Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 1. Đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng Đường lối, chủ trương của Đảng là định hướng, là kim chỉ nam cho hoạt động văn hóa nghệ thuật. Việc xây dựng và phát triển văn hóa nghệ thuật của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia là nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhiệm vụ to lớn đó là khó khăn, lâu dài, đòi hỏi phải có chiến lược phát triển nền văn hóa dân tộc lên một trình độ mới.
Nghị quyết 23 của Bộ chính trị (khóa X) về Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới và Nghị quyết 33 của Ban chấp hành trung ương Đảng (khóa XI) về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã đề cập về vai trò văn hóa, văn nghệ có ý nghĩa quan trọng như sau: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội” [70]. Trong đó, Bộ Chính trị nhấn mạnh về tiếp tục xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Đảng ta đã khẳng định nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Nghị quyết Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc mà Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (1998) đưa ra đến nay vẫn là Nghị quyết có ý nghĩa chiến lược, chỉ đạo quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa ở nước ta, cần phải được kế thừa, bổ sung và phát huy trong thời kỳ mới. Việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là mục tiêu quan trọng mang yếu tố chiến lược nhằm xây dựng nền văn hóa Việt Nam hiện đại có sự thống nhất hữu cơ giữa tính tiên tiến và tính đậm đà bản sắc dân tộc. Những nghị quyết trên là chủ trương đúng đắn, là cơ sở pháp lý để định hướng công tác bảo tồn, phát triển văn hóa văn nghệ nói chung, trong đó có di sản múa của dân tộc Chăm ngày càng phát triển bền vững và theo đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng và nhà nước. Cơ sở văn hóa Nghiên cứu, tìm hiểu về vương quốc Chăm Pa xưa có hai nguồn tư liệu chính để tìm hiểu về lịch sử cũng như sự truyền bá và ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ vào Chăm Pa, vào cộng đồng người Chăm trong nhiều thế kỷ qua.
Nguồn tư liệu thứ nhất là các bản ghi chép của các nhà khảo cổ và sử học Pháp. Nguồn tư liệu thứ hai là thông qua các sử liệu ghi chép của người Trung Quốc. Trên thực tế, Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia có nền văn hóa lớn và phát triển vào bậc nhất, nhì thế giới. Trong đó, Trung Quốc luôn tiến hành nhiều cuộc xâm lược biên giới Việt Nam và họ đã từng cai trị vùng đất rộng lớn ở phía Bắc.
Vào thế kỷ II, người Chăm đã lập ra vương quốc Chăm Pa sau khi thoát khỏi ách đô hộ của đất nước Trung Hoa. Từ đây, mọi liên hệ với Trung Hoa đã bị cắt đứt và thay vào đó là sự tiếp xúc, ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ thông qua con đường giao thương buôn bán trên biển với các thương nhân Ấn Độ. Và chính các thương nhân này là khởi nguồn đã đem văn hóa Ấn Độ vào Chăm Pa. Họ mang theo các giáo sĩ Bà la môn, tăng ni Phật giáo để phục vụ cho mục đích tôn giáo và bảo vệ họ trong những chuyến đi dài ngày.
Thực tế, Ấn Độ là đất nước đa tôn giáo, nên hầu hết mọi người dân và các tầng lớp trong xã hội Ấn Độ đều rất sùng đạo. Họ coi trọng sự linh thiêng và tin tưởng vào sức mạnh vô hình của đấng tối cao. Do vậy, cũng như các tôn giáo khác trên thế giới, đó là bất cứ nơi nào họ di cư đến điều quan trọng đầu tiên là phải xây dựng cơ sở tôn giáo như đền tháp, chùa, thánh đường. Điểm đặc biệt của tôn giáo Ấn Độ là khi lan truyền đến đâu thì tất cả các loại hình nghệ thuật như múa, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, thủ công đều được mang theo đến đó và không thể tách rời tôn giáo của họ.
Sự ảnh hưởng đó được phát huy mạnh mẽ vào khoảng thế kỷ VII đến thế kỷ XV tại Chăm Pa. Và, trong từng ấy thế kỷ, ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ sâu sắc đến mức chỉ thấy những yếu tố văn hóa Ấn Độ trong văn hóa Chăm. Điều này được thể hiện rất rõ trên các bức phù điêu, tượng đá, các văn bia khắc đá hiện còn lưu giữ trong các đền tháp Chăm và các bảo tàng tại Việt Nam. Mặc dù theo thời gian cùng với sự suy tàn của các triều đại Chăm Pa, Bà la môn giáo cũng ngày càng bị mai một nhưng những dấu ấn của văn hóa và nghệ thuật vẫn còn hiện hữu không thể xóa mờ.
13 Tuy nhiên, văn hóa Chăm là "văn hóa mở", và cũng có thể do mong muốn luôn được tìm hiểu cái mới và tiếp thu cái mới mà người Chăm bên cạnh sự tiếp nhận văn hóa Ấn Độ còn có sự tiếp nhận ảnh hưởng văn hóa của các nước khác trong khu vực Đông Nam. Trong đó, tôn giáo Ấn Độ đã nắm vai trò chính chi phối, tác động lớn đến đời sống văn hóa của Chăm Pa, và tôn giáo này đã được vật chất hóa thông qua loại hình nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc trong các đền tháp Chăm. Thực chất sự ảnh hưởng này không chỉ là một sự sao chép nguyên bản, mà đã dần được bản địa hóa những yếu tố văn hóa Ấn Độ làm cho thích nghi với những tín ngưỡng, những quan niệm thẩm mỹ có tính bền vững của tộc người Chăm ở Việt Nam. Những cơ sở văn hóa trên là nguồn tư liệu chứng minh về sự tồn tại và phát triển của nền văn hóa Chăm Pa xưa, trong đó, nổi bật nhất là bộ ba: TÔN GIÁO – KIẾN TRÚC – ĐIÊU KHẮC có nguồn gốc ảnh hưởng từ văn hóa Ấn Độ.
Chính sự tiếp nhận ảnh hưởng đó đã tạo điều kiện cho nền văn hóa Chăm Pa ngày càng phát triển thêm rực rỡ. Tuy nhiên, trong quá trình tiếp nhận, người Chăm đã biết chắt lọc những yếu tố tinh hoa và bản địa hóa dần những yếu tố du nhập để xây dựng nền văn hóa của mình mang màu sắc riêng biệt, độc đáo. Trên thực tế một phần văn hóa Chăm Pa mà trong đó bao gồm cả múa Chăm Pa xưa vẫn đang còn hiện hữu trên những tác phẩm điêu khắc. Do vậy, Nghiên cứu hình tượng múa Chăm trên điêu khắc Chăm Pa chính là tìm về cội nguồn của văn hóa Ấn Độ, cụ thể thông qua việc nghiên cứu – so sánh với múa cổ điển Ấn Độ - Bharat Natyam làm cơ sở để giải mã các hình tượng múa Chăm trên điêu khắc Chăm Pa xưa.
Cơ sở khoa học Tuy văn hóa nghệ thuật Chăm Pa chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa nghệ thuật Ấn Độ, nhưng nhờ ý thức dân tộc, và trải qua quá trình lao động sáng tạo nghệ thuật không ngừng, người Chăm đã biết chọn lọc những yếu tố tinh hoa bên ngoài để tiếp tục xây dựng nền văn hóa của riêng mình mang đậm dấu ấn bản địa, dấu ấn tộc người. Trong đó, loại hình nghệ thuật nổi trội của nền văn minh Chăm Pa ấy là nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc với hàng trăm đền tháp nguy nga, tráng lệ bí ẩn 14 cần phải được khám phá hết. Và đặc biệt loại hình điêu khắc Chăm Pa có nhiều phù điêu, tượng đá liên quan đến tư thế múa, dáng múa chiếm số lượng lớn hiện còn lưu giữ tại bảo tàng điêu khắc Chăm Đà Nẵng. Khảo cứu về múa Chăm Pa xưa, qua các tài liệu ghi chép thì múa Chăm đã từng có một thời gian hoạt động khá mạnh trong vương triều Chăm Pa lúc bấy giờ.
- Năm 1004 vua Lý Thái Tông bắt hơn 100 cung nữ Chiêm Thành giỏi múa hát Tây Thiên đưa về Thăng Long. - Điệu múa của các vũ nữ Chiêm Thành mang đến sân khấu cung đình Đại Việt một phong cách mới ngoại dị. - Múa Chiêm Thành cũng là múa mặt nạ với các vai một chúa, hai phỏng, một nàng, mười quân, mặt nạ gỗ có mắt bằng lông công. - Thiên vương cho truyền bốn mươi thiên thần, chắp cánh bông vàng múa vũ điệu Tiong biyen [43, tr.
Trong bài viết về “Lễ tứ tuần đại khánh” của vua Khải Định, cử hành vào ngày mồng 1 tháng 9 năm Khải Định thứ 9 (1924), phần miêu tả về tiệc chiêu đãi của vua tại điện Cần Chánh có ghi: “Mười vũ nữ Chiêm Thành ở biên giới miền Trung ra trình diễn vũ khúc Thiên cẩu…Theo nhịp trống, cồng, thanh la, đàn, sáo, các cô uốn éo thân mềm dẻo, vừa hát vừa múa líu lo trầm bổng”[55, tr. Từ một số trích dẫn ở trên có thể nhận định, ngay từ thời vương quốc Chăm Pa hình thành đã xuất hiện những vũ nữ Chăm biết múa hát giỏi để phục vụ cho vương triều lúc bấy giờ. Tiếc rằng, sau khi vương quốc Chăm Pa tan rã, những điệu múa của các cung phi vũ nữ cũng không còn. Và rất có thể chính sự mất đi của các vũ điệu phục vụ trong vương triều Chăm Pa thời ấy đã tạo điều kiện và thúc đẩy múa dân gian, múa tôn giáo - tín ngưỡng gắn kết với nhau để chuyển sang mục đích khác là phục vụ cho các lễ hội và những sinh hoạt văn hóa tinh thần của cộng đồng.
Trong khi đó, Văn hóa Chăm Pa lại chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa và tôn giáo Ấn Độ. Ngoài những minh chứng của sử liệu ghi chép, theo học giả Ấn Độ - Geetesh Sharma, trong tác phẩm Những dấu vết văn hóa Ấn Độ tại Việt Nam [37] đã khẳng định vương quốc Chăm Pa và cộng đồng người Chăm Pa xưa chịu ảnh 15 hưởng lớn của nền văn hóa Ấn Độ. Theo thời gian và năm tháng, văn hóa Ấn Độ đã ngập chìm trong văn hóa bản địa Chăm và dần được bản địa hóa. Tuy nhiên, trong văn hóa Chăm vẫn có thể nhận thấy mọi hình thái nghệ thuật của Ấn Độ như âm nhạc, múa, thủ công mỹ nghệ, kiến trúc…và các hình thái đó đều có liên hệ sâu đậm và lấy cảm hứng từ tôn giáo Ấn Độ.