mở đầu cho mạch đất Hoằng Hóa nên đất này lắm người đỗ đạt, văn hay chữ tốt. Làng Nam Ngạn cạnh dòng sông Mã, Hàm Rồng, Bến Ngự xưa mỗi khi các vua Lê về thăm quê thường dừng thuyền lên núi đề thơ. Ngọn Hỏa Châu (còn có tên là núi Nít) sừng sững trước làng. Không gian thắng cảnh thơ mộng ấy đã thắp lên tâm hồn thi ca cậu bé làng Nam Ngạn và ngự trong tâm hồn ấy suốt đời.
Dân gian có câu: Nhất cận thị nhị cận giang, làng Nam Ngạn có cả hai thứ nhất nhì ấy. Nam Ngạn là làng ven đô, cửa ngõ của Hạc thành xưa, từ Nam Ngạn vào trung tâm thành chỉ vài ki lô mét, khi thị xã Thanh Hóa lên thành phố, Nam Ngạn đã thành phường. “Nhị cận giang” thì chắc chắn rồi, làng Nam Ngạn ven sông Mã, nép bên cạnh đầu con rồng khổng lồ chín khúc đang đuổi theo hòn ngọc bên kia sông (núi Nít – Hỏa Châu phong). Dòng sông Mã từ đoạn Ngã ba Bông trở nên mênh mang hiền hòa, hai bên sông là làng mạc trù phú, chỗ thì soi những bóng tre bóng dừa, chỗ thì những phù sa xanh mướt đậu ngô, cuối thu rực vàng hoa cải… Dòng sông ấy tôn thêm vẻ đẹp cho núi Ngọc, núi Rồng.
Tao nhân mặc khách xưa qua Hàm Rồng nếu không lên núi đề thơ thì ra về lòng vẫn luôn thổn thức, nhớ mong: Ai xui, ai nhớ Hàm Rồng Muốn trông chẳng thấy cho lòng khôn khuây 13 Từ ta trở lại Sơn Tây Con đường Nam Bắc ít ngày vãng lai Sơn cầu còn đỏ chưa phai Non xanh còn đổi? Sông dài còn sâu? Con thuyền đánh cá buông câu? Còn xe lửa chạy trên cầu như xưa? (Nhớ cảnh cầu Hàm Rồng – Tản Đà) Phải chăng không gian vừa thơ mộng vừa hùng vĩ ấy đã chắp cánh cho tâm hồn thơ nảy nở, bay lên? Như được lựa chọn, sông Mã, Hàm Rồng cẩm tú trong kháng chiến chống Mỹ lại vang danh, lần này vang danh cho ý chí bất khuất, kiên cường, thành biểu tượng của tinh thần bất diệt của một dân tộc anh hùng. Làng Nam Ngạn cổ kính trù phú xưa với cảnh đẹp non xanh nước biếc đã trở thành làng anh hùng. Trong thâm tâm, có lẽ cây bút ấy luôn tự hào mình là người con của núi Rồng, sông Mã, dễ hiểu vì sao ông mang con sông quê hương vào bút danh: Mã Giang Lân! “Lân” là gần, cũng có nghĩa là hàng xóm hoặc bên cạnh, vậy nên, có thể hiểu bút danh ấy là “Người bên sông Mã”. Lấy bút danh Mã Giang Lân, tác giả mang theo tình yêu, niềm tự hào về quê hương xứ sở.
Theo quan niệm của thi hào Nguyễn Du nhắc tới trong truyện Kiều “văn chương nết đất” (cái tài văn chương do cái linh khí của đất) thì đặc điểm văn chương Mã Giang Lân được sinh ra, luyện thành từ đất xứ Thanh và từ chính địa danh núi Rồng sông Mã. Nhà giáo, nhà khoa học làm thơ: Nếu không có “chân khí” thi ca trong tâm hồn, chắc chắn chàng thanh niên Lê Văn Lân, cậu học trò của trường cấp 3 Lam Sơn (khóa 1958 – 1961) ấy đã không đỗ vào chuyên khoa Văn của ngôi trường danh tiếng nhất miền Bắc hồi ấy: Đại học Tổng hợp. Bốn năm sau, chàng sinh viên xuất sắc được giữ lại trường làm công tác giảng dạy bộ môn Văn học Việt Nam. Như vậy, văn chương đã trở thành “nghề nghiệp” của người con đất Hàm Rồng sông Mã.
Song, nghiệp văn chương đến 14 với ông trước hết ở vai trò nhà giáo – nhà nghiên cứu thi ca. Tính đến nay, GS Lê Văn Lân đã gắn bó với giảng đường của khoa Văn Đại học Tổng hợp nay là Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn Quốc Gia Hà Nội hơn 40 năm. Bốn mươi năm ấy, hình ảnh người thầy cần mẫn trên bục giảng đường truyền lại cho các thế hệ sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh những chân trời tri thức tổng hợp và sâu sắc với một dáng vẻ trầm tĩnh, nhẹ nhàng và tác phong làm việc vừa nghiêm túc, vừa cởi mở. Những bài giảng của thầy đã tiếp thêm niềm say mê môn văn học Việt Nam, đặc biệt là thơ ca hiện đại cho sinh viên nhiều thế hệ.TS Lê Văn Lân đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Nhà giáo nhân dân, danh hiệu tôn vinh cho công sức và tài năng cống hiến cho sự nghiệp giáo dục nước nhà.
Thực ra, việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở trường đại học tuy hai mà là một. Làm khoa học là cách để nâng cao thông tin, kiến thức phục vụ cho chất lượng giảng dạy. Việc dạy học chính là quá trình trao đổi, truyền đạt những vấn đề nghiên cứu, đồng thời thắp lửa đam mê cho những thế hệ sau. Trong hơn 40 năm làm việc, GS.TS Lê Văn Lân đã công bố hàng chục công trình khoa học bao gồm sách chuyên luận, giáo trình, bài báo, tạp chí, và kỷ yếu khoa học.
Tất cả các công trình đó là kết quả của cuộc nghiên cứu lâu dài các vấn đề liên quan đến văn học Việt Nam hiện đại mà trọng tâm nghiên cứu là thơ ca. Những cuốn sách thực sự là những tài liệu học tập, nghiên cứu quý giá cho khoa Văn các trường đại học: Văn học Việt Nam 1945 – 1954 NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, 1990; Văn học Việt Nam 1955 – 1964 Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1990; Tổng tập văn học Việt Nam, tập 34, NXB Khoa học xã hội, 1996; tái bản 2000; Tổng tập văn học Việt Nam tập 24A, 24B, NXB Khoa học xã hội, 1997, tái bản 2000; Qúa trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900 – 1945 (chủ biên), cùng với nhiều công trình nghiên cứu văn chương nói chung, thơ nói riêng đã được tập hợp trong bộ sách đồ sộ gồm ba tập: Mã Giang Lân – Tuyển tập phê bình (xuất bản năm 2018). Những quan điểm nghiên cứu, đánh giá về thơ, thơ Việt Nam qua các giai đoạn vẫn còn nguyên giá trị. 15 Giáo sư Hà Minh Đức, một đồng nghiệp lâu năm đã nhận xét, Mã Giang Lân một chuyên gia hàng đầu về thơ Việt Nam hiện đại, là “cây đại thụ” của Khoa Văn học trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội.
Bên cạnh sự nghiệp giảng dạy và nghiên cứu, Mã Giang Lân còn được biết đến như một nhà thơ có tiếng trong nền thơ ca Việt Nam đương đại. Con đường đến với thơ của GS.TS Mã Giang Lân rất giản dị, tự nhiên như chính con người ông. Mã Giang Lân làm thơ từ rất sớm. Từ thuở thiếu thời, đi chân đất, đầu trần, cuốc bộ đi học Mã Giang Lân đã thích làm thơ, rồi đến khi đi học ở trường phổ thông chuyên Lam Sơn, cậu học trò ấy vẫn giữ niềm vui thích làm thơ.
Ngày đi học cấp ba, chàng trai nhỏ nhắn, hiền lành bắt đầu cầm bút làm thơ viết về mái trường, về thầy cô, bạn bè và gia đình nhưng đó chỉ là những cảm xúc chân thành, yêu mến thời mới lớn nên nó cũng qua đi thật nhanh. Là một người học rất khá những môn tự nhiên, những tưởng cuộc đời của Mã Giang Lân sẽ gắn với khoa học tự nhiên, nhưng dường như nghiệp văn chương đã ăn sâu vào trong con người nhà thơ và như một mối duyên nợ văn chương khi nhà thơ lại chọn trường Đại học Tổng hợp làm nơi học tập của mình và như là một mối duyên trời định. Tuy nhiên, có lẽ phải dành nhiều công sức cho “nghề” chính là giảng dạy – nghiên cứu, vì thế, sáng tác thơ dường như chỉ là những phút không thể cầm lòng trước cám dỗ. Chặng đường thơ của Mã Giang Lân cũng dài và bền bỉ như con đường nghiên cứu khoa học.
Mã Giang Lân tạo được dấu ấn với những sáng tác thơ hướng về một vùng quê bình dị mà anh hùng. Những bài thơ đầu tiên, những giải thưởng đầu tiên vinh danh cũng chính bởi những tái hiện chân thực mà độc đáo về miền quê sinh ra ông, dung dưỡng tiếp sức cho ông trong suốt hành trình dài sau này. Nhà văn Kiều Vượng, đồng hương cùng thế hệ với ông từng viết: “Nhà thơ Mã Giang Lân sinh ra bên dòng sông Mã và lớn lên giữa những năm tháng Hàm Rồng khói lửa. Lớp văn chương ở đất này cũng rất tự hào vì có một nhà thơ mà từng trang viết đều mang đậm dấu ấn dòng sông Mã anh 16 hùng” [129, tr.
Cú “hích” trong sự nghiệp sáng tác thơ của người con xứ Thanh ấy là khi quê hương Hàm Rồng trở thành mục tiêu hủy diệt của bom đạn Mĩ. Làng Nam Ngạn chỉ cách cây cầu khoảng một nghìn mét, đi ba bốn bước chân là ra triền sông Mã. Khi Hàm Rồng thành “túi bom”, hơn ai hết, trái tim của người con Hàm Rồng – Nam Ngạn đập dồn dập trong niềm tự hào xen lẫn âu lo. Hai bài thơ viết về quê hương khi ấy: Trụ cầu Hàm Rồng và Bình minh trên sông chinh phục độc giả vì chính cảm xúc và suy nghĩ chân thành về quê hương, đất nước mình trong cuộc thử thách vĩ đại: Đạn hai mươi ly bắn thủng xi măng/ Bom tấn ép bẻ cong cột sắt/ Tên lửa nổ thép già thành nước (…) Không ngày nào bọn cướp trời không tới/ Không đêm nào bình yên (…) In xuống dòng sông/ Là những đoàn tàu vận tải/ Những đoàn xe chuyên cần nhẫn nại/ Cứ thế suốt bốn năm/ Trụ cầu Hàm Rồng chỉ làm bằng ciốt sắt xi măng (Trụ cầu Hàm Rồng).
Những tập thơ tiếp tục ra đời xen những công trình nghiên cứu: Bình minh và tiếng súng (1975), Hoa và dòng sông (1979), Một tình yêu như thế (1990), Những mảnh vỡ tiềm thức (2009), Về một cây cầu (2010), Những lớp sóng ngôn từ (2013), Phía sau tưởng tượng (2017) và Ngẫm ngợi chiều. Cũng rải rác theo hành trình thơ ấy là các giải thưởng thơ: giải Ba cuộc thi Thơ báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam 1969; Giải thưởng 5 năm thơ Hà Nội 1967 – 1980, giải thưởng Sáng tác Văn học nghệ thuật 1887 của UBND tỉnh Thanh Hóa và giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2013 với tập Những lớp sóng ngôn từ. Nhà giáo, nhà khoa học, nhà thơ tồn tại hài hòa, bổ sung cho nhau trong con người gắn với bút danh Mã Giang Lân. Ở bất cứ vai trò nào, nhà giáo, nhà khoa học hay nhà thơ, ông vẫn thể hiện được tầm kiến văn rộng lớn, khả năng nắm bắt vấn đề nhạy bén và một trái tim bao dung, nhân hậu.TS Mã Giang Lân nghiên cứu phê bình văn học là để hỗ trợ cho các bài giảng dạy về thơ, về văn Việt Nam.