Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Các khái niệm nghiên cứu Để làm rõ các hoạt động quản lý gắn với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích chùa Tiên Châu, luận văn tiếp cận các khái niệm nghiên cứu liên quan như: Di tích lịch sử văn hóa, quản lý văn hóa, quản lý di tích lịch sử - văn hóa, bảo tồn, phát huy. - Di tích lịch sử - văn hóa Theo từ điển tiếng Việt, di tích là “dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất, có ý nghĩa về mặt lịch sử văn hóa. Khái niệm này, chỉ ra thời gian hình thành và tồn tại của một dấu vết, hình ảnh trong quá khứ ở một vùng đất, một quốc gia.
Theo Luật Di sản văn hóa, di tích lịch sử - văn hóa “là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Theo quan điểm này, di tích không chỉ là một công trình như chùa, nhà cổ, cổng thành, cung điện, đền thờ… mà nó còn chứa đựng những di vật, cổ vật, những nghi thức văn hóa, tư liệu văn hóa, sự kiện lịch sử… Di tích lịch sử hội tụ sự đa dạng của một di sản văn hóa. Vì vậy, phân tích một di tích lịch sử văn hóa không chỉ là sự tích về tổng thể kết cấu lịch sử di tích mà còn phải phân tích ôm trọn những giá trị vật thể, phi vật thể tồn tại trong di tích. Chẳng hạn tìm hiểu di tích là một ngôi chùa, cần phải phân tích lịch sử xây dựng, kiến trúc, các bức tượng, các hoạt động tín ngưỡng văn hóa, các câu chuyện lịch sử liên quan đến một ngôi chùa.
Theo điểm d khoản 1, điều 28, Luật Di sản văn hóa thì chùa Tiên Châu (khách thể nghiên cứu của đề tài) được đánh giá như một di tích kiến trúc nghệ thuật vì chùa Tiên Châu là: “Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể 13 kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật” [33]. Di tích chùa Tiên Châu là một công trình kiến trúc phật giáo, phác họa giá trị kiến trúc Việt Nam thế kỷ XIX. Ngoài ra, chùa Tiên Châu còn là không gian phác họa những giai đoạn của lịch sử phật giáo, lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng… - Quản lý văn hóa Quản lý văn hóa được hiểu một cách khái quát là việc ban hành, thực thi các văn bản pháp luật về văn hóa và các hoạt động khác như: Xác lập hệ quan điểm chủ đạo về tư tưởng chính trị, kinh tế, xã hội, đạo đức; những nguyên tắc cơ bản xây dựng và phát triển văn hóa; Bộ máy tổ chức, cán bộ thực hiện chức năng quản lý văn hóa; Cơ chế phối hợp liên ngành; Hệ thống pháp luật văn hóa; Hệ thống chính sách trên từng lĩnh vực (lối sống, nếp sống, văn học - nghệ thuật, di sản văn hóa, văn hóa dân tộc…) và theo địa bàn lãnh thổ (trung ương - địa phương, đô thị - nông thôn, đồng bằng - miền núi, trong nước - ngoài nước…); Các chính sách đầu tư phát triển các nguồn lực và phương tiện văn hóa; Công tác giám sát, kiểm tra, khen thưởng và xử lý vi phạm [4, tr. Cũng tương tự cách nhìn nhận về quản lý văn hóa như trên, trong công trình Chính sách văn hóa trên thế giới và việc hoàn thiện chính sách văn hóa ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Văn Tình cũng đã xác định bản chất của quản lý văn hóa là quản lý nhà nước về văn hóa.
Quản lý văn hóa được thực hiện thông qua xây dựng quy hoạch, kế hoạch, pháp luật và cơ chế chính sách trong văn hóa đi đôi với việc đào tạo cán bộ quản lý và thanh tra, xử lý vi phạm trên lĩnh vực văn hóa [21, tr. Hoạt động quản lý văn hóa cũng được phân loại theo phương diện khách thể văn hóa được quản lý. Khách thể văn hóa được quản lý bao gồm tư 14 tưởng văn hóa (nhận thức, quan điểm, lý tưởng, đạo đức…), giá trị văn hóa (vật thể, phi vật thể), hoạt động văn hóa (các hoạt động nghiên cứu sáng tạo, biểu diễn, điện ảnh, bảo tồn, bảo tàng, thư viện, thiết chế, môi trường, hội nhập…), đời sống văn hóa… [25]. Tóm lại, quản lý văn hóa có thể được nhận diện với các hoạt động sau đây: + Xác lập hệ quan điểm về tư tưởng văn hóa và các nguyên tắc trong bảo vệ, phát triển nền văn hóa.
+ Xây dựng, ban hành, thực thi các chính sách phát triển cho các lĩnh vực văn hóa cụ thể và cho từng phạm vi lãnh thổ cụ thể. + Xây dựng, phát triển các tổ chức và nguồn nhân lực hoạt động trên lĩnh vực văn hóa. + Xây dựng, ban hành, thực thi pháp luật về văn hóa. Di sản trong góc độ nghiên cứu của đề tài này là một trong những lĩnh vực trong hệ thống chính sách thực hiện công tác quản lý văn hóa.
Cơ quan quản lý ban hành, thực thi các chính sách về bảo vệ và phát huy các di sản trong giai đoạn hiện tại. Trong đó di tích là một khách thể giá trị văn hóa, chứa đựng cả giá trị văn hóa vật thể và giá trị phi vật thể. - Bảo tồn Theo khái niệm của từ điển Tiếng Việt thì bảo tồn được hiểu là hoạt động giữ lại một hiện vật, hoặc một giá trị tồn tại ở dạng phi vật thể, không để chúng mất đi. Mục đích của hoạt động bảo tồn, đó là bảo vệ và gìn giữ sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó, không để chúng bị mai một hay thay đổi, biến hóa.
5 5 Trung tâm từ điển học (2005), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr. 15 Trong khía cạnh lý luận văn hóa, khái niệm về bảo tồn cũng được nhiều nhà nghiên cứu xây dựng. Tác giả Trần Ngọc Thêm đưa ra khái niệm chi tiết: “Bảo tồn chính là hoạt động giữ gìn một cách an toàn khỏi sự tổn hại, sự xuống cấp hoặc phá hoại, hay nói cách khác bảo tồn có nghĩa là bảo quản kết cấu một địa điểm ở hiện trạng và hãm xuống cấp của kết cấu đó. Khái niệm này phác họa một cơ bản về quá trình bảo tồn đối với một đối tượng vật chất cụ thể như các công trình kiến trúc cổ, các vật dụng quý giá, văn hóa phẩm được truyền lại từ nhiều thế hệ trước.
Tác giả Ngô Đức Thịnh quan niệm cụ thể về bảo tồn: “Bảo tồn là những nỗ lực nhằm gìn giữ các giá trị, bản sắc văn hóa tốt đẹp vốn có (truyền thống) của mỗi dân tộc, quốc gia. Khái niệm này khẳng định vai trò của tinh thần, ý chí con người trong việc gìn giữ những nền tảng tinh thần của một quốc gia, dân tộc. Và hoạt động bảo tồn được thực hiện phải gắn liền với việc xác định các giá trị, bản sắc văn hóa tốt đẹp của mỗi quốc gia, dân tộc. Trong góc độ nghiên cứu của đề tài, vấn đề bảo tồn được đề cập ở cả hai góc độ: đó là sự bảo vệ hiện trạng vật chất và các giá trị văn hóa tinh thần được lưu giữ tại một di tích kiến trúc nghệ thuật.
Dựa trên nền tảng của khái niệm này, quá trình nghiên cứu phải hướng tới các mục đích: Xác định hiện trạng vật chất của di tích, khảo cứu các giá giá trị của di tích; xác định các yếu tố tác động từ thiên nhiên, con người đến sự tồn tại vững bền của di tích trong dòng chảy văn hóa; Những hoạt động đã tiến hành để gìn giữ sự an toàn, nguyên vẹn di tích. - Phát huy Phát huy trong tiếng Việt nghĩa là hoạt động làm cho tác dụng của một sự vật, hiện tượng nào đó lan rộng, truyền tải nhiều hơn hoặc bản thân nó 6 Trần Ngọc Thêm (1998), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo Dục 7 Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (2010), Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập, NXB Khoa học xã hội. 16 được phát triển nhiều hơn, vững chắc hơn so với cái cũ.8Trong góc độ nghiên cứu văn hóa, vấn đề phát huy thường gắn liền với mục đích đưa các giá trị văn hóa đến với cộng đồng, tạo ra sức sống cho các giá trị cộng đồng trong đời sống thường nhật. Khái niệm phát huy gắn với phục hồi, xây dựng mới hoặc bảo tồn trên nền tảng cái cũ.
Mục đích của phát huy nhằm phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội, cho việc bảo tồn và phát huy phục vụ du lịch, góp phần quan trọng trong việc giáo dục truyền thống yêu nước, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Trong góc độ nghiên cứu của đề tài này, người nghiên cứu cũng dựa trên nền tảng khái niệm này, tức là nghiên cứu thực trạng và các giải pháp toàn diện trong việc phát triển những giá trị của Di tích trong đời sống xã hội. - Quản lý di tích lịch sử - văn hóa Di tích văn hóa được nhìn nhận là một khách thể quản lý, trong đó cơ quan nhà nước, phối hợp với nhiều lực lượng xây dựng, triển khai các chính sách và hệ thống các giải pháp để bảo tồn, phát huy di tích và các giá trị văn hóa, lịch sử của di tích. Quản lý di tích lịch sử văn hóa cũng là bộ phận của công tác quản lý di sản.
Trên cơ sở lý luận về công tác quản lý di sản, có thể rút ra một số điểm khái quát về quàn lý di tích lịch sử - văn hóa như sau: - Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử - văn hóa. - Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di tích lịch sử - văn hóa. 8 Từ điển từ và ngữ Việt Nam (Nguyễn Lân) 17 - Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị đích thực của di tích lịch sử - văn hóa. Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về di tích lịch sử - văn hóa.
- Tổ chức quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cán bộ chuyên môn về di tích lịch sử văn hóa.