Khóa luận tốt nghiệp: Bồ Tát Quán Thế Âm ở Tổ Đình Quán Thế Âm (TP.HCM) - Nguyễn Thị Minh Hạnh

Khóa luận nghiên cứu về Bồ Tát Quán Thế Âm tại Tổ Đình Quán Thế Âm (Phường 5, Phú Nhuận, TPHCM). Phân tích lịch sử, kiến trúc, tín ngưỡng và vai trò của Bồ Tát

Chuyên ngành

Văn hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2007

113
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Bồ Tát Quán Thế Âm trong Phật giáo

Bồ Tát Quán Thế Âm là một trong những hình tượng Phật giáo quan trọng nhất châu Á. Ngài xuất hiện đầu tiên ở Ấn Độ, sau đó lan toả sang Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam và nhiều nước Đông Nam Á. Tên gọi "Quán Thế Âm" mang nghĩa "lắng nghe âm thanh của thế gian". Ngài được xem là hiện thân của lòng từ bi vô lượng. Theo kinh điển Đại thừa, Bồ Tát Quán Thế Âm thường ở thế giới Cực Lạc Phương Tây, hầu cận đức Phật A-di-đà để giáo hoá chúng sinh. Tại Việt Nam, tín ngưỡng thờ phụng Ngài xuất hiện từ rất sớm và trở nên phổ biến trong cộng đồng Phật giáo. Hình tượng Ngài được thể hiện qua nhiều dạng tranh, tượng khác nhau. Mỗi dạng thức mang một ý nghĩa và câu chuyện riêng. Tại các chùa Đại thừa, tranh tượng Quán Thế Âm là yếu tố không thể thiếu. Nghiên cứu về Ngài giúp hiểu sâu hơn về văn hoá tâm linh người Việt.

1.1. Khái niệm và nguồn gốc Bồ Tát Quán Thế Âm

Quán Thế Âm là danh hiệu xuất phát từ tiếng Phạn Avalokiteśvara. Tên này có nghĩa là vị Bồ Tát quan sát và lắng nghe tiếng kêu cầu của chúng sinh khắp thế gian. Ngài được xem là biểu tượng của từ bi và cứu khổ. Nguồn gốc tín ngưỡng này bắt đầu từ Ấn Độ thời kỳ Phật giáo Đại thừa phát triển. Vương triều Kuṣāṇa đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá tín ngưỡng này sang các vùng lân cận. Qua con đường thương mại và truyền giáo, hình tượng Ngài dần được tiếp nhận và bản địa hoá tại từng quốc gia với những nét đặc trưng riêng biệt.

1.2. Trú xứ và các dạng thức thể hiện của Bồ Tát

Theo kinh Đại Đường Tây Vực Ký, Bồ Tát Quán Tự Tại thường lui tới một thạch động bên cạnh ao nước trong vắt trên đỉnh núi Bổ-đà-lạc. Nơi này được coi là linh địa của Ngài. Tại Việt Nam, động Hương Tích thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây được xem là nơi cư trú của Bồ Tát qua sự tích Quán Âm Hương Tích và nàng Chúa Ba. Ngài được thể hiện qua nhiều dạng tượng: Bạch Y Quán Âm, Quán Âm Thập Nhất Diện, Thiên Thủ Thiên Nhãn. Mỗi dạng thức phản ánh một phương diện khác nhau của lòng từ bi và năng lực cứu độ chúng sinh.

II. Đặc điểm tín ngưỡng Quán Thế Âm tại Thành phố Hồ Chí Minh

Tín ngưỡng Quán Thế Âm tại Thành phố Hồ Chí Minh mang những nét đặc trưng riêng biệt so với các vùng miền khác. Quá trình hình thành tín ngưỡng này gắn liền với lịch sử khai phá và định cư của người Việt tại vùng đất phương Nam. Cư dân theo Phật giáo tại đây tiếp nhận và chuyển hoá tín ngưỡng Quán Thế Âm theo bản sắc văn hoá địa phương. Trong các ngôi chùa Đại thừa ở thành phố, tranh tượng Quán Thế Âm hiện diện với mật độ dày đặc và phong phú về hình thức. Tổ Đình Quán Thế Âm tại phường 5, quận Phú Nhuận là một trong những trung tâm tín ngưỡng quan trọng nhất. Tại đây, Bồ Tát Quán Thế Âm không chỉ là đối tượng thờ phụng mà còn là biểu tượng văn hoá gắn kết cộng đồng. Giới cư sĩ, Phật tử đến lễ bái Ngài với niềm tin vào sự cứu độ và phù hộ trong cuộc sống hằng ngày. Tín ngưỡng này thấm sâu vào đời sống gia đình người Việt tại quận Phú Nhuận.

2.1. Sự hình thành và phát triển tín ngưỡng tại Nam Bộ

Tín ngưỡng Quán Thế Âm du nhập vào Nam Bộ theo dòng lưu dân người Việt từ thế kỷ 17. Cùng với quá trình khai hoang mở cõi, các ngôi chùa Phật giáo Đại thừa lần lượt được xây dựng. Trong mỗi ngôi chùa, hình tượng Quán Thế Âm luôn chiếm vị trí trang trọng. Tại đô thị Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, tín ngưỡng này càng phát triển mạnh do sự tập trung đông đảo cư dân Phật giáo. Các lễ hội liên quan đến Bồ Tát Quán Thế Âm được tổ chức thường xuyên, thu hút đông đảo tín đồ từ khắp nơi về tham dự.

2.2. Quan niệm của chư Tăng và Phật tử về Bồ Tát

Chư Tăng tại Tổ Đình Quán Thế Âm nhìn nhận Bồ Tát như hiện thân của đại từ bi và trí tuệ giải thoát. Quan niệm này dựa trên nền tảng kinh điển Phật giáo Đại thừa. Trong khi đó, giới cư sĩ và Phật tử thường tiếp cận Ngài với niềm tin mang tính thực tiễn hơn. Họ cầu nguyện Quán Thế Âm phù hộ trong việc sinh con, chữa bệnh, hoá giải tai ương. Tín ngưỡng dân gian và giáo lý Phật giáo đan xen nhau tạo nên một hệ thống thờ phụng phong phú và đặc sắc trong đời sống cộng đồng tại quận Phú Nhuận.

III. Kiến trúc và hệ thống tượng thờ tại Tổ Đình Quán Thế Âm

Tổ Đình Quán Thế Âm tại phường 5, quận Phú Nhuận là một công trình kiến trúc Phật giáo có giá trị lịch sử và văn hoá cao. Tổ đình gồm nhiều hạng mục kiến trúc quan trọng: cổng tam quan, chánh điện, bảo tháp Lửa Từ Bi và An Lạc Sơn. Năm 1972, Thượng tọa Thích Thông Bửu cho xây dựng hòn giả sơn An Lạc Sơn cao hơn 2 mét. Đầu tiên, trên đỉnh An Lạc Sơn có một thạch động với tượng Bạch Y Quán Âm. Năm 1991, An Lạc Sơn được trùng tu với 3.000 bao xi măng, không sử dụng cát. Lưng chừng núi, tượng Quan Âm Thập Nhất Diện bằng đá hoa cương màu hồng được tôn trí. Pho tượng cao 3m60, nặng 5 tấn, do điêu khắc gia Lý Dũng thực hiện trong một năm. Tổ đình còn lưu giữ nhiều hiện vật quý, trong đó có bức tranh vẽ Hoà thượng Quảng Đức bằng máu của Tăng Ni và Phật tử sau biến cố năm 1963 - một bảo vật lịch sử vô giá.

3.1. Chánh điện và hệ thống tranh tượng Quán Thế Âm

Chánh điện Tổ Đình Quán Thế Âm là không gian thờ tự trung tâm của toàn bộ khuôn viên. Tại đây, nhiều loại tranh và tượng Quán Thế Âm được sắp đặt theo thứ tự và vị trí nghiêm cẩn. Các pho tượng được tạo tác từ nhiều chất liệu khác nhau: đá hoa cương, gỗ, đồng và xi măng. Mỗi pho tượng phản ánh một phong cách nghệ thuật và thời đại riêng biệt. Sự đa dạng trong hình thức thể hiện cho thấy quá trình tiếp biến văn hoá phong phú giữa Phật giáo Ấn Độ, Trung Hoa và Việt Nam qua nhiều thế kỷ.

3.2. An Lạc Sơn và các hiện vật lịch sử đặc biệt

An Lạc Sơn là điểm nhấn kiến trúc độc đáo của Tổ Đình Quán Thế Âm. Công trình này mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, tượng trưng cho núi Bổ-đà-lạc - trú xứ của Bồ Tát theo kinh điển. Bên cạnh An Lạc Sơn có phòng Khánh Tiết, nơi lưu giữ bức tranh Hoà thượng Quảng Đức vẽ bằng máu - một tư liệu lịch sử của phong trào Phật giáo năm 1963. Bức tranh do hoạ sĩ Trọng Nội thực hiện, kích thước 2m x 1m. Dù đã được bảo quản cẩn thận, bức tranh bắt đầu có dấu hiệu hư hỏng, đòi hỏi biện pháp bảo tồn khẩn cấp từ phía nhà chùa và các cơ quan chức năng.

IV. Ý nghĩa văn hóa và giá trị di sản của Tổ Đình Quán Thế Âm

Tổ Đình Quán Thế Âm tại quận Phú Nhuận không chỉ là nơi thờ tự mà còn là di sản văn hoá phi vật thể quan trọng của Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu về Bồ Tát Quán Thế Âm tại đây mang ý nghĩa học thuật sâu sắc. Hình tượng Ngài phản ánh quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá giữa Phật giáo Ấn Độ, Trung Hoa và tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Tổ đình là nơi bảo tồn nhiều hiện vật nghệ thuật và lịch sử quý giá. Cơ cấu tổ chức chư Tăng và sinh hoạt tu tập tại đây duy trì truyền thống Phật giáo theo hướng Đại thừa. Đối với cộng đồng cư dân quận Phú Nhuận, tổ đình là điểm tựa tâm linh không thể thay thế. Tín ngưỡng Quán Thế Âm kết nối nhiều thế hệ Phật tử và góp phần gìn giữ bản sắc văn hoá đô thị. Việc nghiên cứu và bảo tồn di sản này cần được tiến hành song song với công tác tu bổ kiến trúc và phục chế hiện vật.

4.1. Vai trò của Tổ Đình trong đời sống cộng đồng Phật tử

Tổ Đình Quán Thế Âm đóng vai trò trung tâm sinh hoạt tâm linh cho cộng đồng Phật giáo quận Phú Nhuận. Chư Tăng tại đây thực hành và truyền bá giáo lý Phật giáo Đại thừa. Các lễ hội vía Quán Thế Âm thu hút hàng nghìn tín đồ tham dự mỗi năm. Tổ đình cũng là cơ sở giáo dục Phật pháp cho giới cư sĩ trẻ tuổi. Những hoạt động từ thiện xã hội được tổ chức thường xuyên, thể hiện tinh thần từ bi của Bồ Tát Quán Thế Âm trong đời sống hiện đại.

4.2. Bảo tồn và phát huy giá trị di sản Phật giáo

Công tác bảo tồn di sản tại Tổ Đình Quán Thế Âm đặt ra nhiều thách thức. Các hiện vật lịch sử như bức tranh Hoà thượng Quảng Đức đang xuống cấp, cần được phục chế chuyên nghiệp. Kiến trúc tổ đình cần tu bổ định kỳ để bảo toàn tính nguyên vẹn. Tư liệu hoá toàn bộ hệ thống tranh tượng là việc làm cấp thiết. Sự hợp tác giữa nhà chùa, cơ quan văn hoá và các chuyên gia nghiên cứu sẽ tạo nền tảng vững chắc để gìn giữ di sản Phật giáo này cho các thế hệ tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Tìm hiểu về bồ tát quán thế âm ở tổ đình quán thế âm khóa luận tốt nghiệp đại học

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT VÈ BỒ TÁT QUÁN THÉ ÂM 1.1 Khái niệm về Bồ tát Quán Thế Âm Bồ tát Quán Thế Âm là một tên gọi khá quen thuộc với chúng ta. Tuy nhiên, một khái niệm đầy đủ và khoa học về vị Bồ tát này vẫn còn là một vấn đề đang tranh luận sôi nổi trong giới nghiên cứu Phật học. Với phạm vi là một khoá luận tốt nghiệp và khả năng còn hạn chế của mình, chúng tôi mặc dù không bỏ qua sự tranh luận thú vị đó nhưng cũng không có tham vọng khai thác quá sâu mà chỉ phân tích và lựa chọn cho đề tài một sự giải thích phù hợp nhất, v ề mặt từ nguyên, thuật ngữ này được hình thành từ 2 gổc từ: Bồ tát (Bodhisattvà) và Quán Thế Âm (Avalokitésvara). Ở mỗi thuật ngữ nhỏ đó lại bao hàm nhiều vấn đề cần khai thác khác nữa.

Do vậy, để có một sự giải thích thấu đáo, chúng ta lần lượt tìm hiểu từng khái niệm một.1 Bồ tát (Bodhỉsattvà) Theo tiếng Sanskrit, thuật ngữ Bồ tát là Bodhisattvà. Trong đó, Bodhi có nghĩa là giác, giác ngộ. Còn sattvà là một hữu tình hay một chúng sinh. Ghép hai từ này lại, người ta có hai quan niệm khác nhau.

Một, Bồ tát là một chúng sinh đang cầu sự giác ngộ và hai là một chúng sinh đã giác ngộ và nhất SVTIĨ: Nguyễn Thị Minh Hạnh 11 MSSV: 50300104 Tìm hiểu về Bằ tảt Quản Thế Âm ở tể đính Quán Thế Ẩm GVHĐ: TS, Thành Phần định sẽ thành Phật. Hán ngữ vừa dịch âm vừa dịch nghĩa là Bồ đề tát đoả, sau gọi tắt là Bồ tát. Việt Nam chúng ta gọi theo cách gọi của người Trung Hoa. Tiến sĩ Walpola Rahula, một nhà Phật học nổi tiếng Tích Lan, trong một bài thuyết giảng tại Malaysia năm 1955 cho rằng từ ngữ Đại thừa (Mahàyàna) và Tiểu thừa (Hìnayàna) chỉ tìm thấy sớm nhất ả kinh Pháp Hoa mà không tìm thấy ở bất kì tài liệu nào trước đó, kể cả các biên niên ký.

Kinh Pháp Hoa xuất hiện sớm nhất vào thế kỉ I trước công nguyên (TCN). Cũng theo ông khái niệm Bồ tát, lý tưởng Bồ tát cũng xuất hiện kể từ đó.1 Hoà thượng Thích Chơn Thiện trong nhiều công trình nghiên cứu của mình thì cho rằng danh từ Bồ tát (Bodhisattvà), các hạnh Bồ tát, Lục độ ba-la- mật (hay con đường tu tập của các vị Bồ tát) đã được đề cập đến trong Nikàya của Thượng Toạ Bộ (Theravada), được kết tập từ thế kỉ III TCN dưới triều Asoka đại đế, đặc biệt là các câu chuyện tiền thân đức Phật (Jàtaka) thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikàya). Chúng tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm này vì quả thật không chỉ với nhà nghiên cứu này mà rất nhiều các công trình khoa học của các học giả khác đều có những quan điểm tương tự. Nalinaksha Dutt, tác giả quyển sách nổi tiếng “Đại thừa và sự liên hệ với Tiểu thừa ” đã khẳng định, trước khi Đại thừa xuất hiện với những giải thích mới mẻ về những lời Phật dạy, đưa đến một ý nghĩa mới về Sùnyatà (Chơn không) thì đã có một Bồ tát thừa thuộc Tiểu thừa và thừa này có thể được gọi là bán Đại thừa hay Đại thừa sơ khai [9; 54].

Vào thời kì bộ phái (xuất hiện mầm mống từ Đại hội kết tập lần thứ nhất và phát triển rầm rộ khoảng 100 năm sau đó), cộng đồng Phật giáo phân ra thành hai nhóm chính: giáo hội chính thống xưa hay Thanh Văn thừa và giáo hội cải cách sau này hay giáo phái Đại thừa. Trong đó, giáo phái của những người chính thống gồm có: Nhất thiết hữu bộ, Tuyết Sơn bộ,. Các giáo phái này quan niệm về Bồ tát khá đơn giản. Họ cho rằng, Bồ tát trước hết 1 www.com SVTH: Nguyễn Thị Minh Hạnh 12 MSSV: 50300104 Tìm hiểu về Bồ tát Quán Thế Âm ở tổ đình Quản Thể Ảm GVHĐ: TS.

Thành Phần cũng chỉ là những con người rất bình thường. Họ vẫn có thể gánh lấy hậu quả của nghiệp mà mình tạo dựng, thậm chí điều này cũng đúng với một A-la- hán. Họ hoàn toàn không công nhận quyền năng siêu nhiên của một vị Bồ tát. Và trường hợp của ngài Mục Kiền Liên là một ví dụ điển hình.

Giáo phái của những người cải cách lấy Đại chúng bộ làm đại diện. Bộ phái này được xem là lớn nhất, đông đảo tín đồ nhất thời bấy giờ và chính họ cũng được xem là tiền thân của Phật giáo Đại thừa. Gọi là cải cách vì họ đưa ra những cách tân đối với táng già, thêm hay bớt giới luật cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội mới, thay đổi cách sắp xếp và cách luận giải các đoạn văn của kinh luật,. Theo Đại chúng bộ thì Bồ tát là siêu nhiên, không qua các giai đoạn bào thai như mọi sinh vật khác.

Bồ tát đi vào bụng mẹ dưới hình thức voi trắng và ra khỏi bụng mẹ ở bên hông hữu. Họ không bao giờ có sự tham dục (kama), ác tâm (vyapada) và sự xâm hại (vihimsa). Vì muốn cứu giúp chúng sanh, họ chủ động giáng thế bằng bất cứ hoá thân nào họ chọn. Tất cả những quan điểm này dẫn đến việc thần thánh hoá đức Phật và các vị Bồ tát sau này [1; 114].

Cùng với Đại chúng bộ, Chế Đa Sơn bộ cũng có cùng tư tưởng về Bồ tát. Đây chính là những bộ phái đầu tiên thần thánh hoá đức Phệt và Bồ tát để sau cùng dẫn đến sự thần thánh hoá hoàn toàn trong Phật giáo Đại thừa và nhờ đó mà có sự phổ biến tôn giáo này trong đại chúng, đạo Phật mở ra nhiều hướng đi mới và trở nên hấp dẫn với nhiều người. Trong bài thuyết giảng về “A-la-hán, Phật và Bồ tát” tại New York, V.Bodhi cũng đưa ra những quan điểm đồng tình. Theo ông, thời kì bộ phái là một mốc son quan trọng trong việc hình thành Bồ tát đạo hay lí tưởng Bồ tát.

Chính vào lúc này, những vấn đề xoay quanh cuộc đời Đức Phật được thêm thắt và đem ra bàn luận rất sôi nổi. Khuynh hướng xem Ngài là một vị Bồ tát qua nhiều đời tu tập theo các hạnh Ba-la-mật được chấp nhận hơn cả, chấp nhận ở cả hai tông phái Nguyên thủy và Đại thừa. Trong thời kì này, SVTH: Nguyễn Thị Minh Hạnh 13 MSSV: 50300104 Tim hiểu về Bồ tát Quản Thế Âm ở tề đình Quán Thế Ảm GVHĐ: TS. Thành Phần chúng tôi nhận thấy sự xuất hiện càng đông những người Phật tử có chiều hướng đi tìm sự đạt ngộ tâm linh như chính đức Phật đã thực hành với hai kim chỉ nam hướng dẫn là tạng kinh Nguyên thủy A-hàm và các tập truyện tiền thân đức Phật (nói về quá trinh tu tập các hạnh Ba-la-mật của đức Phật trong các đời quá khứ).

Họ vẫn là thành viên của các bộ phái riêng rẽ và hoàn toàn chưa có ý thức rằng chính mình đang kết hợp lại thành một nhóm để thành lập một tông phái mới. Họ không nghĩ rằng mình là những người Phật tử Đại thừa mà chỉ là một cộng đồng đi theo lí tưởng Bồ tát thừa. Danh xưng “Đại thừa” đã xuất hiện không lâu sau đó với ý nghĩa là “một cỗ xe lớn” hay “một con đường vĩ đại” đưa đến sự giác ngộ toàn vẹn. Đen khi Đại thừa chính thức ra đời thì lí tưởng Bồ tát mới thực sự hoàn chỉnh.

Và trong đề tài này, chúng tôi cũng tỉm hiểu khái niệm Bồ tát theo quan điểm của Phật giáo Đại thừa vì một lí do đơn giản, ngôi chùa mà chúng ta đang khảo sát cũng đang tu tập theo đường lối của dòng Phật giáo này. Theo quan điểm Đại thừa, Bồ tát là một khái niệm rộng; từ những vị mới bắt đầu đến những vị đã nhiều đời sống theo hạnh Bồ tát đều có những hướng đi hết sức rõ ràng. Đó là những nỗ lực để giải thoát chính mình và dùng cuộc đời mình để giải thoát cho nhiều người khác. Như vậy, chung quy một vị Bồ tát có hai việc làm chính: Một là tự mình giác ngộ (tự giác), đây là công việc của trí tuệ Hai là giúp chúng sinh giác ngộ như mình (giác tha), đây là công việc của từ bi.

Công việc này, theo hạnh nguyện của các vị Bồ tát phải được thực hỉện liên tục từ đời này sang đời khác, cho đến khi thành Phật mới thôi. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng với quan điểm này thì rõ ràng Bồ tát là người phải sống hòa hợp được hai cái mâu thuẫn: một mặt nỗ lực giải thoát sinh tử và mặt khác là không lìa bỏ sinh tử. Bồ tát hay chư Phật cũng thế, hiểu một cách đúng nghĩa phải là những người đi trên những đạt SVTH: Nguyễn Thị Minh Hạnh 14 MSSV; 50300104 Tim hiểu về Bồ tát Quản Thể Âm ở tể (ũnh Quần Thế Ầm GVHĐ: TS. Thành Phần sóng sinh tử, sống trong sinh tử nhưng không bị sinh tử lôi kéo vả đắm chìm trong đó, cũng như hoa sen kia mọc trên bùn lầy vậy.

Trong quá trình hình thành và phát triển, Bồ tát được thể hiện dưới hai hình thức: Bồ tát và Đại Bồ tát. Những người mới bắt đầu phát bồ đề tâm, khởi sự trên bước đường tu tập mà chưa có sự chứng đắc, giác ngộ hoàn toàn; tức chưa bước lên hàng Thập địa2 vẫn được gọi là Bồ tát - Bồ tát phát tâm. Với ý nghĩa này thì số lượng Bồ tát trong Đại thừa là vô lượng, vô biên. Còn những vị hoàn thành sự nghiệp tu chứng, tức đã giác ngộ và bước lên hàng Thập địa, nhưng không nhập niết bàn mà phát nguyện ở lại cõi ta bà để cứu độ chúng sinh thì được gọi là Đại Bồ tát, Bồ tát trú địa hay Thánh Bồ tát.

Bậc Đại Bồ tát tùy theo hạnh nguyện của mình mà có những danh xưng khác nhau, ví dụ như Bồ tát Địa Tạng, Bồ tát Quản Thế Âm, Bồ tát Vãn Thù, Bồ tát Phổ Hiền,. Chỉ những vị Bồ tát đã hoàn thành sự nghiệp tu chứng mới xứng đáng là đối tượng để chúng ta tôn thờ. Mỗi một vị tu tập theo hạnh nguyện Bồ tát thường phát nguyện “trên cầu Phật đạo, dưới giáo hoá chúng sinh”. Với lí tưởng mới mẻ như thế, khái niệm về Bồ tát là một bước đột phá, tạo nên một luồng gió mới, mở đường cho tư tưởng Phật giáo thấm sâu vào đời sống xã hội Ấn Độ và lan toả ra khắp các vùng xung quanh thời bấy giờ.2 Quán Thế Âm Một trong những khó khăn lớn nhất khi chúng tôi bắt tay nghiên cứu đề tài này là thuật ngữ Avalokitésvara mà người Trung Quốc dịch là Kuan Shih Yin, Kuan Yin và theo đó Việt dịch là Quán Thế Âm, Quán Âm,.

Khó khăn 2 Thập địa gồm có: I.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ