Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chương 2: Bối cảnh hình thành tâm thức dân gian về ba vị thánh ở vùng châu thổ Bắc Bộ Chương 3: Hành trạng của ba vị thánh Chương 4: Các biểu hiện của tâm thức dân gian về ba vị thánh Chương 5: Tâm thức dân gian thờ ba vị thánh: Một số vấn đề truyền thống và đương đại 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tình hình nghiên cứu 1.1 Nghiên cứu tâm thức dân gian về các vị thánh thần Có khá nhiều công trình nghiên cứu về tín ngưỡng đa thần, tục thờ thần thánh, các nghi thức thờ phụng các đối tượng được thờ cúng trong đình, đền, chùa, qua đó thể hiện tâm thức dân gian trong đời sống tôn giáo người Việt. Theo học giả Toan Ánh, “đạo thờ thần là một đạo thuần túy Việt Nam và đạo này có từ khi có người Việt Nam [4, tr. Tác giả Trần Quốc Vượng thì khẳng định: “Thờ thần là một đường hướng tôn giáo chính của dân Việt” [118], còn Vũ Ngọc Khánh thì cho rằng ở Việt Nam có một “Đạo Thánh” với một hệ thống các thánh, thờ các anh hùng dân tộc, các nhân vật lịch sử. Trong Đạo Thánh ở Việt Nam [47], Vũ Ngọc Khánh khảo sát 62 vị thánh thông qua truyền thuyết, thần tích, lễ hội và các di tích thờ thánh, phân chia hệ thống các vị thần, thánh thành các thánh ở địa phương, các Thánh Mẫu và các thánh thuộc hệ thống khác.
Theo tác giả, người Việt tôn vinh các anh hùng, đức tổ, và cả những lực lượng siêu trần thành thánh là mang tính “tự nguyện, tự phát”: Đạo Thánh mặc nhiên tự hình thành, nhân dân đã phong thánh. Dù triều đình có phong các vị là phúc thần, là thành hoàng. thậm chí đến đại vương đi nữa, thì đó cũng chỉ là thánh. Thần có thể là hạ đẳng, trung đẳng và thương đẳng… dân đều không quan tâm.
Họ trân trọng và xem tất cả đều là thánh của họ, của địa phương, của dân tộc [47, tr. Thờ thần, thánh bao gồm việc thờ phụng những nhân vật lịch sử, những người có công với dân với nước và được hóa thánh, những nhân vật huyền thoại, hoặc thờ các vị thần tự nhiên, vật tổ, vật thần như thần Mưa, Gió, Sấm, Sét, thần Cây, thần Đá, các vật tổ, vật thần (thần Rắn, Rùa, Rồng) v. Có hai xu hướng trong tâm thức dân gian về các vị thần, đó là xu hướng “lịch sử hoá huyền thoại”, trong đó các nhiên thần được khoác lên mình những tiểu sử có tính lịch sử, và xu hướng “huyền thoại hoá lịch sử”- các vị nhân thần được huyền thoại hoá với các chi tiết kỳ bí và khả năng siêu nhiên [86]. Về tục thờ nhiên thần, theo Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ: “Thiên thần là những vị thần chỉ nghe nói có sự thiêng liêng nhưng không sinh ra ở đời”, “thần có nguồn gốc từ núi gọi là Sơn thần; có nguồn gốc từ nước là Thủy thần; có nguồn gốc từ đất hoặc án ngự trên đất gọi là Thổ thần.
Các thần được gọi tên gắn với các hiện tượng tự nhiên như: Vân thần (mây), Vũ thần (mưa), Phong thần (gió)” v. 9 [dẫn theo 69, tr. Các nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng người Việt đều cho rằng các thần tự nhiên được nhân hóa. Qua thời gian, không gian và qua các bối cảnh lịch sử, văn hóa, các vị thần tự nhiên có thêm những tính cách mới, công năng mới nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân về sự che chở, sự cầu phúc, cầu tài.
Điển hình trong tâm thức dân gian, người Việt thờ các vị thần đại diện cho các hiện tượng tự nhiên như thần mưa, thần sấm, thần chớp gắn với hệ thống thờ Tứ Pháp: Pháp Vân (thần Mây) thờ ở chùa Bà Dâu, Pháp Vũ (thần Mưa) thờ ở chùa Bà Đậu, Pháp Lôi (thần Sấm) thờ ở chùa Bà Tướng, Pháp Điện (thần Chớp) thờ ở chùa Bà Dàn (các chùa này đều thuộc tỉnh Bắc Ninh) [71, tr. Ngoài thờ các hiện tượng tự nhiên, người Việt còn thờ các vị thần biểu trưng cho không gian và thời gian như: Ngũ hành nương, ngũ phương chí thần, ngũ đạo chi thần, thập nhị hành khiển, v., thể hiện khát vọng về sự kéo dài và bảo tồn trạng thái cân bằng trong cuộc sống của họ. Thờ sơn thần là một hiện tượng phổ biến ở Việt Nam, thể hiện thành một hệ tương đối thống nhất - hệ Sơn Tinh - Tản Viên. Ở Việt Nam, Tản Viên được người Kinh và người Mường thờ cúng ở nhiều nơi, nhưng tập trung nhất là ở đồng bằng sông Hồng, đặc biệt là khu vực núi Ba Vì - vùng đất gốc của hệ sơn thần ở nước ta.
Trong bài viết “Mấy ghi nhận về thánh Tản Viên trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam”, tác giả Ngô Đức Thịnh đã lý giải quá trình hình thành và lan tỏa thờ phụng thánh Tản Viên trong cộng đồng người Việt - Mường. Từ cốt lõi một vị thần núi, Tản Viên hội nhập vào hệ thống thần thoại Việt - Mường để trở thành vị thần mang tính khai sáng. Sau đó vị thần núi hội nhập vào dòng Đạo giáo dân gian để trở thành một đạo nhân có phép thuật “đi mây về gió” cứu giúp nhân sinh. Và dần dần, vị thần núi trở thành một vị thành hoàng linh thiêng được nhiều làng thờ phụng.
Cao hơn tất cả, vị thần núi đã được dân gian tôn thờ là một trong “tứ bất tử” trong hệ thống tín ngưỡng người Việt [99, tr. Trong hệ thống thờ, người Việt còn thờ động, thực vật. Hình tượng con rắn, con hổ khá đậm đặc trong tín ngưỡng dân gian, du nhập vào hệ thống tam phủ, tứ phủ. Trong văn hóa dân gian của người Việt ở đồng bằng sông Hồng, rắn là một hình tượng phổ biến và có sức ám ảnh mạnh mẽ nhất.
Chúng ta có thể nhận diện được tục thờ rắn thông qua thờ phụng Ông Lốt trong các đền dọc theo sông Hồng, sông Cầu, sông Đuống và qua các di tích, lễ hội [71, tr. Các cây đại thụ như cây đa, cây si, cây nhãn, cây sấu v., được tin là những nơi có ma trú ngụ. “Thần cây đa, ma cây gạo” là câu ngạn ngữ khá phổ biến trong dân gian để ám chỉ những hồn ma linh thiêng và được linh hóa bằng những câu chuyện, huyền thoại. Gốc cây đại thụ cũng là nơi thờ con tinh, hồn của người con 10 gái chết trẻ.
Theo tác giả Cadière, “loại này thì được xếp vào ma, rất đáng sợ. Chúng đòi phải được cúng tế. Chúng trả thù người sống” [16, tr. Những nơi thờ cúng này vẫn còn hiển hiện ở các con đường, ngõ xóm ở thành phố, nông thôn, thậm chí trên một số đường cao tốc mà khi san ủi làm đường, một số cây to ở giữa đường, nhưng những người thi công cũng không dám chặt bỏ vì sợ “bị trừng phạt”.
Bên cạnh các vị thần tự nhiên được thờ, việc thờ cúng các nhân thần khá phổ biến. Trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, nhân thần “là những vị thần có họ tên, công trạng, quan tước rõ ràng: lúc sống có công lao, trang tiết, lúc chết vẫn thiêng liêng phù trợ cho nước, cho dân. Nhân thần gồm có âm thần (các thần nữ) và dương thần (các thần nam)” [dẫn theo 68, tr. Việc thờ cúng nhân thần xuất phát từ niềm tin vào sự trường tồn của linh hồn.
Các nhân vật được thờ lúc sống đều là các danh nhân có công với nước với dân. Người Việt thờ cúng nhằm tưởng nhớ công lao, ân đức của các nhân vật này. Các nhân vật được nhân dân và triều đình “phong thần” “đều là những người lúc sống có tài năng, đức độ, khí chất hơn người, lại đốc thành dốc sức làm việc giúp dân vô vùng đáng kính” [68, tr. Trong hệ thống thờ thần thánh của người Việt, phải kể đến hệ thống thờ Thánh Mẫu.
Tín ngưỡng thờ nữ, mẫu phát triển từ rất sớm, từ thờ nữ thần tới Mẹ, Thánh Mẫu và một trong những biểu hiện sớm nhất là sự hiện diện của Tứ Pháp, bà Man Nương, vua Bà [68], [101]. Các vị thánh nữ có thể là công chúa, là hoàng hậu, nhưng cũng có thể là một nhân vật tượng trưng như Ngọc Hoa Công Chúa giáng trần, hay một tạo hóa của con người. Quan trọng hơn cả trong tâm thức người Việt là ý thức về một nhân vật có quyền cao, có sức mạnh phi thường, có thể che chở và ban phát tài lộc cho con người ở dương gian. Về việc này, chúng ta đã khá quen thuộc với thực hành thờ Mẫu của người Việt mà thần chủ là Thánh Mẫu Liễu Hạnh trong điện thờ Mẫu tại trung tâm là Phủ Dầy.
Mẫu trong tâm thức của người Việt nói chung và của các con nhang đệ tử là sự cao thượng, lòng độ lượng từ bi mà các con của Mẫu luôn được bình an và được sự che chở. Hệ thống thờ Mẫu cùng với các vị thánh khác như các Quan, các Chầu, các ông Hoàng, các Cậu được thờ trong điện thần Tứ Phủ [101]. Chẳng hạn như Cô Bơ Thoải, trong tâm thức dân gian, Mẫu Thoải hiển ứng ở khắp mọi miền số ngước để phù hộ cho người trên sông nước [28, tr. Bên cạnh hệ thống thờ Mẫu tam phủ, tứ phủ, trong tâm thức người Việt, các vị Thánh Mẫu có công xây dựng và bảo vệ đất nước như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Dương Vân Nga, Ỷ Lan, Bùi Thị Xuân, Bà Chúa Kho v.
cũng được thờ phụng. Họ không chỉ được dân gian tôn thờ là vị Thánh Mẫu, che chở cho dương gian, họ còn được triều đình sắc phong thành các vị thần, thành hoàng của nhiều làng [66]. Ngày nay, thực hành thờ Mẫu trong đó tiêu biểu nhất là lên đồng và lễ hội vào dịp 11 tiệc quan, đã trở nên phổ biến và thu hút nhiều người tham dự cũng như thực hành, tạo thành những bản hội ông đồng bà đồng với những hoạt động, sinh hoạt tín ngưỡng phổ biến trong bối cảnh đương đại [31]. Bên cạnh hệ thống thờ nữ thần và Thánh Mẫu, một số nhà nghiên cứu phân tích tâm thức dân gian của người Việt qua hiện tượng thờ thành hoàng (Nguyễn Duy Hinh [37], Cadière [14]).
Trong tâm thức người Việt, thờ thành hoàng làng cũng là một hình thức thờ nhân thần hoặc các vị thần tự nhiên. Các vị thành hoàng có thể là một nhân vật lịch sử, huyền sử, hay một cái cây (bách tùng). Những vị thần này là do nhân dân tự phong, là những người được mến mộ và được thánh hóa phong thần. Những vị thần này của cả làng, cả xã, là vị thần địa phương.