Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Hoa (mã lớp VH902) tập trung vào việc nghiên cứu và khai thác hệ thống di tích lịch sử - văn hóa thờ phụng các tướng lĩnh vương triều Trần tại huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nhằm phục vụ mục tiêu phát triển du lịch.

Về tính cấp thiết, tác giả nhận định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, được mệnh danh là “ngành công nghiệp không khói” có đóng góp lớn vào tổng thu nhập quốc dân. Trong các loại hình du lịch nhân văn, hệ thống di tích lịch sử - văn hóa và lễ hội truyền thống giữ vị trí then chốt, phản ánh đời sống tâm linh, lao động sản xuất và lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Huyện Thủy Nguyên là vùng đất tiền tiêu duyên hải giàu truyền thống của Hải Phòng, sở hữu 147 di tích lịch sử các loại, trong đó có 23 di tích xếp hạng cấp quốc gia và 28 di tích xếp hạng cấp thành phố. Mảnh đất này in đậm dấu ấn chiến công chống quân xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII gắn với hào khí Đông A. Tuy nhiên, hoạt động khai thác du lịch tại cụm di tích thờ tướng quân nhà Trần ở Thủy Nguyên còn nhiều hạn chế: cơ sở hạ tầng giao thông chưa thuận tiện, nhiều di tích bị xuống cấp nghiêm trọng hoặc đổ nát, việc tôn tạo ở một số nơi chưa đảm bảo tính chân thực lịch sử, và tiềm năng du lịch chưa được khai thác tương xứng.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể theo 3 nội dung:

  1. Tìm hiểu các giá trị lịch sử, văn hóa, lễ hội của các di tích thờ tướng quân nhà Trần ở Thủy Nguyên, đồng thời đánh giá hiện trạng phát triển du lịch tại các điểm di tích này.
  2. Phác họa khái quát các di tích về lịch sử, kiến trúc, hiện vật, lễ hội.
  3. Đề xuất một số giải pháp về việc khai thác cụm di tích thờ tướng quân nhà Trần phục vụ phát triển du lịch, góp phần phát triển kinh tế, bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống văn hóa của huyện Thủy Nguyên.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các điểm di tích thờ tướng quân nhà Trần ở huyện Thủy Nguyên cùng các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể liên quan.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tác giả xác định do điều kiện bước đầu tập sự nghiên cứu khoa học, khóa luận giới hạn phạm vi tìm hiểu, khai thác giá trị của một số di tích thờ tướng quân nhà Trần tiêu biểu trên địa bàn huyện Thủy Nguyên dưới hai giác độ văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Không gian nghiên cứu tập trung dọc các vùng chiến địa cổ như Tràng Kênh, sông Giá, Tam Hưng, Trung Hà, Liên Khê, Phả Lễ; mốc thời gian khảo sát thực tế và dữ liệu kinh tế - xã hội địa phương cập nhật đến năm 2007-2008.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên hệ thống lý luận thuộc lĩnh vực Khoa học xã hội và Nhân văn, tích hợp kiến thức văn hóa học và quản trị du lịch.

Tác giả tiếp cận các khái niệm nền tảng bao gồm:

  • Định nghĩa về du lịch của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), định nghĩa của Phó Tiến sĩ Trần Nhạn và định nghĩa theo Pháp luật du lịch Việt Nam.
  • Khái niệm “Tài nguyên du lịch” căn cứ theo Điều 4 Luật Du lịch Việt Nam năm 2006, xác định tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo và các giá trị nhân văn khác. Tài nguyên được chia thành tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn (vật thể và phi vật thể).
  • Định nghĩa về “Di tích lịch sử - văn hóa” và “Danh lam thắng cảnh” theo Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh công bố ngày 04/4/1984. Phân loại di tích thành 5 nhóm: di tích khảo cổ, di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích cách mạng và danh lam thắng cảnh.
  • Đặc điểm và chức năng của các công trình tín ngưỡng truyền thống làng xã Việt Nam: đình làng (kết cấu chữ Nhất, chữ Nhị, chữ Đinh, chữ Công; đảm nhận ba chức năng tín ngưỡng, hành chính và văn hóa), đền, miếu, nghè, am và quán Đạo giáo. Khái niệm lễ hội truyền thống với tư cách là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp mang tính cố kết cộng đồng sâu sắc.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu các tài liệu văn bản: Khảo cứu nguồn thư tịch cổ, chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên; công trình Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII của Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm; các hồ sơ khoa học xếp hạng di tích, văn bia Hán Nôm, thần tích, thần phả và sắc phong lưu giữ tại địa phương.
  • Phương pháp phân tích, hệ thống: Phân tích và đánh giá giá trị văn hóa của cụm di tích trong mối quan hệ hữu cơ với điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, lịch sử hình thành và đời sống văn hóa kinh tế - xã hội của cư dân bản địa.
  • Phương pháp điền dã: Khảo sát thực địa trực tiếp hiện trạng kiến trúc, cảnh quan và đồ thờ tự tại các điểm di tích; tiếp xúc, phỏng vấn ban quản lý di tích, thủ từ và các nhân chứng cao niên am hiểu lịch sử địa phương.
  • Phương pháp đối chiếu so sánh: So sánh quy mô kiến trúc, nghệ thuật chạm khắc và hệ thống sắc phong qua các thời kỳ lịch sử để làm nổi bật đặc trưng văn hóa của cụm di tích.

Nguồn dữ liệu của công trình kết hợp giữa dữ liệu sơ cấp (ghi nhận điền dã, đo đạc kích thước hiện vật, ghi chép nội dung văn bia, câu đối, đại tự) và dữ liệu thứ cấp (báo cáo thống kê kinh tế - xã hội huyện Thủy Nguyên năm 2007, các công trình sử học đã công bố).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về du lịch văn hóa – di tích lịch sử văn hóa

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về tài nguyên du lịch và du lịch văn hóa. Tác giả phân tích các thuộc tính của tài nguyên du lịch nhân văn: tính tập trung tại các điểm tụ cư, tính phi mùa vụ, phục vụ mục đích nâng cao nhận thức và thỏa mãn nhu cầu tinh thần của nhóm du khách có trình độ văn hóa cao. Quá trình tiếp cận tài nguyên nhân văn của du khách trải qua 4 giai đoạn: thông tin, tiếp xúc, nhận thức và đánh giá nhận xét.

Tiểu mục kiến trúc truyền thống phân tích sâu cấu trúc và chức năng của đình làng và đền miếu người Việt. Đình làng là biểu tượng văn hóa làng xã, phát triển đỉnh cao vào thế kỷ XVII với nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian độc đáo. Về mặt bằng, đình làng phổ biến với các dạng kết cấu chữ Nhất (phổ biến thời Mạc), chữ Nhị, chữ Đinh (chuôi vồ) và chữ Công, thực hiện ba chức năng: tín ngưỡng (thờ Thành hoàng làng gồm thiên thần và nhân thần), hành chính (thu thuế, xử kiện, khao vọng) và văn hóa (hội hè, tế lễ). Đền, miếu, quán là nơi thờ phụng các nhân thần, thiên thần, danh nhân anh hùng dân tộc hoặc thần điện Đạo giáo (Tam Thanh, Tứ Ngự, Ngũ Lão quân).

Chương này cũng phân loại chi tiết di tích lịch sử - văn hóa theo Pháp lệnh năm 1984 và nhấn mạnh vai trò của lễ hội truyền thống. Lễ hội được nhìn nhận như “cuộc đời thứ hai bên cạnh cuộc đời thật”, vừa mang tính thiêng liêng vừa mang tính trần tục, đóng vai trò bảo tàng sống bảo lưu bản sắc văn hóa dân tộc và là sản phẩm cốt lõi cấu thành sức hút của du lịch văn hóa.

Chương 2: Khai thác giá trị lịch sử văn hóa các di tích thờ tướng quân nhà Trần ở Thủy Nguyên – Hải Phòng

Chương 2 là phần nội dung thực chứng quan trọng nhất của khóa luận, mở đầu bằng bức tranh tổng quan về địa bàn nghiên cứu:

  • Điều kiện tự nhiên: Huyện Thủy Nguyên nằm ở tọa độ 20º55´ vĩ độ Bắc, 106º45´ kinh độ Đông, diện tích 242,7 km², gồm 37 đơn vị hành chính (2 thị trấn: Núi Đèo, Minh Đức và 35 xã). Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp huyện Kinh Môn (tỉnh Hải Dương), phía Nam giáp quận Hải An và nội thành Hải Phòng qua sông Cấm, phía Đông nhìn ra biển và cửa Nam Triệu. Địa hình chuyển tiếp giữa châu thổ sông Hồng và vùng đồi núi Đông Bắc, gồm đồng bằng trung tâm (Kiền Bái, Mỹ Đồng, Thủy Sơn; cao 0,2 - 0,8m), đồng bằng ven sông, vùng đồi núi đá vôi karst phía Bắc nhiều hang động (Hang Vua, hang Vảo, hang Ma, hang Sép, hang Lương, hang Đốc Tít; chiều dài dưới 200m, lớn nhất không quá 500m, cao 4 - 30m so với mực nước biển) và bãi lầy ngập mặn. Thủy văn nổi bật với hồ sông Giá dài 16,5 km, rộng 250 - 400m, diện tích 6,6 km². Khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nhiệt độ trung bình 23ºC, độ ẩm 82 - 85%.
  • Kinh tế - xã hội: Dân số gần 30 vạn người, mật độ 170 người/km². 6 tháng đầu năm 2007, tổng giá trị sản xuất các ngành đạt 562,725 triệu đồng (đạt 54,7% kế hoạch, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm trước); cơ cấu kinh tế: nông nghiệp - thủy sản tăng 11,9%, công nghiệp - xây dựng tăng 21,4%, dịch vụ tăng 13,7%; tỷ trọng ngành công nghiệp chiếm 38,39%, công nghiệp - xây dựng chiếm 35,12%, dịch vụ chiếm 25,5%.

Phần trọng tâm của chương là khảo tả chi tiết lịch sử, kiến trúc, hiện vật và lễ hội tại các di tích tiêu biểu thờ tướng quân nhà Trần:

  1. Đền Trần Hưng Đạo (Linh từ Tràng Kênh, thị trấn Minh Đức): Tọa lạc tại cửa sông Bạch Đằng, ngã ba sông Thải tựa lưng vào núi đá Tràng Kênh. Khởi nguyên là ngôi miếu nhỏ 200m² của ngư dân. Ngày 09/9/2008, ông Lê Văn Thành - Giám đốc Nhà máy Xi măng Hải Phòng phát động công nhân viên đóng góp xây dựng lại đền với sự tham gia cố vấn tâm linh của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng. Đền hoàn thành sau 99 ngày thi công, mở rộng diện tích lên 4000m². Cấu trúc chữ Đinh (3 gian tiền đường, 2 gian hậu cung), cổng tam quan 3 tầng bằng đá khối, tường bao đá Ninh Bình, hệ thống cột gỗ lim Vĩnh Bảo, án thờ lọng thờ từ Hà Tây, đồ chầu và hạc do thợ Nam Định đúc. Hậu cung tôn trí tượng Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo bằng đồng nguyên chất nặng 1,2 tấn mạ vàng, thiếp bạc. Đền duy trì ba kỳ lễ hội: ngày 14 tháng Giêng (phát ấn tín, tế lễ từ 14-16), ngày 20/8 âm lịch (giỗ Đức Thánh Trần) và ngày 14 tháng Chạp (kỷ niệm khánh thành đền).

  2. Đền và Lăng mộ Tướng quân Trần Quốc Bảo (thị trấn Minh Đức): Trần Quốc Bảo thuộc dòng dõi quý tộc triều Trần, cháu gọi vua Trần Nhân Tông bằng ông. Trong chiến dịch Bạch Đằng năm 1288, ông chỉ huy cánh thủy quân mai phục tại các áng núi Tràng Kênh (Áng Hồ, Áng Lác, Áng Gỗ), phối hợp đánh hỏa công thiêu rụi chiến thuyền của Ô Mã Nhi vào giờ Mão ngày 09/4/1288. Ông bị trúng tên độc khi truy kích thuyền chỉ huy của giặc và hy sinh, được phó tướng Vũ Nạp an táng tại chân núi Phượng Hoàng. Đền thờ nằm tại chân núi Hoàng Tôn nhìn ra sông Bạch Đằng, kiến trúc bái đường 4 mặt trống kiểu chồng diêm 2 mái, 8 đầu đao rồng uốn lượn, nâng đỡ bởi 16 cột gỗ tròn (4 cột cái, 12 cột phụ). Hậu cung đặt tượng Trần Quốc Bảo khoác hồng bào, mắt hổ nhìn thẳng. Khu di tích được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng cấp quốc gia ngày 28/4/1990; ngày 10/5/2002 Chủ tịch nước Trần Đức Lương về thăm và trồng cây lưu niệm. Khu lăng mộ nằm ở thế đất phong thủy “Táng phong”, “Đắc thủy”, “Gối sơn đạp thủy”; tháng 3/2003 được tôn tạo bằng đá xanh đẽo cuộng chạm tứ linh tứ quý, diện tích lăng 50m², sân trước 500m².

  3. Đền thờ Vũ Nguyên (thôn Do Lễ, xã Tam Hưng): Dựng trên nền nhà cũ của tướng quân Vũ Nguyên, người lập công xuất sắc trong trận Bạch Đằng năm 1288. Do tướng quân hóa cùng sông nước nên hậu cung thờ cỗ ỷ ngai bài vị, phối thờ Nam Hải Đại vương Phạm Tử Nghi. Di tích lưu giữ 5 đạo sắc phong triều Nguyễn (Tự Đức năm thứ 6 [1854], năm thứ 11 [1859], năm thứ 31 [1879]; Đồng Khánh năm thứ 2 [1888]; Thành Thái nguyên niên [1889]), một cuốn thần phả sao năm Thành Thái, một bát hương men hoa lam đường kính 32cm, và 3 bia đá Hậu thần bi ký (trong đó có 1 bia thời Lê - Mạc kích thước 60x100x20cm chạm hoa dây hình sin, lưỡng long chầu nguyệt, bông cúc mãn khai; 2 bia thời Nguyễn đầu thế kỷ XX kích thước 40x70x20cm và dạng dẹt).

  4. Miếu Phả Lễ (xã Phả Lễ): Thờ phụng Quý Minh thượng đẳng thần cùng hai anh em Trần Hộ và Trần Độ (nguyên gốc thần phả ghi là Phổ Hộ, Phổ Độ; quê gốc Châu Ái/Thanh Hóa, làm nghề sông nước), người mộ binh lập đội dân binh hỏa công giúp Trần Hưng Đạo đánh lui quân Ô Mã Nhi năm 1288; phối thờ tướng Mai Đình Nghiêm. Miếu xây dựng năm Mậu Tuất (1898) niên hiệu Thành Thái, bố cục chữ Đinh (5 gian tiền đường, 3 gian chuôi vồ), bộ khung gỗ 4 vì, tường hồi bít đốc, vì nóc giá chiêng chạm rồng thời Nguyễn, thềm hiên cao 0,15m. Di vật gồm bia đá “Phả Lễ nhị xã bi ký” niên hiệu Thành Thái 13 (1901), bộ chấp kích bát bửu 16 thanh, kiệu bát cống 8 thanh rồng, 3 cỗ long ngai bài vị, 1 cuốn thần phả chữ Hán, 8 đạo sắc phong triều Nguyễn và 3 bức đại tự (“Tối linh từ”, “Thần hóa dân nghi”, “Thánh cung vạn tuế”).

  5. Đình Chung Mỹ (thôn Chung Mỹ, xã Trung Hà): Thờ Hưng Trí Vương Trần Quốc Hiện (con trai thứ năm của Trần Quốc Tuấn). Ông lập công lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông năm 1285 và 1288, sau đó về vùng Thủy Đường mộ dân khai khẩn bãi bồi lập trang Chung Mỹ. Khi mất vào ngày mồng 9 tháng Giêng, dân lập đền Hiển Linh tôn thờ. Ngôi đình cổ 5 gian tiền đường 3 gian hậu cung bằng gỗ lim bị thực dân Pháp phá hủy trong kháng chiến; nhân dân dựng lại 3 gian tiền đường nhỏ kết nối với 3 gian hậu cung cổ sót lại tạo mặt bằng chữ Đinh. Di tích bảo lưu kiến trúc vì kèo chạm khắc tinh xảo (kẻ suốt, giá chiêng chồng rường đấu sen, ván mê chạm hổ phù ngậm chữ thọ, đôi phượng múa, vòng tròn trung tâm đường kính 1,2m chạm lưỡng long và long mã). Hiện vật quý gồm: 1 cỗ long đình thế kỷ XIX (cao 2,6m, rộng 0,82m); 2 nhang án gỗ thế kỷ XIX (chiếc thứ nhất cao 1,48m chia 30 ô mặt trước sau và 14 ô mặt bên; chiếc thứ hai chạm tứ quý); 1 kiệu bát cống gỗ vàng tâm; tượng Hưng Trí Vương ngồi ngai rồng bằng gỗ sơn thiếp; đôi câu đối lòng máng thế kỷ XX; 1 bộ bát bửu; 1 đôi quán tẩy độc long nhả ngọc; 1 đôi bát hương đá cao 32cm; 1 chiêng đồng và 1 bia đá cao 76cm, rộng 57cm, dày 9,8cm ghi lại các sắc phong năm 1840, 1846, 1850 và 1924.

  6. Đền Thụ Khê (xã Liên Khê): Nơi Trần Hưng Đạo cùng đoàn tùy tùng quan sát địa hình lập phòng tuyến mai phục trên sông Giá trước trận Bạch Đằng 1288. Đền xưa có quy mô “nội công ngoại quốc” gồm tiền đường, hậu cung chữ đinh và 2 dãy giải vũ, cách 50m có 2 bia đá, cách bến Sỏi 200m nơi tổ chức hội bơi chải ngày 20/8 âm lịch. Toàn bộ công trình cổ bị tàn phá trong chiến tranh chống Pháp, sau này được nhân dân địa phương dựng lại để tưởng nhớ chiến thắng Trúc Động.

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác và phát triển du lịch văn hóa ở huyện Thủy Nguyên

Theo bố cục được tác giả trình bày tại phần Mở đầu, Chương 3 định hình hệ thống giải pháp phát triển du lịch dựa trên hiện trạng khảo sát:

  • Nhóm giải pháp quy hoạch, tôn tạo và phục hồi di tích: Trùng tu các công trình bị xuống cấp nhưng phải bảo đảm giữ nguyên vẹn yếu tố gốc và tính chân thực lịch sử, khắc phục tình trạng tôn tạo làm biến dạng phong cách kiến trúc cổ.
  • Nhóm giải pháp phát triển hạ tầng và tuyến điểm du lịch: Xây dựng tuyến du lịch văn hóa - lịch sử - sinh thái kết nối các di tích thờ tướng quân nhà Trần dọc triền sông Giá và sông Bạch Đằng (Linh từ Tràng Kênh - đền/lăng mộ Trần Quốc Bảo - đền Thụ Khê - đền Vũ Nguyên - miếu Phả Lễ - đình Chung Mỹ), kết hợp tham quan thắng cảnh hang động karst.
  • Nhóm giải pháp tuyên truyền, xúc tiến và đào tạo nguồn nhân lực: Đẩy mạnh quảng bá giá trị di tích đến các công ty lữ hành, biên soạn tài liệu giới thiệu chuẩn xác cho hướng dẫn viên, nâng cao nhận thức bảo tồn của cộng đồng địa phương và kết hợp giáo dục truyền thống lịch sử cho thế hệ trẻ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp một khối lượng tư liệu điền dã phong phú, xác lập bảng dữ liệu hệ thống về các di tích thờ danh tướng nhà Trần tại Thủy Nguyên:

Tên di tích Địa điểm Nhân vật thờ tự chính Niên đại / Quy mô kiến trúc Di vật, hiện vật tiêu biểu Lễ hội tiêu biểu
Đền Trần Hưng Đạo (Linh từ Tràng Kênh) TT. Minh Đức Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo Khởi công 09/9/2008 (xây trong 99 ngày); diện tích 4.000m²; kết cấu chữ Đinh Tượng đồng Trần Hưng Đạo 1,2 tấn mạ vàng; cổng tam quan đá khối; cột gỗ lim 14 tháng Giêng (cấp ấn tín); 20/8 âm lịch; 14 tháng Chạp
Đền và Lăng mộ Trần Quốc Bảo TT. Minh Đức Tướng quân Trần Quốc Bảo Xếp hạng quốc gia năm 1990; lăng mộ tôn tạo năm 2003 (diện tích lăng 50m², sân 500m²) Tượng Trần Quốc Bảo mặc hồng bào; tượng quan Giám Mã; lăng đá xanh chạm tứ linh Lễ hội kỷ niệm chiến thắng Bạch Đằng, ngày mất của tướng quân
Đền Vũ Nguyên Xã Tam Hưng Tướng quân Vũ Nguyên (phối thờ Nam Hải Đại vương Phạm Tử Nghi) Dựng trên nền nhà cũ; tiền đường bị hủy hoại, còn hậu cung 5 đạo sắc phong triều Nguyễn; thần phả năm Thành Thái; cỗ ỷ ngai bài vị; 3 bia đá Hậu thần bi ký (thời Lê - Mạc và Nguyễn) Tế lễ định kỳ theo tập tục làng Do Lễ
Miếu Phả Lễ Xã Phả Lễ Quý Minh, Phổ Hộ, Phổ Độ (phối thờ Mai Đình Nghiêm) Niên hiệu Thành Thái Mậu Tuất (1898); mặt bằng chữ Đinh; 4 vì gỗ Bia đá năm 1901; 8 đạo sắc phong triều Nguyễn; bộ chấp kích 16 thanh; kiệu bát cống; 3 bức đại tự Sinh hoạt tín ngưỡng làng chài ven sông
Đình Chung Mỹ Xã Trung Hà Hưng Trí Vương Trần Quốc Hiện Mặt bằng chữ Đinh; 3 gian hậu cung cổ, 3 gian tiền đường phục dựng Long đình tk XIX (cao 2,6m); 2 nhang án gỗ tk XIX; tượng Hưng Trí Vương; bia đá năm 1924 ghi sắc phong Ngày mồng 9 tháng Giêng (ngày mất của Hưng Trí Vương)
Đền Thụ Khê Xã Liên Khê Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo Phục dựng sau kháng chiến chống Pháp; nguyên gốc có kiến trúc nội công ngoại quốc Vết tích chân cồn lương thảo; văn bia; bến Sỏi 20/8 âm lịch (rước tượng bơi chải trên sông Giá)

Đóng góp của khóa luận được tác giả tự xác định:

  • Về mặt học thuật và thực tiễn địa phương: Theo khảo sát của tác giả tại thời điểm nghiên cứu, trước đây đã có các công trình viết về kháng chiến chống Nguyên Mông hay di tích nhà Trần ở Quảng Ninh, Nam Định, nhưng chưa có tài liệu nào nghiên cứu chuyên biệt về hệ thống di tích thờ tướng quân nhà Trần tại Thủy Nguyên được công bố. Đề tài là công trình khảo cứu chuyên sâu đầu tiên về cụm di tích này.
  • Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có giá trị thực chứng cho các hướng dẫn viên du lịch, các cơ quan quản lý văn hóa và các đơn vị kinh doanh lữ hành tại Hải Phòng và Thủy Nguyên trong việc xây dựng tuyến điểm tham quan.
  • Đóng góp vào công tác bảo tồn, hoàn chỉnh tư liệu giới thiệu phục vụ khách tham quan du lịch tại các điểm di tích.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Tác giả tự nhìn nhận công trình là bước đầu tập sự nghiên cứu khoa học của sinh viên, nguồn lực thời gian và kinh phí điền dã có hạn nên khóa luận chỉ giới hạn khảo sát sâu một số di tích tiêu biểu, chưa thể bao quát toàn bộ 147 di tích trên địa bàn huyện Thủy Nguyên.
  • Sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh (đặc biệt là giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp đóng đồn bốt phá hoại đình chùa như tại đình Chung Mỹ, đền Thụ Khê) và sự hủy hoại của thiên nhiên khiến nhiều tư liệu thành văn bản gốc, thần phả, sắc phong và kiến trúc nguyên gốc bị thất lạc, cháy hủy, gây khó khăn cho việc phục dựng trọn vẹn diện mạo di tích cổ.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Văn bản khóa luận nêu rõ: khi đề tài nghiên cứu được thẩm định, bổ sung và hoàn chỉnh, các nội dung khảo tả cần được chuẩn hóa để trở thành tài liệu thuyết minh chính thức tại các điểm di tích.
  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu liên ngành văn hóa - lịch sử - du lịch sang các di tích vệ tinh khác thuộc quần thể chiến thắng Bạch Đằng trên địa bàn Hải Phòng và Quảng Ninh để hình thành tuyến du lịch hoàn chỉnh cấp vùng.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên các ngành Văn hóa học, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Lịch sử, Việt Nam học: Tài liệu mẫu mực về phương pháp khảo tả hiện trạng di tích kiến trúc nghệ thuật, phân loại đồ thờ tự, văn bia Hán Nôm và kỹ thuật điền dã di sản văn hóa địa phương.
  • Doanh nghiệp lữ hành và hướng dẫn viên du lịch: Cung cấp dữ kiện chi tiết về đường đi, vị trí địa lý, nhân vật phụng thờ, thần tích và các mốc lễ hội cụ thể để thiết kế tour chuyên đề “Dấu ấn hào khí Đông A trên dòng Bạch Đằng giang” hoặc tour du lịch sinh thái kết hợp văn hóa sông Giá - Tràng Kênh.
  • Cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền địa phương: Cung cấp số liệu khảo tả hiện vật, sắc phong, bia ký để làm căn cứ lập hồ sơ khoa học phục vụ công tác trùng tu, bảo tồn và xếp hạng di tích.

Câu hỏi thường gặp

1. Nhân vật phụng thờ chính tại đình Chung Mỹ (xã Trung Hà) là ai và có công tích lịch sử như thế nào?

Thành hoàng được phụng thờ tại đình Chung Mỹ là Hưng Trí Vương Trần Quốc Hiện, người con trai thứ năm của Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo. Ông có tài thao lược, lập công lớn trong hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông năm 1285 và 1288. Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 1289, dù lập nhiều chiến công nhưng ông không được thăng trật do trái lệnh triều đình tha cho tặc binh rút lui mà đã phục binh tiêu diệt tặc binh để trừ hại cho dân lành và rửa hận việc Chiêu Lăng bị xâm phạm. Sau khi đất nước thanh bình, ông về vùng Thủy Đường chiêu mộ dân binh khai hoang lập nên trang Chung Mỹ trù phú. Sau khi ông qua đời vào ngày mồng 9 tháng Giêng, nhân dân lập đền thờ (đền Hiển Linh, sau là đình Chung Mỹ) và được các triều vua Nguyễn ban sắc phong tôn làm Thành hoàng.

2. Đền Trần Hưng Đạo tại thị trấn Minh Đức (Linh từ Tràng Kênh) được tái thiết trong hoàn cảnh nào và có quy mô ra sao?

Ngôi đền tọa lạc tại cửa sông Bạch Đằng, ngã ba sông Thải, nguyên là một miếu nhỏ diện tích 200m² do ngư dân lập nên. Khi Nhà máy Xi măng Hải Phòng xây dựng tại đây, ông Giám đốc Lê Văn Thành cùng tập thể cán bộ công nhân viên đã phát động đóng góp tâm đức tái thiết ngôi đền từ ngày 09/9/2008. Công trình hoàn thành sau 99 ngày thi công, mở rộng khuôn viên lên 4000m² với kiến trúc chữ Đinh gồm 3 gian tiền đường, 2 gian hậu cung. Đền có tường bao và cổng tam quan bằng đá khối Ninh Bình, hệ thống cột gỗ lim Vĩnh Bảo, án thờ Hà Tây, đồ chầu đúc từ Nam Định và hậu cung đặt pho tượng Trần Hưng Đạo bằng đồng nguyên chất nặng 1,2 tấn mạ vàng, thiếp bạc.

3. Vì sao tại đền Vũ Nguyên (thôn Do Lễ, xã Tam Hưng) nhân dân không tạc tượng thờ mà chỉ thờ cỗ ỷ ngai bài vị?

Theo phong tục truyền thống và truyền ngôn của nhân dân địa phương ghi nhận trong văn bản, tướng quân Vũ Nguyên là người trang Do Lễ lập công xuất sắc trong trận Bạch Đằng năm 1288, sau trận đánh ông đã “hóa cùng sông nước”. Chính vì ông mất trên sông nước trong trận chiến, dân làng tuân theo sắc phong triều đình và lệ cũ, chỉ lập cỗ ỷ ngai chứa bài vị để phụng thờ chữ húy chứ không tạc tượng tròn, thể hiện lòng thành kính đối với vị phúc thần hộ quốc trạch dân.

4. Miếu Phả Lễ (xã Phả Lễ) thờ những vị thần nào và hiện còn lưu giữ những di vật lịch sử tiêu biểu nào?

Miếu Phả Lễ phụng thờ Quý Minh thượng đẳng thần (thời Hùng Vương thứ 18) cùng hai anh em Trần Hộ và Trần Độ (nguyên gốc thần phả ghi Phổ Hộ, Phổ Độ, người gốc Châu Ái/Thanh Hóa, chỉ huy đội dân binh hỏa công lập công trong trận Bạch Đằng 1288) và phối thờ tướng Mai Đình Nghiêm. Hiện miếu bảo lưu nhiều hiện vật giá trị: bia đá “Phả Lễ nhị xã bi ký” niên hiệu Thành Thái 13 (1901), 1 cuốn thần phả chữ Hán, 8 đạo sắc phong của các triều vua Nguyễn (Tự Đức, Thành Thái, Khải Định), bộ chấp kích bát bửu 16 thanh vũ khí thờ, 1 cỗ kiệu bát cống 8 thanh rồng, 3 cỗ long ngai bài vị sơn thiếp nghệ thuật thời Nguyễn và 3 bức đại tự (“Tối linh từ”, “Thần hóa dân nghi”, “Thánh cung vạn tuế”).

5. Lăng mộ Tướng quân Trần Quốc Bảo tại chân núi Phượng Hoàng có vị thế phong thủy và quy mô xây dựng như thế nào?

Lăng mộ Trần Quốc Bảo nằm dưới chân núi Phượng Hoàng (cách trung tâm thị trấn Minh Đức khoảng 1 km theo đường chim bay), được phó tướng Vũ Nạp chọn đất an táng ngay trong đêm sau trận Bạch Đằng năm 1288. Thế đất đắc địa theo sách Táng Thư gồm đủ các yếu tố “Táng phong”, “Đắc thủy” và “Gối sơn đạp thủy”: lưng tựa núi Phượng Hoàng (Chủ Phong), tả có núi Thanh Long, hữu có núi Bạch Hổ tạo hình thế tay ngai che chắn gió ác, phía trước hướng ra dòng sông Bạch Đằng. Tháng 3/2003, nhân kỷ niệm 715 năm chiến thắng Bạch Đằng, lăng mộ được tôn tạo bằng đá xanh đẽo cuộng chạm hoa văn tứ linh tứ quý, ngói mũi hài, diện tích lăng 50m², sân trước rộng 500m².

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Hoa là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, khảo cứu công phu về hệ thống di tích lịch sử - văn hóa thờ phụng các tướng quân nhà Trần tại huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa lý luận văn hóa du lịch với phương pháp điền dã thực địa, tác giả đã phục dựng chi tiết bức tranh lịch sử, nghệ thuật kiến trúc, kho tàng di vật Hán Nôm và sinh hoạt lễ hội truyền thống của từng điểm di tích gắn liền chiến thắng Bạch Đằng năm 1288. Những số liệu thực chứng chính xác và hệ thống giải pháp gắn kết di sản với tuyến điểm du lịch sinh thái sông Giá - Bạch Đằng đã khẳng định giá trị ứng dụng thiết thực của đề tài đối với công tác bảo tồn văn hóa và định hướng phát triển du lịch bền vững tại địa phương.