chương 1. Cuộc đời Ngô Thì Nhậm là nhà chính trị, quân sự, nhà văn hóa kiệt xuất, một tài năng và nhân cách lớn của Việt Nam thế kỷ XVIII. Cuộc đời đầy thăng trầm của ông phản chiếu đậm nét không khí thời đại và để lại dấu ấn khá rõ trong sự nghiệp văn chương của tác giả. Ngô Thì Nhậm sinh năm 1746, mất năm 1803.
Ông tự là Hy Doãn, hiệu Đạt Hiên, người làng Tả Thanh Oai, nay thuộc Thanh Trì, Hà Nội. Đây là vùng đất không chỉ nổi tiếng với nhiều danh lam thắng cảnh mà còn có truyền thống văn hiến lâu đời, cũng là nơi “xuất thân của những nhân vật lớn trong lịch sử” [55; tr. Chính quê hương giàu truyền thống văn hóa đã bồi đắp nên những giá trị tinh thần quý báu, góp phần hình thành ở Ngô Thì Nhậm một tâm hồn giàu xúc cảm cùng tài năng, nhân cách, tư tưởng hơn người. Ngô Thì Nhậm sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống giáo dục, khoa hoạn và văn chương.
Gia tộc Ngô Thì Nhậm có những bậc danh sư, những nhà văn, nhà sử học lớn, những người đỗ đại khoa, giữ nhiều trọng trách của đất nước mà tên tuổi của họ đã trở thành niềm tự hào lớn lao không chỉ của một dòng họ mà còn của cả một vùng đất, của cả dân tộc. Ông nội Ngô Thì Nhậm là Ngô Thì Ức, tác giả đầu tiên của Ngô gia văn phái. Cha của ông là Ngô Thì Sĩ, làm quan nhà Hậu Lê đến chức Đốc trấn Lạng Sơn, tác giả của nhiều bộ sử nổi tiếng. Chú của ông là Ngô Thì Đạo, thi đỗ Giải nguyên.
Em của ông là Ngô Thì Chí, thi đỗ Hương tiến, làm quan đến chức Thiêm thư Bình chương Tỉnh sự, là người khởi thảo viết 7 chương đầu của bộ tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng Hoàng Lê nhất thống chí. Một người em khác của 9 ông là Ngô Thì Trí, làm quan đến chức Hộ bộ Hữu thị lang, được phong tước Bính phong hầu, là người có công lớn trong việc khởi xướng và sưu tầm, biên soạn toàn bộ trước tác của Ngô gia văn phái… Có thể nói, gia tộc họ Ngô “nối đời đỗ đại khoa, nối đời làm trọng thần, cũng đồng thời làm nên một văn nghiệp lớn, hiếm thấy trong lịch sử văn học Việt Nam” [20; tr. Chính truyền thống gia đình đã góp phần quan trọng hun đúc nên ý chí, tài năng, nhân cách Ngô Thì Nhậm, đồng thời ảnh hưởng lớn sự nghiệp văn chương của ông. Thuở nhỏ, Ngô Thì Nhậm đã nổi tiếng thông minh, hiếu học.
Ông học chữ Hán và kinh sách trực tiếp với ông nội và cha, trước khi được học tiếp với các vị đại khoa nổi tiếng trong vùng. Năm 16 tuổi (1761), dưới sự hướng dẫn của cha, Ngô Thì Nhậm hoàn thành công trình sử học đầu tiên Nhị thập tứ sử toát yếu. Năm 19 tuổi (1765), ông đỗ đầu khoa thi hương. Một năm sau, ông soạn cuốn Tứ gia thuyết phả.
Đến năm 1769, ông thi đỗ khoa Sĩ vọng, được bổ chức Hiến sát phó sứ Hải Dương. Như vậy, “với chức quan hàm chánh thất phẩm này, Ngô Thì Nhậm chính thức bước vào cuộc đời hoạt động chính trị, mong muốn thực hiện hoài bão làm một hiền thần như Y Doãn” [20; tr,42]. Là một nhà nho được đào tạo bài bản trong môi trường nho học, xuất thân trong gia đình có truyền thống khoa hoạn lâu đời, Ngô Thì Nhậm hăm hở nhập thế, thực hiện chí nguyện công danh của một nam tử. Tuy nhiên, hoạn lộ của ông không hề bằng phẳng.
Cuối năm 1771, Ngô Thì Nhậm mắc họa ở Nghệ An và bị cách chức. Ông nhân cớ đó cáo quan xin về. Năm 1772, Ngô Thì Nhậm dự khảo thí ở Quốc tử giám, đỗ hạng ưu. Đến khoa thi năm Ất mùi (1775), ông thi đỗ hàng thứ năm hàng tiến sĩ giáp thân, được bổ chức Hộ bộ cấp sự trung.
Năm 1776, ông được thăng một bậc, giữ chức Giám sát Ngự sử đạo Sơn Nam, lại thăng lên Đốc đồng trấn Kinh Bắc. Năm 1778, ông được bổ kiêm chức Đốc đồng Thái Nguyên. Đây là giai 10 đoạn đường quan lộ của Ngô Thì Nhậm khá thuận lợi. Ông cùng người thân trong gia đình được triều đình giao cho nhiều chức vụ quan trọng.
Đối với một nhà nho hành đạo tích cực như Ngô Thì Nhậm, đây là điều mà ông rất đỗi tự hào. Bởi nó xuất phát từ sâu xa trong thâm tâm của mỗi người học nho là được đem sở học của mình ra để “thượng trí quân, hạ trạch dân”, hành đạo giúp đời. Tuy nhiên, triều đình mà Ngô Thì Nhậm đang phục sự là nhà Trịnh đang trong thời kỳ suy thoái và thời đại mà ông sống là một giai đoạn lịch sử với những biến động lớn lao. Năm 1782, Trịnh Sâm mất, kiêu binh nổi loạn.
Những kẻ cơ hội, ganh tị với Ngô Thì Nhậm đã xin bắt ông. Ngô Thì Nhậm lui về quê vợ ở vùng Sơn Nam (nay thuộc Thái Bình) và ở ẩn tại đây trong gần 6 năm. Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc lần hai, tiêu diệt Võ Văn Nhậm, ra chủ trương “cầu hiền”, xuống lệnh tìm kiếm quan lại cũ của triều Lê, Trịnh. Ngô Thì Nhậm là người đầu tiên ra chấp chính theo lời mời của Bắc Bình Vương.
Về điều này, không ít sĩ phu Bắc Hà đã chê trách ông vì làm tôi không giữ đạo trung. Nhưng Ngô Thì Nhậm là người thông minh, ông đủ sức nhận ra sự mục nát của triều đại cũ và sự tiến bộ của nhà Tây Sơn đang trong thời kì đi lên mà người anh hùng áo vải Quang Trung là một lãnh tụ anh minh, nhân nghĩa. Ông ra với nhà Tây Sơn xuất phát từ tinh thần trách nhiệm nhập thế hành đạo của một nhà nho chân chính. Hơn nữa, Nguyễn Huệ cũng tỏ rõ thái độ trọng dụng đối với ông: nhận ra tài năng và tin cậy vào ông.
Và đúng như nhiều nhà nghiên cứu khẳng định, “lòng tin cậy của Nguyễn Huệ đối với Ngô Thì Nhậm đã mở ra một giai đoạn mới, quan trọng nhất trong cuộc đời và sự nghiệp của ông” [20; tr. Ra phụng sự cho Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, Ngô Thì Nhậm có nhiều cống hiến to lớn cho phong trào khởi nghĩa Tây Sơn và nhà Tây Sơn 11 sau này. Ông có công lớn trong việc thuyết phục nhiều nhân sĩ, trí thức Bắc Hà nhận chân thời cuộc, đứng về phía nhân dân, ra phục vụ cho nhà Tây Sơn. Ông cũng là một quân sư, nhà quân sự, nhà chính trị, nhà ngoại giao tài năng đã “đỡ đần” cho Nguyễn Huệ những việc quốc gia đại sự.
Trong những năm đầu sau đại thắng năm 1789, Ngô Thì Nhậm là người đứng đầu công tác ngoại giao của triều Tây Sơn. Bằng sự khôn khéo, mềm dẻo của mình, ông đã góp phần quan trọng vào những thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao đối với triều đình nhà Thanh, giữ vững nền độc lập non trẻ của nhà nước mới, tránh được họa tái xâm lược của phương Bắc đang giận dữ vì liên tiếp đại bại dưới quân Tây Sơn. Đúng như Mai Quốc Liên nhận định: “công cuộc bang giao thời Tây Sơn đã đạt những thắng lợi chưa từng có, làm vẻ vang cho đất nước, đã viết nên những trang sử ngoại giao đẹp nhất bên cạnh những trang sử chiến thắng huy hoàng, và trong các cống hiến này, có phần đóng góp xứng đáng của Ngô Thì Nhậm” [20; tr. Năm Mậu Tý 1792, vua Quang Trung đột ngột qua đời, Quang Toản lên nối ngôi khi chỉ mới 9 tuổi, nội bộ Tây Sơn bắt đầu lục đục.
“Trong tình hình chính trị rối ren của những năm cuối triều đại Tây Sơn, Ngô Thì Nhậm đã không phát huy được tài năng và tâm huyết của mình. Mặt khác, con người hiểu ông, tin cậy, trọng dụng ông, đã mất” [20; tr. Ngô Thì Nhậm cảm thấy mình như “bóng nhạn cô đơn”. Trước cảnh triều đình mà người anh hùng Nguyễn Huệ cùng ông gây dựng nên ngày càng lục đục, đang đứng trên bờ suy vong, ông vô cùng đau xót.
Ông tìm lối thoát bằng triết học. Ông cho lập Thiền viện Trúc Lâm để nghiên cứu Phật học. Những thể nghiện, bài giảng về đạo Phật của ông trong thời gian này được ghi lại trong tác phẩm lớn cuối cùng Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh hoàn thành năm 1796. Năm 1802, sau khi đánh bại Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi.
Ngô Thì Nhậm bấy giờ đã lùi về trí sĩ. Nguyễn Ánh cho gọi nhưng ông không hợp tác. 12 Ít lâu sau, ông và người anh em cột chèo, đồng thời là người bạn thân Phan Huy Ích bị đem ra kể tội và đánh đòn tại Văn Miếu. Ít lâu sau, ông qua đời vào ngày 16 tháng 2 năm Quý Hợi (tức ngày 9 tháng 3 năm 1803), kết thúc cuộc đời 57 năm của một tài năng, một nhân cách lớn, một nhà nho nhập thế tích cực một đời chỉ biết nghĩ cho dân, cho nước mà tên tuổi gắn với một giai đoạn lịch sử oanh liệt của dân tộc.
Có thể khẳng định, Ngô Thì Nhậm là một tài năng, một nhân cách lớn, một nhà nho chân chính với lí tưởng nhập thế tích cực. Cuộc đời ông đầy những thăng trầm nhưng những lựa chọn của ông đã thật sự đúng đắn. Ông đã đứng về phía nhân dân đất nước, và đem hết tâm sức của mình để phục vụ đất nước, nhân dân. “Ông là bậc đại trí, đại tài đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp Tây Sơn và cho dân tộc trên lĩnh vực: chính trị, ngoại giao, văn hóa, văn học” [44; tr.
Tên tuổi ông sẽ còn được ghi nhớ mãi trong lòng dân tộc. Nhìn lại cuộc đời đầy hào hùng và bi thương của Ngô Thì Nhậm, có thể thấy mấy điểm lớn sau. Ông sinh ra lớn lên trên quê hương có truyền thống văn hóa và trong gia đình có truyền thống khoa hoạn, văn chương. Từ nhỏ ông đã được giáo dục bài bản trong môi trường nho giáo.
Những yếu tố trên đã góp phần hình thành trong ông con người nhà nho hành đạo tích cực với lí tưởng nhập thế, giúp nước cứu đời, luôn đứng về phía nhân dân. Những quyết định quan trọng, những ngã rẽ của cuộc đời ông sau này đều do con người nhà nho nhập thế chân chính trong ông chi phối. Ngô Thì Nhậm lớn lên, thi thố, làm quan trong một thời đại có quá nhiều biến động to lớn. Xã hội loạn lạc, chính quyền phong kiến mục nát, sơn hà mấy phen đổi chủ, nước nhà nhiều lần đứng trước nguy cơ xâm lược từ bên ngoài.
Đây chính là cơ hội, đồng thời cũng là thách thức lớn đối với chí công danh, hành đạo của nhà nho Ngô Thì Nhậm.