể làm tốt nhiệm vụ lãnh đạo ngành, vừa có thể đạt được thành quả cao trong sáng tác kịch, thơ. Văn Trọng Hùng thoát ly hoạt động cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ năm mới 17 tuổi, khi đang học dở dang trung học phổ thông. Từ đó đến nay, ông không có điều kiện học tập chính quy, chỉ vừa học vừa làm.
Sau giải phóng, ông hoàn thành chương trình bổ túc trung học, tiếp tục hoàn thành chương trình Đại học Ngữ văn hệ tại chức dài hạn 5 năm Đại học Sư phạm Quy Nhơn, rồi sau đó là các chương trình cao cấp về quản lý nhà nước, lý luận chính trị của Học viện Hành chính Quốc gia và Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Từ những cơ sở ban đầu đó, đồng nghiệp và bạn bè quen biết Văn Trọng Hùng đều khâm phục tinh thần tự học nghiêm túc, bền bỉ hiếm thấy của ông, giúp ông tích lũy được một vốn kiến thức chính trị, văn hóa và lịch sử rất phong phú, không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt để có thể hoàn thành tốt chức trách công tác cũng như đạt được những thành công trong sáng tác thơ, kịch. Cuối tháng 2 năm 2014, ở tuổi 60, Văn Trọng Hùng chính thức nghỉ 9 hưu. Đúng nghĩa ông đã tận tâm tận hiến với những đóng góp không nhỏ cho công tác quản lý.
Trước đó gần một năm, ông nhận nhiệm vụ mới: Giám đốc Văn phòng đại diện Viện Nghiên cứu, Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc Việt Nam tại Bình Định, phụ trách các tỉnh nam Trung bộ và Tây Nguyên; và đảm nhiệm công việc ấy đến bây giờ… Có thể nói, ngoài công tác quản lý, tham gia tổ chức các sự kiện, công việc văn hóa; đóng góp căn bản của Văn Trọng Hùng vẫn là sáng tạo nghệ thuật. Ông là nhà thơ, nhà viết kịch, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. Công việc thật nhiều niềm vui, hạnh phúc và cũng lắm gian nan này đã vận vào ông một đời. Văn Trọng Hùng vẫn đều đặn cho ra đời những bài thơ mới, vở kịch mới đầy ưu tư, trăn trở về thế thái nhân tình, về nỗi buồn nhân sinh muôn thuở, về những giá trị tồn vong, về bao yêu thương, căm giận trước vẻ đẹp của hồn người hay những tráo trở, dối lừa… Ông đã trải qua những thời khắc hiểm nguy trong chiến tranh, nhiều thăng trầm trong công việc một công chức - cán bộ, lắm thăng hoa và bế tắc trong hoạt động sáng tạo.
Văn Trọng Hùng vẫn luôn là người của công việc, dù lặng trầm, riêng tư hay bận rộn sôi nổi việc công. Như mọi nghệ sĩ sáng tạo khác, công việc của ông vẫn bộn bề phía trước với nhiều dự cảm và đa mang. Những nỗ lực không ngừng nghỉ trong sáng tạo nghệ thuật của Văn Trọng Hùng vừa là tự nguyện dự phần, vừa như bị dòng chảy số phận đẩy vào không thể cưỡng. Hiện nay, Văn Trọng Hùng đang sinh sống tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
Ông dành phần lớn thời gian của mình cho việc sáng tác và nghiên cứu. Với gia đình, bạn bè, anh em, đồng nghiệp,…Văn Trọng Hùng là người gần gũi, nặng tình, nặng nghĩa nhưng cũng vô cùng thẳng thắng. Với cái nhìn sắc sảo cùng chuỗi dài học hỏi không ngừng trau dồi, đúc kết và nhất là sự am hiểu tinh tường, Văn Trọng Hùng đã đạt được những thành công to lớn trong công tác quản lý cũng như trong sáng tạo nghệ thuật của mình. Duyên nợ văn chương Câu chuyện văn chương bắt đầu bằng những thổ lộ của chính tác giả Văn Trọng Hùng về cái “duyên” sân khấu của ông: “Tôi sinh ra trong gia đình mê hát.
Nhà ở gần rạp hát nên không đêm diễn nào mẹ tôi bỏ qua. Không chỉ mê, bà cụ còn rất hiểu tuồng, hiểu từng cái vuốt râu một. Ra cái vai nào thì cặp mắt phải như thế nào, tư thế như thế nào, bà biết hết. Từ hồi nhỏ, tôi đã theo mẹ đi xem tuồng.
Rồi lớn lên học văn, khi về Sở Văn hóa Thông tin lại phụ trách mảng sân khấu - nghệ thuật, được tiếp xúc với các nghệ nhân, anh em nghệ sĩ. nên càng kết cái duyên với sân khấu. Tôi phải mất hơn 10 năm như vậy rồi mới cầm bút”. [44] Văn Trọng Hùng đã lớn lên trong kho truyện Tàu mẹ ông ưa đọc, trong tiếng rì rào của rừng dừa quê hương bạt ngàn trong gió với những tiếng hát trầm hùng của từng câu hát tuồng đã khảm vào tâm hồn nhà thơ một tình yêu nghệ thuật thiết tha, để rồi thêm yêu quý và tự hào về mảnh đất anh hùng có dòng sông Lại Giang quanh năm phù sa đắp bồi gắn bó với cuộc sống dân dã một nắng hai sương của con người nơi đây.
Chính mẹ là người đã gieo trong ông niềm đam mê thơ ca và sân khấu ngay từ thời thơ ấu. Câu hò điệu hát quê hương đã ươm mầm, nuôi dưỡng cho những rung động nghệ thuật đầu tiên trong tâm hồn ông. Sau này, lớn hơn một chút, ông tham gia kháng chiến cách mạng, gan dạ và dũng cảm. Ngay từ thời ấy, Văn Trọng Hùng đã say mê văn chương và đặc biệt thích Thép đã tôi thế đấy của nhà văn Xô Viết Nikolai A.
Ostrovsky - cuốn sách gối đầu giường của tuổi trẻ Việt Nam một thuở. Cùng với Thép đã tôi thế đấy, ông và đồng đội của ông còn thường xuyên đọc những sáng tác mới của các nhà văn, nhà thơ Việt Nam, như: Phan Tứ, Nguyên Ngọc, Dương Hương Ly… Ông kể lại: “Năm 1971 - 1972, Tạp chí Văn nghệ khu 5 in tipô và được trình bày rất đơn giản, sơ sài, ra theo quý. Nhưng chúng tôi không quan tâm đến hình thức, chỉ quan tâm đến nội dung của nó. Và nó thực sự là món ăn tinh thần không thể thiếu của chúng tôi và có tác dụng động viên chúng tôi rất lớn.
Chúng tôi đã chuyền tay nhau đọc đến nhàu nát. Theo tôi, đấy là những tác phẩm gan ruột, hừng hực lửa chiến đấu của 11 những chiến sĩ - nhà văn sống và viết trên tuyến đầu Tổ quốc. Đến giờ, tôi vẫn còn nhớ và vẫn hết sức xúc động như thuở nào khi đọc Bài thơ về Hạnh phúc của Dương Hương Ly khóc Dương Thị Xuân Quý - vợ ông - một nhà văn liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trong những năm chiến tranh có thể nói là chất chồng gian nan và vô cùng khốc liệt” [4].