Chương 1 ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI CỦA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VÀ KHUYNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 1. GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI CỦA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ: 1. Giới thuyết khái niệm tiểu thuyết lịch sử: Theo M.Bakhtin thể loại là “nhân vật chính” của nền văn học trong sự so sánh tương quan với các phạm trù khác như trào lưu hay trường phái…Ông cho rằng “Thể loại là hình thức điển hình của toàn bộ tác phẩm, của toàn bộ sự biểu hiện nghệ thuật” [4,tr. Nói một cách đơn giản, thể loại là phạm trù phân loại tác phẩm, là qui ước chung trong nhận thức của mọi người như một mô hình cấu tạo văn bản vừa để biểu đạt vừa để định hướng cho sự tiếp thu biểu đạt.
Trong phạm vi mỗi “loại” văn học (tự sự, trữ tình, kịch) là các “thể” (tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ trữ tình…), sự phân chia của chúng chủ yếu dựa trên các tiêu chí: tố chất thẩm mỹ chủ đạo, giọng điệu, dung lượng và cấu trúc chung của tác phẩm. TTLS là một loại hình của thể loại tiểu thuyết. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một khái niệm thống nhất nào về TTLS. Chúng ta lược qua một số khái niệm trong các công trình chính thống: Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi xuất bản năm 1992 thì “tiểu thuyết lịch sử” không có khái niệm riêng mà được gộp trong khái Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nhìn từ góc độ loại hình thể loại….
11 z Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Thùy Minh niệm “thể loại văn học lịch sử”, và được hiểu là “các tác phẩm văn học, nghệ thuật, sáng tác về đề tài và nhân vật lịch sử” [6,tr. Còn trong cuốn Từ điển văn học của nhiều tác giả, nhà xuất bản Thế giới, năm 2004 thì định nghĩa: “Thuật ngữ tiểu thuyết lịch sử chỉ một loại hình tiểu thuyết hoặc tác phẩm tự sự hư cấu lấy đề tài lịch sử làm nội dung chính. Lịch sử, trong ý nghĩa khái quát là quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội”[41,tr. Ngoài ra, trong Literary Terms and Definitions, thuật ngữ TTLS cũng được định nghĩa: “Tiểu thuyết lịch sử là tiểu thuyết trong đó nhân vật hư cấu tham gia vào các sự kiện lịch sử, có liên quan đến các sự kiện lịch sử hoặc đóng vai trò là chứng nhân của các sự kiện lịch sử có thật; và có quan hệ qua lại với các nhân vật lịch sử” (tạm dịch) [46].
Như vậy có thể nhận thấy, tất cả các quan niệm trên đều khá thống nhất nhau ở điểm: TTLS là một loại hình tiểu thuyết có đề tài lịch sử, cụ thể hơn là các nhân vật hư cấu có liên quan đến lịch sử. Tuy nhiên, tất cả các khái niệm trên đều chưa nói rõ được như thế nào thì được coi là lịch sử và nhân vật hư cấu liên quan đến lịch sử ở mức độ nào thì được coi là tiểu thuyết lịch sử. Vì sự chưa rõ ràng và cụ thể đó nên việc xác định tác phẩm nào là TTLS còn thiếu thống nhất. Bởi vì, lịch sử, trong nhận thức mang tính phổ quát và ở nội dung đơn giản nhất có thể, là cái thuộc về quá khứ.
Mà hầu hết các tác phẩm văn học đều viết về quá khứ. Tuy nhiên, không phải quá khứ nào cũng sẵn sàng được coi là lịch sử và dĩ nhiên không thể coi tất cả các tiểu thuyết viết về quá khứ đều là TTLS. Ví dụ rõ nhất là các tiểu thuyết Việt Nam viết về hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ - quãng cách thời gian so với hiện tại ít nhất cũng đã trên 30 năm – nhưng chúng ta khó có thể gọi đó là tiểu thuyết lịch sử, mà các tiểu thuyết này thường được gọi là tiểu thuyết về đề tài chiến tranh Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nhìn từ góc độ loại hình thể loại…. 12 z Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Thùy Minh cách mạng.
Vậy, quá khứ như thế nào mới được gọi là lịch sử và tiểu thuyết nào mới được gọi là tiểu thuyết lịch sử? Trên thực tế, chưa có bất cứ một hệ thống lý thuyết hay công cụ lý luận nào để xác định đâu là tiểu thuyết lịch sử. Thường những tác phẩm được gọi là tiểu thuyết lịch sử đều do các nhà phê bình và bạn đọc mặc nhận mà thôi. Điều đó dẫn đến việc một số tác phẩm được người này định danh là tiểu thuyết lịch sử (hay tiểu thuyết về đề tài lịch sử), người khác lại nói rằng không. Tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là một ví dụ.
Vì thế, để tránh những mâu thuẫn trong việc xác định đối tượng nghiên cứu, trong luận văn của mình chúng tôi cũng xin giới thuyết khái niệm “tiểu thuyết lịch sử” như sau: TTLS là tiểu thuyết viết về đề tài lịch sử. Trong đó các nhân vật hư cấu tham gia trực tiếp vào các sự kiện lịch sử, có liên quan đến các sự kiện lịch sử hoặc đóng vai trò là chứng nhân của các sự kiện lịch sử có thật; và có quan hệ qua lại với các nhân vật lịch sử. Cụ thể, lịch sử phải là quá khứ xa. Chúng tôi đồng ý với ý kiến của nhà phê bình Hoài Nam cho rằng: “lịch sử đích thực phải là lịch sử xa, thứ lịch sử mà con người hiện tại được thừa hưởng (hoặc phải chịu đựng) như một thắt buộc định mệnh của quá khứ trong khi họ hoàn toàn vô can với nó (xét theo hành vi)”.
Một tiểu thuyết được coi là TTLS “chính danh” trong văn học Việt Nam từ trước tới nay chính là những tiểu thuyết lấy chất liệu từ loại “lịch sử” mà đối với người viết hay người đọc là bất khả tư nghị. Chúng tôi lựa chọn đối tượng khảo sát của luận văn này cũng dựa trên quan điểm trên. Đặc trưng thể loại của tiểu thuyết lịch sử: 1. Trước hết, TTLS là một loại hình của thể loại tiểu thuyết nên nó cũng có những đặc trưng của thể loại tiểu thuyết.
Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nhìn từ góc độ loại hình thể loại…. 13 z Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Thùy Minh Có lẽ, quan điểm chính xác nhất về đặc trưng của tiểu thuyết chính là thể loại này không có đặc trưng cố định, khép kín và hoàn tất. Bakhtin cho rằng tiểu thuyết có “tính biến đổi”, “tính không hoàn thành” và vì thế không thể có câu trả lời chắc chắn cho câu hỏi về những đặc trưng của thể loại tiểu thuyết. Tiểu thuyết được coi là ra đời từ thời Hy Lạp – La Mã với những đoạn văn “Đối thoại theo lối Sokrates”, nhưng phải đến thời kỳ Phục Hưng, và chính xác hơn đến tận cuối thế kỷ XVIII nó mới có được vai xứng đáng trong đời sống văn học.
Đó là bởi vì trong thế giới cổ đại không diễn ra quá trình định hướng vào hiện tại và tương lai, mà chỉ có xu hướng quay về quá khứ. Bắt đầu từ thời Phục Hưng cái hiện tại không chỉ là sự tiếp nối của quá khứ mà được coi là sự khởi đầu cho tương lai và khi đó tiểu thuyết mới phát huy được vai trò của mình. Khi mà thế giới hiện đại càng ngày càng phức tạp, sâu sắc, con người trở nên tỉnh táo và đòi hỏi hơn thì tiểu thuyết phát huy sức mạnh lấn át của mình bên cạnh các thể loại đã trở nên khô cứng và dường như bị “cốt hóa” và tiểu thuyết trở thành “sử thi của thời đại chúng ta”. Tính “chưa hoàn bị” đó dẫn đến việc tiểu thuyết không hề có những qui phạm về cả nội dung lẫn hình thức.
Tiểu thuyết có khả năng lấn át cũng như thu hút, hấp dẫn, dung nạp trong mình rất nhiều thể loại khác. “Tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và còn chưa định hình….Nòng cốt thể loại của tiểu thuyết chưa hề rắn lại và chúng ta chưa thể dự đoán được hết khả năng uyển chuyển của nó” [4,tr. Bakhtin cho rằng tiểu thuyết “gây nên tác động trong quá trình lịch sử chỉ là từng hình mẫu tiểu thuyết riêng biệt chứ không phải một qui phạm thể loại cố định” [4, tr. Không có một cái khuôn nào có thể đúc vừa mọi hình thể của tiểu thuyết: lịch sử tiểu thuyết là lịch sử vượt qua, giễu nhại và chối bỏ những hình thức được kiến tạo trước đó của chính mình.
“Đó (tiểu thuyết) là thể loại mãi mãi tìm Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nhìn từ góc độ loại hình thể loại…. 14 z Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Thùy Minh tòi, mãi mãi tự khảo sát bản thân mình và xét lại tất cả những dạng thức đã định hình của mình” [4,tr. Tuy nhiên, trong quá trình “cố gắng tìm ra những đặc điểm cấu trúc cơ bản nhất của cái thể loại mềm mại nhất này”, Bakhtin đã đưa ra ba đặc điểm cơ bản làm cho tiểu thuyết khác biệt về nguyên tắc với tất cả các thể loại khác: 1. Tính ba chiều có ý nghĩa phong cách học tiểu thuyết, gắn liền với ý thức đa ngữ được thể hiện trong tiểu thuyết.
Sự thay đổi cơ bản các tọa độ thời gian của hình tượng văn học trong tiểu thuyết. Khu vực mới, nơi xây dựng hình tượng văn chương tiểu thuyết, chính là khu vực xúc tiếp tối đa với cái hiện tại (đương đại) ở thì không hoàn thành của nó.36] Có thể nói, ba đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết mà Bakhtin đưa ra trên đã khái quát chính xác các đặc trưng tự sự của thể loại này. Đặc điểm thứ ba cho thấy bản chất của thể loại tiểu thuyết xét trên cấp độ hình tượng thẩm mỹ. Đây là đặc trưng khiến cho tiểu thuyết khác biệt cơ bản với sử thi.
Tiểu thuyết là sự “đoạn tuyệt tuyệt đối” với sử thi. Nếu như đối tượng của sử thi phải là “cái quá khứ dân tộc anh hùng”, “cái quá khứ tuyệt đối” và thế giới của sử thi phải được cách ly với hiện tại bởi “một khoảng cách sử thi tuyệt đối” thì đối tượng của tiểu thuyết chính là cái hiện tại dang dở, và thế giới của tiểu thuyết xúc tiếp trực tiếp và tối đa với thế giới hiện tại. Thế giới trong tiểu thuyết là thế giới hiện tại của tác giả, của bạn đọc. Giữa tác giả, bạn đọc và những nhân vật của tiểu thuyết không hề có bất cứ khoảng cách nào.
Tiểu thuyết kéo tất cả mọi thứ xuống thấp hơn, gần cuộc sống hơn. Khi mà những qui định, những Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nhìn từ góc độ loại hình thể loại….