B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐHSPNGHỆ THUẬTTW GIÁO TRÌNH LỊCH s ử ÂM NHẠC THỂ GIỚI (Phần châu Âu) CHO HỆ ĐHSP ÂM NHẠC QUYỀN I Chủ biên: TS. Nguyễn Thị Tố Mai Hà Nội, tháng 6 năm 2011 B ộ GIẢO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐHSPNGHỆ THUẬT TW GIÁO TRÌNH LỊCH s ử ÂM NHẠC THẾ GIỚI (Phần châu Âu) CHO HỆ ĐHSP ÂM NHẠC QUYẺNI ỞH ^ ^ ầ u , liẨ. |JV ^ T U 7 V U íu i Chủ biên: TS. Nguyễn Thị Tố Mai Các thành viên: PGS.
TSKH Phạm Lê Hoà TS. Trịnh Hoài Thu TRUNG TAM Í HÔNG TIN THƯ VIÊN THỂ HHỎâ PHỎNG ĐỌC ________________ -_____________________________________________ I. i I * * Hà Nội, tháng 6 năm 2011 2 MỤC LỤC Tr Chương một: Âm nhạc trong thời kỳ khởi đầu 4 I. Nguồn gốc âm nhạc.
Âm nhạc thời nguyên thủy 4 II. Âm nhạc thời cổ đại 9 III. Âm nhạc thời trụng cổ 16 Chương hai: Âm nhạc phục hưng 26 I. Khái quát về thời kỳ phục hưng 26 II.
Âm nhạc phục hưng Ý. Âm nhạc phục hưng Pháp. 32 Chương ba: Âm nhạc thế kỷ và nửa đầu thế kỷ XVIII 34 I. Khái quát 34 II.
Âm nhạc Ý thế kỷ XVII và nửa đầu thế kỷ XVIII 38 III. Âm nhạc Pháp thế kỷ XVII và nửa đầu thể kỷ XVIII 47 IV. Âm nhạc Anh thế kỷ XVII và nửa đầu thế kỷ XVIII 51 George Frideric Haendel (Gíêô Friđêrich Henđen) 1685 - 1759 52 V. Âm nhạc Đức thể kỷ XVII và nửa đầu thế kỷ XVIII 59 Johann Sebastian Bach (Giôhan Xêbaxchiên Bach) 1685 - 1750 61 Chương bốn: Âm nhạc nửa sau thế kỷ XVIII 73 Chủ nghĩa Gổ điển.
Trường phái âm nhạc cổ điển Viên 73 Christophe Willibald Gluck (Christôp Uyliband Gluc) 1714 - 1787 83 Josepph Haydn (Giôdep Hayđơn) 1732 - 1809 89 Wolfgang Amadeus Mozart (Vôngang Amađê Môda) 1756 - 1791 95 Ludwig Van Beethoven (Lutvich Văn Bêtôven) 1770 - 1827 105 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CĐSP: Cao đẳng sư phạm ĐHSP: Đại học sư phạm NXB : Nhà xuất bản CN : Công nguyên Tr.CN: Trước công nguyên TK : Thể kỷ 3 CHƯƠNG MỘT ÂM NHẠC TRONG THỜI KỲ KHỞI ĐÀU I. NGUỒN GỐC ÂM NHẠC. ÂM NHẠC THỜI KỲ NGUYÊN THƯỶ 1. NGUÔN G Ô C Ầ M N H ẠC Khi bàn về nguồn gốc âm nhạc có nhiều ý kiến khác nhau.
Có ý kiến cho rằng âm nhạc có sẵn trong thiên nhiên như tiếng suối chảy, chim hót, gió reo. và con người bắt chước những âm thanh đó mà tạo ra âm nhạc. Có ý kiến cho rằng âm nhạc íà do thần thánh tạo ra. Theo thần thoại Hy Lạp: thần Apollon (Apôlông) là vị thần Ánh sáng và cũng là vị thần Âm nhạc.
Trên các tranh cổ thường vẽ thần Apollon với cây đàn Lyre (Lia) bằng vàng. Ở Trung Quốc thời cổ có truyền truyểt cho rằng có một ông vua tên là Phục Hy (khoảng thế kỷ XXIX - XXVIII tr.CN) một hôm nằm mơ thấy năm vị tinh tú trên trời sà xuống cây ngô đồng mà lập ra thạng 5 âm: Cung- Thương- Giốc- Chủy- Vũ. Quan niệm âm nhạc chỉ là sự bắt chước thiên nhiên là quan niệm phiến diện và chưa nêu được bản chất phản ánh cuộc sống, tâm tư, tình cảm con người của âm nhạc. Quan niệm âm nhạc do thần thánh tạo ra là quan niệm duy tâm do chưa đủ cơ sở khoa học để tìm hiểu nguồn gốc của âm nhạc.
Âm nhạc ra đời từ bao giờ? So với các bộ môn nghệ thuật khác, việc tìm ' hiểu nguồn gốc âm nhạc gặp phải nhiều khó khăn hơn. Điêu khắc có thể căn cứ vào di tích khảo cổ để chứng minh sự tồn tại của một trung tâm văn hoá. Từ những bức tranh trong hang đá, ta có thể biết được thời nguyên thủy con người đã biết vẽ. Nhờ chữ viết mà ngày nay ta được thưởng thức thơ ca của Homère (Hômerơ), bi kịch của Sophocles (Xôphôcơlơ) cùng rất nhiều kiệt tác của các nhà văn, nhà thơ hàng ngàn năm trước đây.
Còn âm nhạc là nghệ thuật của âm thanh, muốn lưu giữ lại phải có máy ghi âm hoặc được ghi chép lại mà lối viết nhạc thì chỉ mới đặt ra vào thể kỷ XI và chiểc máy ghi âm mới được hoàn thiện ở thế kỷ XX. 4 Song, không phải vì vậy mà con người không thể tim hiểu được nguồn gốc của âm nhạc và những sinh hoạt âm nhạc thời xa xưa của tổ tiên. Cũng chính nhờ những di vật khảo cổ về điêu khắc, hội họa. ta biết được hình dáng.
các nhạc cụ thô sơ xa xưa và phỏng đoán được cách diễn tấu chúng, căn cứ vào các bài hát dân gian mà ta có thể xét được ngọn nguồn của chúng. Bằng các di tích khảo cổ, các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng âm nhạc ra đời từ rất sớm, khi con người còn đang ở thời kỳ nguyên thuỷ. Có ý kiến cho rằng, cùng với sự xuất hiện của tiếng nói thì âm nhạc cũng xuất hiện. Tiếng nói chính là cơ sở để hình thành nên giai điệu (tuyến độ cao) trong âm nhạc.
Thí dụ: so sánh tiếng nói của người Việt Nam với tiếng nói của người châu Âu thì có thể thấy rõ tiếng nói có ảnh hưởng tới cấu trúc giai điệu như thế nào. Tiếng nói của người Việt Nam có dấu giọng: huyền( \ ), sắc ( / ), nặng (. Vì vậy, trong các bài hát Việt Nam, giai điệu còn chịu sự chi phối của dấu giọng trong lời ca rất rõ nét, tạo nên những cấu trúc quãng đặc trưng trong âm nhạc Việt Nam như nhiều quãng nhảy xa. Còn tiếng nói người châu Âu không có nhiều các dấu giọng như người .Việt Nam nên giai điệu của bài hát chủ yếu tuân theo quy ỉuật của ngữ điệu và có những cấu trúc quãng đặc trưng như sử dụng nhiều quãng liền bậc.
Hoặc cùng là người Việt Nam nhưng các dân tộc có tiếng nói với cách phát âm dấu giọng khác nhau, ngữ âm, ngữ điệu khác nhau thì cấu trúc quãng trong giai điệu của dân ca các dân tộc cũng khác nhau. Cùng với âm điệu tiếng nói, âm nhạc còn bắt nguồn từ nhịp điệu lao động mà chủ yếu là lao động tập thể. Nhịp điệu lao động là cơ sở tạo nên tiết tấu trong âm nhạc. Ban đầu chỉ là những tiếng hò dô để thống nhất động tác của nhiều người.
Dần dần, thông qua nhịp điệu của những tiếng hò dô ấy người ta hát lên những lời động viên hoặc giãi bày với nhâu và nhịp điệu ấy trở thành tiếu tấu của một loại làn điệu. Thí dụ các bài: Hò kéo thuyền trên sông Vônga của Nga; Hò Sông Mã, Hò giã gạo, Hò mải nhì, Hò mải đẩy của người Việt 5 Toàn bộ công trình sáng tạo của người cổ đại Hy lạp là “Thời thơ trẻ hoàng kim của nền văn minh nhân loại” [15 : 7] về phần âm nhạc, theo dòng thời gian và do cuộc chiến tranh xâm lược của người La Mã, ngày nay chỉ còn lại khoảng trên mươi khúc hát có cả lời lẫn nhạc. Song không phải vì vậy mà những thành tựu rực rỡ của âm nhạc cổ đại Hy Lạp không được người đời biết đến. Âm nhạc Hy Lạp đã gây được ảnh hưởng sâu sắc tới toàn bộ sự phát triển của âm nhạc thế giới cho đến ngày nay.
Những câu chuyện tuyệt vời về thần Apollon, về Orphée (Orphê) vẫn làm chúng ta thích thú, vẫn là đề tài của nhiều vở nhạc kịch sau này. Hình dáng chiếc đàn Lyre vẫn được làm dấu hiệu tượng trưng cho âm nhạc. Và biết bao những thuật ngữ âm nhạc ngày nay vẫn dùng đều bắt nguồn từ thuật ngữ của người Hy lạp cổ đại. Âm nhạc có một vai trò to lớn trong đời sống xã hội và cá nhân người Hy Lạp.
Ở các trung tâm như Athènes (Aten), Sparte (Xpac). âm nhạc trở thành môn học bắt buộc với toàn dân (trừ nô lệ). Âm nhạc có vai trò quan trọng trong các buổi diễn bi kịch và cả trong hài kịch. về cơ bản, âm nhạc Hy Lạp cổ đại là nhạc hát một bè, hình thức đồng ca chiếm ưu thế (thường là đồng ca nam).
Thơ luôn gắn với nhạc và tiết tấu trong thơ cũng là tiết tấu của nhạc. Âm nhạc dân gian: Bộ phận âm nhạc dân gian không để lại những tư liệu ghi chép chính xác. Căn cứ vào các tranh vẽ, các hình chạm trang trí mà ta đoán biết về sinh hoạt múa hát dân gian. Trong Iỉiad và Odyssye ựliát và Ôđixê) của thi hào Homère (Hômerơ) có miêu tả sinh động nhiều loại nhạc dân gian khác nhau: nhạc yêu đương, nhạc cưới hỏi, nhạc than khóc, nhạc hội hè.
Có lẽ, ở thời cổ đại đã có đủ các bài dân ca của những người thợ gặt, thợ làm đồ gốm, quay tơ, dệt vải, chèo thuyền. 11 Đàn hát dân gian kết hợp nhảy múa là sinh.hoạt quan trọng và hấp dẫn trong những cuộc đình đám hoặc chúc tụng các vị thần, là cơ sở xuất hiện nền bi kịch Athènes nổi tiếng sau này. Âm nhạc chuyên nghiệp: 2. về nhạc hát: Những người hoạt động chuyên nghiệp đầu tiên phải kể đến là những ca sĩ hát ròng mà người Hy Lạp gọi là aedon (Áet) và rhapsodos (Răpxôđ).
Nghệ thuật của những người hát rong được hâm mộ nhất khoảng thế kỷ XI đến VII tr. Các ca sĩ hát rong thường hát những bài epikos (Êpich) mang tính sử thi và bi hùng. Có một ca sĩ đồng thời là nhạc sĩ nổi tiếng đầu tiên của lịch sử Hy lạp cổ đại là Tecpan. Sang thế kỷ VII và VI tr.
CN, xã hội Hy Lạp phân chia giai cấp rõ rệt. hơn: nô lệ và chủ nô, kẻ giàu và người nghèo. Trong nghệ thuật xuất hiện thêm những chủ đề mới, các bài epikos không còn chiếm vị trí độc tôn mà là một thể loại mới: lỉrikos (Lirỉch), đặc biệt là các lirỉkos đon ca thiên về tâm tình, triết lý. Tuy nhiên, vẫn có những bài Ịỉrỉkos mang tính ngợi ca, hiệu triệu, chiến đấu.
Những bài hát phần nhiều này là đồng ca. Lỉrikos đơn ca nổi tiếng một trường phái đứng đầu là nữ thi sĩ danh ca Sapho (cuối thế kỷ VII- VI tr. Lirikos đồng ca theo truyền thuyết nổi tiếng có các ca sĩ Siediho vạ Arion. Hiện nay, theo di tích giữ được có một bài lirikos đồng ca là Ode (Ôđơ) của Pinda (522- 422 tr.CN), chúc mừng người chiến thắng trong cuộc đấu.
Ode của Pinda (viết năm 470 tr._f I = -i Trong nhạc hát còn phải kể đến nghệ thuật bi kịch và thời kỳ này là thời kỳ hưng thịnh của bi kịch và âm nhạc đóng vai trò quan trọng. 12 Ngoài ra, một loại nghệ thuật khác cũng được định hình là nghệ thuật tổng hợp thơ, nhạc và múa.