Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học với đề tài "Di sản múa Chăm qua một số tác phẩm điêu khắc Chăm Pa" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thúy Nga thực hiện tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (năm 2017), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Lê Ngọc Canh. Luận án có dung lượng 170 trang (trong đó phần chính văn gồm 134 trang và phần phụ lục).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Dân tộc Chăm là một tộc người có lịch sử lâu đời tại dải đất miền Trung Việt Nam, đã sáng tạo nên nền văn hóa Chăm Pa với hệ thống đền tháp và các tác phẩm điêu khắc đá. Do tác động của khí hậu khắc nghiệt và chiến tranh, nhiều di sản đã bị hủy hoại và mai một. Mặc dù các công trình nghiên cứu trước đây đã tiếp cận nghệ thuật múa dân gian Chăm gắn với lễ hội cổ truyền, song mảng múa cổ và múa cung đình Chăm Pa xưa vốn gắn với đền tháp và sinh hoạt vương triều đã không còn tồn tại trong đời sống thực tế. Dấu tích của nghệ thuật múa này hiện chỉ còn lưu giữ trên các bức phù điêu, tượng đá trong di sản điêu khắc Chăm Pa. Trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách độc lập, hệ thống và chuyên sâu về di sản múa Chăm thể hiện trên các tác phẩm điêu khắc cổ nhằm giải mã ngôn ngữ múa và xác lập cơ sở ứng dụng cho nghệ thuật múa đương đại.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Đi sâu nghiên cứu các hình tượng múa trên di sản điêu khắc Chăm Pa thông qua một số tác phẩm điêu khắc tiêu biểu; tiến hành khảo sát, đối sánh cụ thể với nghệ thuật múa cổ điển Ấn Độ (Bharata Natyam) để tìm ra các nét tương đồng, làm cơ sở khoa học ứng dụng vào sáng tạo tác phẩm múa trên sân khấu đương đại.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Truy tìm và phân tích dấu vết những vũ điệu Chăm trên các bức phù điêu trong điêu khắc Chăm Pa.
    2. Phân tích các đặc trưng và đặc điểm của di sản múa Chăm qua một số tác phẩm điêu khắc Chăm Pa.
    3. Giải mã những hình tượng múa trên di sản điêu khắc Chăm Pa thông qua việc liên hệ, so sánh với nghệ thuật múa cổ điển Ấn Độ (Bharata Natyam).
    4. Phân tích một số tác phẩm múa Chăm trên sân khấu chuyên nghiệp được khai thác và phát triển từ hình tượng múa trên các bức phù điêu điêu khắc Chăm Pa.

Giả thuyết nghiên cứu

  • Giả thuyết thứ nhất: Di sản điêu khắc Chăm Pa chứa đựng các giá trị của nghệ thuật múa Chăm Pa xưa; các bản ghi khắc bằng đá chính là cứ liệu lưu giữ hình thái múa đã biến mất trong thực tế đời sống.
  • Giả thuyết thứ hai: Hình tượng múa Chăm trong điêu khắc Chăm Pa có mối liên hệ mật thiết với nghệ thuật múa cổ điển Ấn Độ (Bharata Natyam), phản ánh quá trình tiếp biến văn hóa và kỹ năng biểu diễn tinh xảo của các vũ công Chăm Pa xưa.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Di sản múa Chăm qua một số tác phẩm điêu khắc Chăm Pa và một số tác phẩm múa sân khấu đương đại khai thác chất liệu điêu khắc Chăm Pa.
  • Phạm vi không gian: Các tác phẩm phù điêu, tượng tròn có tạo hình múa tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh và một số phế tích, đền tháp Chăm tại các tỉnh miền Trung Việt Nam (Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Đồng Dương, Tháp Mắm, Bánh Ít, Po Nagar, Po Rome...).
  • Phạm vi thời gian: Tiến trình lịch sử từ thế kỷ II (khi lập quốc Lâm Ấp) qua các thời kỳ phát triển đến thế kỷ XVII, mở rộng đến các tác phẩm múa đương đại trên sân khấu chuyên nghiệp Việt Nam những năm gần đây.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật hệ thống tài liệu nghiên cứu liên quan đến văn hóa, nghệ thuật điêu khắc và múa Chăm theo các nhóm nguồn tư liệu và công trình khoa học:

Nhóm tài liệu / Tác giả Tên công trình / Tài liệu tiêu biểu Nội dung chính liên quan đến luận án
Sử liệu Việt Nam cổ Thiên Nam dư tập (1483), Văn bia chùa Đọi (1121), Việt Sử tiêu án (Ngô Thời Sĩ, 1960) Ghi chép sự kiện năm 1044 vua Lý Thái Tông đưa hơn 100 cung nữ Chiêm Thành giỏi hát múa điệu khúc Tây Thiên về Thăng Long; ghi nhận vũ điệu Tiong biyen và vũ khúc Thiên cẩu (1924).
Học giả Pháp (cuối TK XIX - đầu TK XX) A. Bergaigne (1889, 1893), L. Finot (1901, 1918), H. Parmentier (1909, 1918), Ph. Stern (1942), G. Maspero (1910-1913), R.C. Majumdar, R. Stein, P. Dupont, J. Boisselier (1963) Khảo tả hệ thống bia ký, kiến trúc đền tháp, phân loại phong cách điêu khắc đá Chăm Pa và xác định niên đại các di tích, tượng thờ.
Nghiên cứu lịch sử, văn hóa Chăm sau 1975 GS. Lương Ninh (2005, 2006), Phan Xuân Biên - Phan An - Phan Văn Dốp (1991), PGS.TS Ngô Văn Doanh (1998, 2011), Trần Kỳ Phương (1983, 1987, 2002), Nguyễn Hồng Sơn (2008), Huỳnh Thị Được (2006) Nghiên cứu lịch sử vương quốc Chăm Pa; phân tích lễ hội Rija Nưgar; khảo luận kiến trúc và đài thờ Trà Kiệu, Tháp cổ; đối chiếu hình tượng điêu khắc với thần thoại Ấn Độ.
Nghiên cứu chuyên ngành nghệ thuật múa GS.NSND Lê Ngọc Canh (Nghệ thuật múa Chăm), NSND Đặng Hùng (1997), Đinh Thu Hà (2011), Nguyễn Thị Hội An (2009), Nguyễn Thùy Dương (2013), Kỷ yếu UNESCO (2013) Phân loại các hình thái múa dân gian, múa lễ hội Chăm; bước đầu nhận định có sự hiện diện của múa cổ Chăm Pa và múa cung đình Chăm qua các dấu vết điêu khắc.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước năm 1975 và sau năm 1975 chủ yếu tiếp cận văn hóa Chăm ở khía cạnh khảo cổ học, lịch sử, kiến trúc tổng quát hoặc tập trung vào múa dân gian, múa lễ hội tín ngưỡng hiện hành (như lễ hội Rija Nưgar, múa của người Chăm tại Ninh Thuận, Bình Thuận). Một số tác giả như GS.NSND Lê Ngọc Canh, NSND Đặng Hùng, Đinh Thu Hà đã nêu nhận định về "múa cổ Chăm Pa" hoặc "múa cung đình Chăm" trên điêu khắc đá nhưng mới dừng lại ở mức độ khảo tả sơ lược, chưa có sự đối chiếu, giải mã bằng ngôn ngữ múa thông qua việc so sánh với hệ thống múa cổ điển Ấn Độ (Bharata Natyam). Luận án của NCS Nguyễn Thúy Nga lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách khảo sát hệ thống hình tượng múa trên điêu khắc đá Chăm Pa và giải mã các yếu tố kỹ thuật vũ đạo qua lăng kính văn hóa học và nghệ thuật học múa.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng quan điểm đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị khóa X, Nghị quyết 33 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI) về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm cơ sở định hướng.

Về mặt lý thuyết chuyên ngành, tác giả sử dụng các lý thuyết thuộc nhân học văn hóa và văn hóa dân gian:

  1. Lý thuyết bản sắc văn hóa tộc người: Dùng để xác định các đặc trưng, phong cách riêng của nghệ thuật múa Chăm thể hiện qua điêu khắc, phản ánh các giá trị thẩm mỹ bền vững của chủ thể văn hóa Chăm trong tiến trình lịch sử.
  2. Lý thuyết tiếp biến văn hóa (Acculturation): Dùng để phân tích cơ chế tiếp nhận văn hóa và tôn giáo Ấn Độ (Bà la môn giáo/Ấn Độ giáo, Phật giáo) của người Chăm; làm rõ quá trình "bản địa hóa" các yếu tố ngoại sinh để hình thành nên nghệ thuật múa và điêu khắc mang đặc trưng bản sắc tộc người Chăm.
  3. Lý thuyết phân loại các hình thái múa ở Việt Nam: Làm cơ sở phân định các hình thái múa (múa thiêng, múa dân gian, múa tín ngưỡng, múa tôn giáo, múa cung đình, múa cổ điển) nhằm xác định vị trí của các hình tượng múa trên điêu khắc đá Chăm Pa.

Hệ thống khái niệm công cụ

Luận án làm rõ các khái niệm: Chăm và Chăm Pa, Văn hóa, Di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể theo phân loại của UNESCO), Giá trị văn hóa, Bản sắc văn hóa, Bảo tồn và phát huy di sản, Biểu tượng, và thuật ngữ Múa (bao gồm khái niệm Múa thiêng theo Jeanne Cuisinier cùng các hình thái múa dân gian, tín ngưỡng, tôn giáo, cung đình, cổ điển).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành trong văn hóa học, kết hợp các phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp lịch sử: Đặt các tác phẩm điêu khắc và hình thái múa trong tiến trình lịch sử vương quốc Chăm Pa từ thế kỷ II đến thế kỷ XVII.
  • Phương pháp so sánh: Tiến hành đối chiếu, so sánh các hình tượng múa trên phù điêu Chăm Pa với hệ thống cử chỉ tay (Mudra/Hasta), chuyển động đầu, mắt, cổ, thân và chân của múa cổ điển Ấn Độ (Bharata Natyam).
  • Phương pháp hệ thống, phân loại: Tập hợp, phân nhóm và hệ thống hóa các hiện vật điêu khắc có tạo hình múa theo chủ đề và phong cách nghệ thuật.
  • Phương pháp điền dã thực địa, nghiên cứu tài liệu và phỏng vấn sâu: Thu thập tư liệu văn bản, khảo sát hiện vật tại các bảo tàng, di tích đền tháp miền Trung và phỏng vấn các chuyên gia văn hóa, biên đạo múa.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Tư liệu vật thể: Các bức phù điêu, tượng tròn, bệ thờ bằng đá mang hình người múa tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Lịch sử TP. Hồ Chí Minh và các khu di tích đền tháp Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Đồng Dương, Tháp Mắm, Bánh Ít...
  • Tư liệu văn bản: Văn bia chữ Phạn (Sanskrit) và chữ Chăm cổ (bia Võ Cạnh, bia Đông Yên Châu...); sử liệu cổ Việt Nam (Đại Việt sử ký toàn thư, Thiên Nam dư tập, Việt Sử tiêu án); sử liệu Trung Quốc (Thủy Kinh chú, Tống sử, Minh sử, Tổng hội yếu tập cao); các công trình khảo cứu của học giả Pháp và Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và lịch sử nghiên cứu

Chương 1 xác lập nền tảng lý luận và tổng thuật lịch sử vấn đề. Nội dung chương tập trung vào:

  • Phân tích đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng và cơ sở văn hóa - khoa học của đề tài, khẳng định vai trò của mối quan hệ bộ ba "Tôn giáo – Kiến trúc – Điêu khắc" có nguồn gốc từ sự tiếp biến văn hóa Ấn Độ.
  • Trình bày ba khung lý thuyết nòng cốt: lý thuyết bản sắc văn hóa tộc người, lý thuyết tiếp biến văn hóa và lý thuyết phân loại các hình thái múa ở Việt Nam.
  • Chuẩn hóa các khái niệm công cụ phục vụ nghiên cứu và phân định ranh giới giữa các loại hình múa: múa thiêng, múa dân gian, múa tín ngưỡng, múa tôn giáo, múa cung đình và múa cổ điển.
  • Tổng thuật chi tiết tình hình nghiên cứu từ các ghi chép sử liệu cổ, công trình của các học giả Pháp đầu thế kỷ XX, các nghiên cứu lịch sử - văn hóa Chăm sau năm 1975, đến các luận văn và công trình nghiên cứu múa của GS.NSND Lê Ngọc Canh, NSND Đặng Hùng, chỉ ra khoảng trống về việc giải mã múa Chăm qua điêu khắc đá.

Chương 2: Những hình tượng múa trên điêu khắc Chăm Pa

Chương 2 cung cấp bức tranh toàn diện về bối cảnh lịch sử, văn hóa và khảo tả chi tiết các tác phẩm điêu khắc có hình tượng múa:

Không gian địa lý văn hóa Chăm Pa Tên gọi cổ trong văn bia/thư tịch Địa bàn hành chính tương ứng hiện nay Các di tích tiêu biểu ghi nhận trong luận án
Vùng thứ nhất Indrapura Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế Các dấu tích thành cổ, công trình khai thác nước cổ
Vùng thứ hai Amaravati Quảng Nam, Quảng Ngãi Thánh địa Mỹ Sơn, kinh đô Trà Kiệu, Phật viện Đồng Dương, tháp Khương Mỹ, Chiên Đàn, Bằng An
Vùng thứ ba Vijaya Bình Định Thành Đồ Bàn (Chà Bàn), tháp Cánh Tiên, Thốc Lốc, Bánh Ít, Thủ Thiện, Bình Lâm, Dương Long, Tháp Mắm
Vùng thứ tư Kauthara Khánh Hòa Quần thể Tháp Bà Po Nagar (Nha Trang)
Vùng thứ năm Panduranga Ninh Thuận, Bình Thuận Khu tháp Phú Hài (Bình Thuận), tháp Po Klong Garai, tháp Po Rome (Ninh Thuận)

Tiến trình lịch sử Chăm Pa được luận án tổng kết qua các mốc thời gian: khởi nghĩa năm 192 lập quốc Lâm Ấp dưới sự lãnh đạo của Khu Liên; thế kỷ IV tiếp thu văn minh Ấn Độ và hình thành văn bia chữ Phạn/Chăm cổ; năm 757 chuyển trung tâm về Panduranga và Kauthara (thời kỳ Hoàn Vương); năm 875 vua Indravarman II lập Phật viện Đồng Dương thờ Bồ Tát Lokesvara; thế kỷ X trung tâm tôn giáo quay về Mỹ Sơn với sự phục hồi của Shiva giáo; năm 1471 vua Lê Thánh Tông tiến quân vào Vijaya; năm 1611, 1653, 1693 chúa Nguyễn lập phủ Phú Yên và Thuận Thành Trấn; năm 1832 vua Minh Mạng đặt quan lại cai trị trực tiếp, chấm dứt chế độ tự trị Thuận Thành Trấn.

Về phương diện văn hóa, người Chăm tiếp thu Ấn Độ giáo (tôn thờ Tam vị nhất thể Brahma - Vishnu - Shiva, đặc biệt sùng bái Shiva và biểu tượng Linga - Yoni gắn với tín ngưỡng phồn thực) và Phật giáo Đại thừa; phát triển nông nghiệp với giống lúa Chiêm chịu hạn và hệ thống thủy nông; phát triển thương mại hàng hải qua các cảng thị Đại Chiêm, Lâm Ấp phố, Thị Nại; sáng tạo hơn 250 văn bia bằng chữ Phạn và chữ Chăm cổ.

Về nghệ thuật điêu khắc, tác giả khảo tả các nhóm tác phẩm điêu khắc đá thể hiện hình người múa:

  • Hình tượng thần Shiva múa: Shiva được thể hiện với vũ điệu Tandava (vũ điệu sáng tạo và hủy diệt vũ trụ), xuất hiện trên nhiều trán cửa, phù điêu đền tháp ở Mỹ Sơn, Tháp Mẫm với nhiều cánh tay và các tư thế vận động cơ thể đặc trưng.
  • Hình tượng vũ nữ Apsara: Các tiên nữ múa ở thượng giới được khắc họa quanh chân tháp, bệ thờ, nổi bật là phù điêu vũ nữ Apsara Trà Kiệu với tư thế uốn lượn hình thể, thân trên để trần, phản ánh quan niệm thẩm mỹ tôn vinh vẻ đẹp hình thể.
  • Hình tượng vũ nữ và nhạc công quanh đài thờ: Các nhóm nhạc công đánh đàn cầm, thổi sáo, đánh trống kết hợp với các vũ nữ múa khăn, múa dâng hoa quanh bệ thờ Trà Kiệu, bệ thờ Đồng Dương.

Chương 3: Những bàn luận rút ra từ kết quả nghiên cứu

Chương 3 tập trung thảo luận chuyên sâu về các phát hiện khoa học:

  • Giá trị đặc trưng của hình tượng múa trong điêu khắc: Khẳng định các hình tượng múa trên đá là sự kết hợp giữa nghệ thuật tạo hình điêu khắc và nghệ thuật biểu diễn múa; mang tính chất múa tôn giáo và múa cung đình Chăm Pa cổ xưa đã đạt tới trình độ thẩm mỹ cao.
  • Đối sánh với múa cổ điển Ấn Độ (Bharata Natyam): Tác giả phân tích sự tương đồng về cấu trúc động tác:
    • Thủ ấn (Hasta/Mudra): Các thế tay trên phù điêu Chăm (tay bắt ấn, tay cầm hoa sen, tay duỗi mềm mại) có sự tương ứng trực tiếp với hệ thống thủ ấn đơn tay và kép tay trong múa Bharata Natyam.
    • Tư thế cơ thể (Bhanga): Dáng đứng uốn ba khúc (Tribhanga) với các điểm gấp khúc ở đầu, eo và hông xuất hiện phổ biến ở các tượng vũ nữ Apsara Trà Kiệu và thần Shiva.
    • Chuyển động chân và đầu, mắt: Tư thế chân chùng gối (Aramandi), gót chân nâng cao, góc mở của bàn chân và hướng liếc của ánh mắt trên các bức chạm khắc Chăm thể hiện rõ quy chuẩn vũ đạo Ấn Độ cổ điển đã được bản địa hóa.
  • Sự lan tỏa và giao lưu văn hóa: Phân tích sự ảnh hưởng của âm nhạc và múa Chiêm Thành đối với sân khấu cung đình Đại Việt thời Lý - Trần - Lê (qua các điệu múa ngoại dị, múa dâng hoa, múa khúc Tây Thiên).
  • Ứng dụng và phát huy trong múa đương đại: Khảo sát các tác phẩm múa của các biên đạo múa Việt Nam đương đại (như các tác phẩm múa Chăm của NSND Đặng Hùng, GS.NSND Lê Ngọc Canh và các nhà biên đạo tại TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Ninh Thuận). Phân tích cách thức các biên đạo khai thác tư thế "vũ công hóa đá", cách tạo hình tay, dáng uốn hông từ phù điêu đá để phát triển thành tuyến động tác chuyển động liên hoàn trên sân khấu ca múa nhạc chuyên nghiệp.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học lý luận

  1. Hệ thống hóa toàn diện các hình tượng múa trên di sản điêu khắc đá Chăm Pa, xác lập cơ sở tư liệu xác thực chứng minh sự tồn tại của hình thái múa cung đình và múa tôn giáo Chăm Pa xưa trong lịch sử.
  2. Vận dụng lý thuyết tiếp biến văn hóa và nhân học văn hóa để giải mã nguồn gốc, bản chất của múa Chăm cổ; chứng minh một cách khoa học mối liên hệ mật thiết giữa nghệ thuật múa Chăm Pa với múa cổ điển Ấn Độ (Bharata Natyam) qua hệ thống thủ ấn, tư thế Tribhanga và tuyến vận động hình thể.
  3. Làm rõ quá trình "bản địa hóa" các yếu tố vũ đạo Ấn Độ của các nghệ nhân Chăm Pa, tạo nên phong cách múa mang đậm bản sắc tộc người Chăm.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có giá trị khoa học cho công tác nghiên cứu, đào tạo, giảng dạy chuyên ngành múa và văn hóa nghệ thuật tại các trường đại học, viện nghiên cứu ở Việt Nam.
  2. Cung cấp cứ liệu tạo hình, thế tay, bước chân, trang phục cho các biên đạo múa, nghệ sĩ biểu diễn trong việc phục dựng múa cổ và sáng tác các tác phẩm múa đương đại mang âm hưởng văn hóa Chăm.
  3. Đóng góp cơ sở thực tiễn cho các nhà quản lý văn hóa trong việc hoạch định chính sách bảo tồn, phát huy di sản văn hóa vật thể (đền tháp, phù điêu) gắn liền với bảo tồn di sản phi vật thể (nghệ thuật ca múa nhạc Chăm).

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Tăng cường công tác kiểm kê, số hóa và bảo vệ các bức phù điêu, tượng đá có hình người múa tại các bảo tàng và di tích ngoài trời nhằm chống xuống cấp.
  • Kết hợp giữa nghiên cứu lý luận văn hóa học với thực hành nghệ thuật múa để phục dựng các vũ điệu cổ Chăm trên cơ sở giải mã điêu khắc đá.
  • Khuyến khích các nhà biên đạo múa khai thác chất liệu tạo hình từ điêu khắc Chăm Pa nhưng cần tôn trọng tính thiêng và bản sắc văn hóa tâm linh của cộng đồng người Chăm khi đưa lên sân khấu biểu diễn đương đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do hình thái múa cung đình và múa tôn giáo Chăm Pa xưa đã không còn tồn tại trên thực tế mà chỉ lưu lại qua các tác phẩm điêu khắc tĩnh, việc tái hiện toàn bộ chuỗi vận động động tác liên tục của một bài múa hoàn chỉnh còn phụ thuộc vào mức độ suy luận phục dựng từ hình ảnh tĩnh. Nguồn sử liệu văn bản trực tiếp ghi chép chi tiết về kỹ thuật múa Chăm cổ rất khan hiếm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục mở rộng khảo sát, đối chiếu các bức phù điêu múa Chăm mới phát hiện tại các hố khai quật khảo cổ học gần đây.
    • Nghiên cứu so sánh mở rộng giữa di sản múa trên điêu khắc Chăm Pa với điêu khắc múa của các nền văn minh lân cận trong khu vực Đông Nam Á chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ (như nghệ thuật múa trên điêu khắc Angkor của Campuchia, nghệ thuật múa Java của Indonesia).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Nhân học, Lịch sử nghệ thuật, Lý luận và Lịch sử sân khấu/múa, Điêu khắc và Bảo tồn di sản văn hóa. Phần đáng tham khảo nhất là Chương 1 (khung lý thuyết tiếp biến văn hóa và bản sắc văn hóa tộc người) và Chương 2 (tổng quan 5 vùng văn hóa Chăm Pa cùng hệ thống phân loại điêu khắc).
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu nghệ thuật múa: Tham khảo Chương 3 với các bảng phân tích đối sánh chi tiết giữa tư thế múa trên phù điêu Chăm và hệ thống kỹ thuật múa cổ điển Ấn Độ (Bharata Natyam) để phục vụ giảng dạy môn Lịch sử nghệ thuật múa và Biên đạo múa.
  • Biên đạo múa và nghệ sĩ biểu diễn: Khai thác các mô típ tạo hình tay (Mudra), dáng đứng (Tribhanga), kiểu dáng trang phục cổ Chăm Pa trong Chương 2 và Chương 3 làm chất liệu sáng tạo tác phẩm múa chuyên nghiệp.
  • Nhà quản lý văn hóa: Tham khảo phần kiến nghị giải pháp để xây dựng đề án bảo tồn di sản văn hóa Chăm gắn với phát triển du lịch văn hóa bền vững tại các tỉnh duyên hải miền Trung.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định hình tượng múa trên điêu khắc Chăm Pa thuộc những hình thái múa nào?

Theo khung lý thuyết phân loại của luận án, các hình tượng múa trên điêu khắc Chăm Pa phản ánh hai hình thái múa chính từng tồn tại trong lịch sử: múa tôn giáo (múa thiêng thờ cúng thần linh như thần Shiva múa điệu Tandava, tiên nữ Apsara) và múa cung đình (các vũ nữ, cung nữ biểu diễn phục vụ nghi lễ vương triều Chăm Pa xưa).

2. Luận án lựa chọn loại hình múa cổ điển nào của Ấn Độ để so sánh đối chiếu?

Luận án lựa chọn nghệ thuật múa cổ điển Bharata Natyam của Ấn Độ (hình thức múa cổ nhất trong 7 loại hình múa cổ điển Ấn Độ) để so sánh đối chiếu với các tư thế của "vũ công hóa đá" trên phù điêu Chăm Pa, tập trung vào hệ thống thủ ấn (Hasta/Mudra), tư thế uốn thân ba khúc (Tribhanga), thế chân và biểu cảm mắt, đầu, cổ.

3. Năm vùng không gian sinh tồn của vương quốc Chăm Pa được nêu trong luận án gồm những vùng nào?

Căn cứ vào bia ký và thư tịch cổ, luận án nêu 5 vùng địa lý văn hóa:

  1. Indrapura (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế).
  2. Amaravati (Quảng Nam, Quảng Ngãi).
  3. Vijaya (Bình Định).
  4. Kauthara (Khánh Hòa).
  5. Panduranga (Ninh Thuận và Bình Thuận).

4. Nguồn sử liệu cổ Việt Nam ghi chép sớm nhất về sự hiện diện của vũ nữ Chăm tại Thăng Long là sự kiện nào?

Luận án trích dẫn Việt Sử tiêu án của Ngô Thời Sĩ ghi nhận sự kiện năm 1044: vua Lý Thái Tông tiến vào kinh đô Phật Thệ (Vijaya), bắt hơn 100 cung nữ của vua Chiêm đưa về kinh đô Thăng Long, tuyển chọn những người giỏi hát và biết múa điệu khúc Tây Thiên để biểu diễn trong cung đình Đại Việt.

5. Những lý thuyết văn hóa học chính nào được tác giả ứng dụng trong luận án?

Tác giả áp dụng ba lý thuyết chính:

  1. Lý thuyết bản sắc văn hóa tộc người (làm rõ tính đặc thù và giá trị thẩm mỹ của múa Chăm).
  2. Lý thuyết tiếp biến văn hóa (giải thích quá trình tiếp nhận và bản địa hóa văn hóa nghệ thuật Ấn Độ).
  3. Lý thuyết phân loại các hình thái múa ở Việt Nam (phân định múa thiêng, múa dân gian, tín ngưỡng, tôn giáo, cung đình, cổ điển).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Thúy Nga đã phục dựng và giải mã diện mạo của di sản múa Chăm Pa xưa thông qua việc khảo cứu hệ thống tác phẩm điêu khắc đá tại các bảo tàng và đền tháp miền Trung. Bằng phương pháp tiếp cận liên ngành văn hóa học kết hợp so sánh với múa cổ điển Ấn Độ (Bharata Natyam), công trình đã chứng minh quá trình tiếp biến văn hóa và khẳng định bản sắc tộc người Chăm thể hiện qua ngôn ngữ tạo hình múa. Luận án cung cấp hệ thống luận cứ khoa học xác thực, đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu lý luận, bảo tồn di sản và hoạt động sáng tác múa đương đại tại Việt Nam.