CHƯƠNG 1: GỐM CHU ĐẬU TRONG QUÁ KHỨ 1. Vài nét về địa lí, lịch sử Chu Đậu Chu Đậu thời Hậu Lê (thế kỉ XVI - XVIII) là một xã nhỏ thuộc huyện Thanh Lâm. Thế kỉ XIX thuộc Tổng Thượng Triết, huyện Thanh Lâm. Huyện Thanh Lâm thời tiền Lê Sơ thuộc Nam Sách châu Đông Đạo, thời Diên Linh (1454-1459) thuộc Nam Sách lộ, năm Quang Thuận thứ 7 (1466) thuộc Nam Sách thừa tuyên (năm thứ 10), năm 1969 thuộc Phủ Nam Sách.
13 Cuối thế kỉ 19, bỏ cấp phủ Thanh Lâm đổi thành huyện Nam Sách. Năm 1979 huyện Nam Sách và huyện Thanh Hà hợp nhất thành huyện Nam Thanh. Chu Đậu hiện nay là một thôn thuộc xã Thái Tân, huyện Nam Sách, Diện tích 59,3 ha dân số 1150 người. Nguồn sống chính là sản xuất nông nghiệp và nghề dệt chiếu cổ truyền.5 Chu Đậu ở tả ngạn sông Thái Bình giáp làng Đăng Xá (nay là Mỹ Xá) ở phía Tây, sông Kè Đá là sông nhỏ chảy qua phía Bắc Chu Đậu qua Mỹ Xá ra sông Thái Bình, tạo nên đường thuỷ phát triển thuận lợi.
Sông này đã bị phù xa bồi đắp do đê sông Thái Bình đắp chặn dòng chảy vào thế kỷ này. Sông Thái Bình là sông lớn thứ hai sau sông Hồng ở Miền Bắc. Nó giữ vai trò quan trọng trong hệ thống đường thủy của Bắc Bộ. Từ Chu Đậu đến Trúc Sơn (Chí Linh ), Hố Lao (Đông Triều), Hoàng Thạch (Kinh Môn) cách nhau từ 25 - 30 km nhưng nhờ có đường thủy qua sông Kinh Thầy và Thái Bình nên việc chở nguyên liệu về nơi sản xuất thuận lợi.
Đến Chu Đậu mua sản phẩm hoặc từ Chu Đậu đến các thị trường ở Thăng Long, Phố Hiến, các chợ ở đồng bằng Châu Thổ hoặc ra biển cũng rất an toàn, thuận tiện và dễ dàng. Nghề sản xuất gốm sứ của Chu Đậu thất truyền cách đây tới gần 400 năm. Truyền thuyết về nghề này cũng ít được nhắc đến, chỉ còn lại một di tích lịch sử là Đống Lò được nhiều người biết đến nhưng cũng không ai giải thích được là lò sản xuất gì. Tìm trong thư tịch tại địa phương, có vài dòng trong gia phả họ Vương ở Đặng Xá ghi vào đầu thế kỉ này có nói một chi của dòng họ này chuyển về Bát Tràng (Hà Nội) để làm bát.
Thay vào nghề làm đồ gốm là nghề dệt chiếu, chiếu Đậu từng nổi tiếng một thời. Vậy thì gốm Chu Đậu được phát hiện như thế nào. Di tích gốm Chu Đậu cổ 1. Những yếu tố dẫn đến việc tiến hành khai quật di tích Chu Đậu Thôn Chu Đậu là một vùng quê yên bình bên tả ngạn sông Thái Bình, giữa xôn xao sóng nước và những nếp nhà thôn dã thộc xã Thái Tân huyện Nam Thanh 5 Theo Hoàng Đình Châm, phó chủ tịch UBND xã Thái Tân, Nam Sách, Hải Dương.
Chu Đậu theo tiếng Hán có nghĩa là bến thuyền đỗ. Những năm trước đây, cư dân thường sống bằng nghề nông nên địa danh Chu Đậu ít được mọi người biết đến. Lai lịch làng gốm cổ Chu Đậu được phát hiện hết sức tình cờ: Năm 1980, ông Makato Anabuki, nguyên là Bí thư đại sứ quán Nhật Bản ở Việt Nam, trong một chuyến đi công tác tại Thổ Nhĩ Kỳ đã trông thấy một chiếc bình gốm hoa lam cao 54cm được trưng bày tại bảo tàng Takapisaray (Istanbul). Trên bình có ghi dòng chữ Hán “Thái Hòa bát niên Nam Sách Châu, tượng nhân Bùi thị Hý bút”, tạm dịch là “Năm Thái Hòa thứ tám (1450) thợ gốm họ Bùi, người Nam Sách vẽ chơi”.
Và ông Makato Anabuki đã viết thư nhờ đồng chí Ngô Duy Đông, Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương bấy giờ xác minh giúp ông xem chiếc bình gốm quý giá đó có xuất xứ từ làng gốm nào. Những thông tin quý báu này giúp các cơ quan chức năng thúc đẩy việc điền dã, sưu tầm những dấu vết về làng gốm cổ. Năm 1985, một đợt khảo sát điền dã nghề dệt chiếu cói truyền thống tại làng Chu Đậu (Hải Dương), tình cờ các nhà nghiên cứu khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện ra nhiều dấu hiệu một trung tâm sản xuất gốm cổ ở đây mà họ đã cố công tìm kiếm: Gốm Chu Đậu. Chính vì vậy mà tháng 4/1986, sở Văn hóa – Thông tin Hải Dương tiến hành khai quật di tích Chu Đậu.
Kết quả thật bất ngờ, các nhà khoa học đã tìm thấy nhiều di vật của một trung tâm gốm mỹ nghệ cao cấp mà từ trước đến nay chưa được phát hiện. Khi những nhát cuốc đầu tiên cắm xuống lòng đất, đã khơi dậy ở Chu Đậu cả một “quá khứ vàng son”. Kết quả sau 5 đợt khai quật nghiên cứu ở Chu Đậu, từ năm 1986 đến năm 1991, các nhà khoa học đã khẳng định: Chu Đậu là một trung tâm gốm lớn của nước ta trong suốt chừng 3 thế kỷ, từ cuối thế kỷ XIV đến đầu thế kỷ thứ XVII (6). Đương nhiên, nơi đây chính là quê hương của chiếc bình gốm hoa lam nói trên, cũng như khá nhiều đồ gốm hoa lam quý giá khác còn lưu trữ được tại các bảo tàng, các sưu tập tư nhân trong và ngoài nước.
Hàng vạn hiện vật đồ gốm 6 Tăng Bá Hoành (1999), Gốm Chu Đậu, NXB Kinh book, Hà Nội, Tr. 12 15 và công cụ sản xuất gốm đã được tìm thấy ở Chu Đậu qua các đợt khai quật khảo cổ học ấy. Sau những kết quả của các cuộc khai quật, sản phẩm gốm Chu Đậu còn tìm thấy ở hai con tàu bị đắm ở vùng biển Pandanan (Philippines) và Cù Lao Chàm (Việt Nam) vào năm 1993 và 1997. Sau khi đưa giám định khoa học, kết quả thật bất ngờ, toàn bộ hiện vật gốm sứ được vớt từ tàu đắm ở dưới biển Cù Lao Chàm, phần lớn đều có xuất xứ từ trung tâm gốm Chu Đậu (Hải Dương), sản xuất vào thế kỷ XIV - XVI.
Khi trục vớt chúng, tờ Việt Mercury tháng 6/2000 đã đăng lời của bà Dessa Goddard – Giám đốc ngành nghệ thuật Á châu của nhà bán đấu giá Butterfields tại San Francisco: “Phát hiện này đang trả lại cho Việt Nam một chương của di sản nghệ thuật mà người ta từng nghĩ là đã hoàn toàn biến mất” và bà xúc động: “Tôi đã khóc”. Khóc vì con tàu đắm nối kết được những yếu tố để khẳng định về một nền mỹ thuật gốm sứ sống động của Việt Nam mà các học giả trước đây, trong đó có bà, vẫn còn bối rối tranh luận vì chưa đủ tài liệu chứng minh” (7). Như vậy ta có thể khẳng định rằng Chu Đậu là một trung tâm gốm cổ của Việt Nam đã rơi vào quên lãng suốt gần 4 thế kỷ, ngay cả những người dân nơi đây cũng không hề biết rằng dưới chân mình là cả một trung tâm gốm nổi tiếng. Đã từng là một trung tâm gốm của cả nước vào thế kỷ XIV – XVII thì chứng tỏ gốm Chu Đậu đạt tới mức hoàn mỹ về cả kiểu dáng cũng như nước men.
Vậy thì vì sao mà gốm Chu Đậu lại tàn lụi và mất hẳn ở các thế kỷ sau đó. Những điều đó sẽ được chúng tôi lý giải ở phần tiếp theo. Di tích gốm Chu Đậu qua 5 lần khai quật. Khai quật lần thứ nhất 23/4/1986 di tích gốm Chu Đậu được khai quật Tại phía Tây thôn Chu Đậu cách dòng sông Thái Bình khoảng 100m về phía Đông được hoạch định hai hố.
Hố 1: Diện tích khoảng 20m2 (chiều dài theo hướng Bắc Nam lệch tây 300). Từ lớp một đến lớp ba (từ 0 đến 60 cm) thấy nhiều con kê, nhiều nhất là loại hình 7 “Khóc lên đi, hỡi quê hương gốm Chu Đậu”,theo báo Vietnamnet, ngày 16/2/2005 16 vòng tròn hình đĩa ba chân cùng với con kê là những mảnh vỡ của chồng bát chồng đĩa hoa lam đốt lửa, chồng dính vào nhau, sụn méo. Những đồ gốm nhẹ lửa vàng, sống men chiếm khối lượng lớn nhất là mảnh bao nung, xỉ than, dấu vết lò bị nung chín đỏ như gạch, thậm chí láng bóng như thủy tinh. Ở phía Tây hố khai quật ở độ sâu khoảng 60 - 80 cm đã chạm sinh thổ, nhưng phía Đông đào đến 120 cm vẫn chưa hết từng văn hóa.
Do ngập nước nên tạm dừng khai quật. Hố 2: Diện tích 15m2 (3x5) chiều dài theo hướng Đông Tây, cách hố thứ nhất 15m về phía Tây Bắc. Thấy nhiều con kê, lọ bình. Kết quả khai quật, Chu Đậu lần thứ nhất đã được thông báo tại hội nghị toàn quốc năm 1986 mang đến cho hội nghị một nguồn tư liệu mới và làm thay đổi nhận thức về gốm Việt Nam vào thế kỉ XV- XVI ghi vào bản đồ khảo cổ học một di tích quan trọng là gốm sứ Chu Đậu.
Khai quật lần thứ 2 Ngày 23/2/1987 với diện tích 40m2 hiện vật thu được ngoài những thứ như lần thứ nhất đã biết, thì còn tìm thấy những cái đĩa lớn đường kính từ 36-37cm, bát men ngọc hoa văn khắc chìm, tráng men cả chân, một loại sứ cao cấp đương thời, hộp và lọ sứ nhiều hơn hố IA và IB. Tại hố IIA ở lớp cuối sâu 140cm thấy một số gạch, trong đó có một mảnh của viên gạch Hoa Thị - gạch của thời Trần. Cùng với việc khai quật, đã tiến hành đào thám sát tại Đống Lò, cách khu vực khai quật 200m về phía Bắc và vườn ông Thiện, ông Nhiên (Chu Đậu). Tại Đống lò tìm được bát có vẽ hình người, vườn ông Thiện thì tìm được chóe men rêu xanh, bình tì bà, đất sét trắng làm nguyên liệu Khai quật lần thứ 3 Vào năm 1989 khai quật một tuyến dài 85km từ phố hiến đến Vạn Yên (Chí Linh).
Tại Chu Đậu ngày 24 tháng 4, khai quật gồm 4 hố nhỏ và 4 hố thám sát diện tích khoảng 50m2. Tại khu vực vườn ông Đàm, cách khu vực khai quật lần thứ nhất 160m, đào một hố khoảng 20m2 (4*5). Tầng văn hóa dày 130 cm. Tại đây tìm được hàng 17 ngàn cổ vật tựa như đào vào kho cổ vật gồm nhiều loại hình: lọ cổ bồng, bát ba chân, bát hoa lam có hình hoa, hình chim, hình hoa.
Khai quật lần thứ 4 Ngày 12/1/1990 cuộc khai quật Chu Đậu lần thứ tư được tiến hành gồm ba cơ quan giám sát đã thu được nhiều hiện vật quý: + Bảo tàng và thông sử Hải Dương do giám đốc bảo tàng làm trưởng đoàn. + Trường Đại học tổng hợp Hà Nội do giáo sư Trần Quốc Vượng làm trưởng đoàn. + Trường Đại học tổng hợp Adelaide of Ustralia do giáo sư - tiến sĩ Burns giám đốc trung tâm nghiên cứu gốm sứ Đông Nam Á làm trưởng đoàn. Khai quật lần thứ 5 Vào ngày 14/3/1991 tại 2 khu vực.