CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm hữu quan 1. Tín ngưỡng Ở Việt Nam có rất nhiều quan niệm khác nhau về tín ngưỡng và tôn giáo nhưng có thể tạm xếp thành ba nhóm quan điểm như sau: Nhóm thứ nhất, tuân theo quan điểm truyền thống có ý thức phân biệt rõ rệt về tôn giáo và tín ngưỡng. Họ cho rằng tín ngưỡng và tôn giáo là hai khái niệm, hai phạm trù khác nhau, do đó không thể gộp chung lại thành một khái niệm tôn giáo và tín ngưỡng được (Lại Thị Thu Trang, 2017,tr.
Nhóm thứ hai, có quan điểm đồng nhất tôn giáo với tín ngưỡng, họ gộp chung hai khái niệm này làm một gọi là tôn giáo tín ngưỡng hoặc tín ngưỡng tôn giáo, tuy có phân biệt tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo dân tộc, tôn giáo địa phương, tôn giáo thế giới…(Đặng Nghiêm Vạn, 1998,tr. Nhóm thứ ba, xem tín ngưỡng ở trình độ phát triển thấp hơn tôn giáo, tín ngưỡng là niềm tin, đức tin, là một nhân tố góp vào tạo thành tôn giáo (Nguyễn Đăng Duy, 2001,tr.20) Theo Đặng Nghiêm Vạn, thuật ngữ tín ngưỡng có hai nghĩa, một là tự do tín ngưỡng và hai là niềm tin tôn giáo. Theo nghĩa một thì tín ngưỡng có một phần nằm ngoài tôn giáo, còn theo nghĩa hai thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận chủ yếu nhất cấu thành của tôn giáo (Đặng Nghiêm Vạn, 2003, tr. Thực tế, hiện nay vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm tôn giáo và tín ngưỡng, có người cho rằng tôn giáo và tín ngưỡng là hai khái niệm khác nhau, lại có người bảo chúng giống nhau như tôn giáo dân tộc, tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo địa phương, tôn giáo thế giới; có người nói tín ngưỡng bao gồm tôn giáo, rồi cũng có ý kiến ngược lại rằng tôn giáo bao gồm cả tín ngưỡng như thờ cây đa, thờ tổ tiên.
Thậm chí cũng có người có quan điểm phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng cho rằng tín ngưỡng là sản phẩm của xã hội ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo (Ngô Đức Thịnh, 2012,tr. Trước vấn đề tồn tại nhiều cách hiểu và quan niệm khác nhau, để có định hướng thống nhất trong luận văn, chúng tôi dựa vào quan điểm của tác giả Trần Ngọc Thêm để làm cơ sở cho 11 nghiên cứu của luận văn, cho rằng: “tín ngưỡng là sự sùng bái các hiện tượng tự nhiên, nhưng chưa có giáo lý thành văn, không có giáo đường quy mô, nghi lễ đơn giản, nhân sự bán chuyên nghiệp hoặc không có, tổ chức lỏng lẻo. Còn tôn giáo là sự sùng bái những đối tượng được thần thánh hóa cao độ, với một hệ thống giáo lý rõ ràng, nghi thức hoàn chỉnh và một tổ chức chặt chẽ” (Trần Ngọc Thêm, 2013, tr. Tôn giáo Tôn giáo theo thuật ngữ tiếng Anh gọi là religion xuất phát từ tiếng Latinh là legere, relegere có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên.
Khái niệm tôn giáo được nhắc đến trong giới khoa học Phương Tây, sớm nhất khoảng từ thế kỷ XVIII - XIX. Một số quan điểm tôn giáo của các nhà nghiên cứu từ khi tôn giáo trở thành một đối tượng của khoa học. Tiêu biểu như Edward Burnett Taylor trong tác phẩm nổi tiếng Văn hóa Nguyên thuỷ, ông cho rằng (theo nghĩa hẹp) tôn giáo là niềm tin đối với một đấng tối cao, thờ cúng các thần tượng, có tập tục hiến tế, hay có các giáo thuyết hoặc nghi thức nào đó tương đối phổ biến. Feuerbach thì cho rằng tôn giáo là sự khám phá những gì cất giấu trong con người, là sự thừa nhận những tư tưởng thân thiết nhất của con người, công khai nhất những tình cảm bí mật của con người.
Mác thì nhấn mạnh tôn giáo là sự quy định cuộc sống con người bởi ý thức về một mối liên hệ, gắn tinh thần con người với năng lực huyền bí mà con người thừa nhận (Đặng Nghiêm Vạn, 2003, tr. Mỗi nhà nghiên cứu, tùy vào góc độ khoa học mà có một quan điểm riêng của mình về khái niệm tôn giáo. Theo nghĩa rộng hay hẹp thì khái niệm tôn giáo phải hàm chứa hai phạm trù: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của các vật thể vô hình. Tôn giáo là sản phẩm sáng tạo của con người nhằm đáp ứng nhu cầu về tinh thần của con người trong xã hội tạo nên những chuẩn mực để xây dựng niềm tin của con người trong mối quan hệ giữa cái thiêng và cái tục, giữa vật chất với tinh thần.
Khái niệm cù lao Theo Từ điển Từ điển Tiếng Việt, cù lao là phần đất nổi giữa sông1. Tuy nhiên cũng có trường hợp hòn đảo nổi lên trên biển cũng được gọi là cù lao như 1 Nguồn: https://vi.pro/vi-vi/c%C3%B9+lao, 24/3/2020 12 Cù lao Chàm (Quảng Nam), Cù lao Ré (Quảng Ngãi) … Còn theo Học giả An Chi, chữ “cù lao” là “chỉ một doi đất nổi lên ở giữa sông” là một khái niệm về địa lý tự nhiên, bắt nguồn từ tiếng Mã Lai, pulau, có nghĩa là “đảo”, mà phương Tây thường phiên âm thành poulo, còn tiếng Việt thì lại phiên thành… cù lao2. Về phương thức xác định đặc điểm của một cù lao, người dân ở tỉnh Đồng Nai có quan điểm tương tự như các vùng khác ở Nam Bộ, đối với họ là cù lao là phần đất nổi lên trên sông có kích thước lớn, có thể dùng làm chỗ cư trú và mưu sinh có nhiều người dân. Còn nếu là một phần đất nhỏ nổi lên trên sông thì người dân chỉ gọi là cồn chứ không phải cù lao.
Gần vị trí Cù Lao Phố khi xưa có một hòn đảo nhỏ nổi trên sông Đồng Nai, người dân gọi là cồn Gáo. Nay cồn này không còn, đã bị chìm xuống sông Đồng Nai. Từ chữ cù lao chỉ phần đất có diện tích lớn nhô lên trên sông, người dân Nam Bộ có xu hướng biến nó thành địa danh khi cho thêm tên vào phía sau của nó như Cù Lao Phố, Cù Lao Dài, Cù Lao Giêng, Cù Lao ông Hổ… 1. Văn hoá tộc người Theo Vương Xuân Tình và Vũ Đình Mười, tộc người (ethnicity) hay nhóm tộc người (ethnic group) là các thuật ngữ chỉ được sử dụng phổ biến ở Bắc Mỹ và châu Âu khoảng từ những năm 1960, để thay cho các thuật ngữ bộ tộc (tribe), chủng tộc (race) được dùng trước đó.
Còn theo Phạm Hữu Dật thì tộc người là một cộng đồng người được hình thành trong lịch sử, mang ba tiêu chuẩn chủ yếu sau đây: cùng chung tiếng nói; cùng có chung một ý thức tự giác tộc người biểu hiện ở tên tự gọi chung; có những yếu tố văn hóa thống nhất. (Phạm Hữu Dật 1998, tr. Định nghĩa về văn hóa, Trần Ngọc Thêm cho rằng, “văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất là tinh thần cho con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa môi trường tự nhiên và môi trường xã hội” (Trần Ngọc Thêm 1999, tr. Từ định nghĩa này, chúng tôi đã sử dụng vào việc xác lập khái niệm văn hóa tộc người ở Cù Lao Phố mà cụ thể là người Việt và người Hoa.
Từ đó, chúng tôi đưa ra khái niệm như sau: văn hóa tộc người là toàn bộ hệ thống giá trị văn hóa vật chất và tinh thần mang tính đặc thù tộc người, gắn bó với quá trình lịch sử, sinh tồn và phát triển của một tộc 2 Nguồn: https://vi.pro/vi-vi/c%C3%B9+lao, 24/3/2020 13 người. Văn hóa tộc người có chức năng gắn kết cộng đồng những con người cùng chung môt tộc người, xác lập vai trò, trách nhiệm của mỗi cá thể trong cộng đồng và đồng thời thể hiện tính khu biệt giữa tộc người này với tộc người khác. Văn hóa tộc người là một bộ phận quan trọng để hình thành nên văn hóa vùng và văn hóa dân tộc. Cụ thể như văn hóa của bốn tộc người, Việt, Hoa, Chăm và Khmer góp phần hình thành nên nét đặc sắc của vùng văn hóa Nam Bộ.
Văn hóa của người Việt và người Hoa ở Cù Lao Phố góp phần hình thành nên bản sắc văn hóa Việt Nam và tính thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa nước nhà qua tiến trình dung hợp văn hóa. Lý thuyết tiếp cận Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tiếp cận chủ yếu ở góc độ tín ngưỡng, tôn giáo gắn liền với tiến trình phát triển của một vùng đất và văn hoá của tộc người sinh sống tại vùng đất đó. Dựa vào những lý thuyết nghiên cứu của chuyên ngành Nhân học, Văn hóa học và Khu vực học để xem xét các hiện tượng xâm nhập, giao lưu tiếp biến văn hóa của một cộng đồng người thông qua điểm nghiên cứu là một vùng cù lao. Cụ thể là các lý thuyết sau: Lý thuyết chức năng: trường phái chức năng có hai nhánh chính: chức năng về tâm lý (theo quan điểm của B.
Malinowski) và chức năng xã hội (theo quan điểm của Emile Durkheim và Radcliffe-Brown). Ngay từ thế kỷ XIX, một số nhà xã hội học cổ điển đã khởi xướng lên thuyết chức năng luận. Tuy nhiên sang đầu thế kỷ XX, với những đóng góp của mình, Emile Durkheim (1858 - 1917) vẫn được xem là người đầu tiên xây dựng khái niệm chức năng một cách có hệ thống và áp dụng vào nghiên cứu khoa học chặt chẽ đối với đời sống xã hội. Tác phẩm Những hình thái sơ đẳng của đời sống tôn giáo (Les formes élémentaires de la vie religieuse) của Durkheim (được trích dẫn bởi Alan Barnard, 2014) là minh chứng cụ thể nhất về việc phân tích chức năng như một công cụ xã hội học.
Trong công trình này, ông nghiên cứu chức năng của tôn giáo đối với xã hội. Theo ông, sự tồn tại của tôn giáo trong xã hội chứng tỏ nó có một chức năng - góp phần duy trì sự thống nhất đạo đức trong xã hội: …trong các nghi lễ, con người sùng kính chính xã hội, vì trật tự vũ trụ luận được xây dựng trên trật tự xã hội. Các nghi lễ giúp củng cố trật tự đó trong tâm trí những người tham dự nghi lễ (Alan Barnard, 2014, tr. Lý thuyết này được chúng tôi 14 vận dụng để tìm hiểu vị trí, vai trò, chức năng của tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống tinh thần của người dân ở Cù Lao Phố.