Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Mỹ học (mã số: 9229007) với đề tài "Giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên thông qua âm nhạc đại chúng (Qua khảo sát tại Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Học viện Báo chí và Tuyên truyền)" được nghiên cứu sinh Lê Trọng Nin thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS,TS Trần Văn Bính và PGS,TS Nguyễn Bình Định, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh vào năm 2020. Luận án tiếp cận vấn đề giáo dục thẩm mỹ dưới góc độ mỹ học Mác - Lênin kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành và điều tra xã hội học thực nghiệm.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của giáo dục thẩm mỹ trong việc phát triển toàn diện nhân cách con người và đời sống tinh thần xã hội. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, âm nhạc đại chúng trở thành nhánh nghệ thuật chiếm lĩnh thị trường âm nhạc lớn nhất cả nước, có sức hút rộng rãi đối với giới trẻ và sinh viên nhờ tính chất sôi động, gần gũi với đời sống thường nhật. Tuy nhiên, tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu và thực tiễn: các chương trình giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên thông qua âm nhạc đại chúng ở Việt Nam chưa được quan tâm tương xứng; phần lớn sinh viên chưa được trang bị tri thức thẩm mỹ cơ bản, dẫn đến việc tiếp nhận nghệ thuật mang tính tự phát, cảm tính bản năng. Sự xâm nhập của các trào lưu âm nhạc nước ngoài cùng việc lan truyền qua mạng Internet các sản phẩm sao chép, đạo nhái, ca từ dung tục đã tác động tiêu cực đến thị hiếu của một bộ phận người học. Văn bản dẫn chứng hiện tượng sùng bái thần tượng thái quá (như việc hôn ghế thần tượng hoặc mặc áo mùa đông giữa thời tiết mùa hè) để chứng minh sự thiếu hụt năng lực cảm thụ và hệ tiêu chí thẩm mỹ định hướng ở một bộ phận sinh viên. Do đó, việc nghiên cứu giáo dục thẩm mỹ thông qua âm nhạc đại chúng là yêu cầu cần thiết nhằm tạo sự cân bằng giữa đào tạo chuyên môn và phát triển năng lực thẩm mỹ cho sinh viên.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về âm nhạc đại chúng, về giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên thông qua âm nhạc đại chúng; khảo sát, đánh giá thực trạng tại các cơ sở đào tạo; từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên thông qua âm nhạc đại chúng ở nước ta hiện nay. Để đạt mục đích này, tác giả xác định năm nhiệm vụ nghiên cứu: hệ thống hóa lý luận; phân tích chứng minh lợi thế và cơ chế tác động của âm nhạc đại chúng đến ý thức thẩm mỹ; làm rõ nội dung, phương thức và chủ thể giáo dục; khảo sát thực trạng, chỉ ra thành tựu, hạn chế và nguyên nhân; bàn luận các vấn đề đặt ra và đề xuất hệ thống giải pháp.
Luận án giải quyết ba câu hỏi nghiên cứu cụ thể được đánh số trong văn bản:
- Âm nhạc đại chúng là gì? Cái đẹp trong âm nhạc đại chúng được thể hiện ở những khía cạnh nào?
- Âm nhạc đại chúng có vai trò như thế nào đối với sinh viên? Bằng cách nào mà âm nhạc đại chúng có thể tác động đến sự hình thành ý thức thẩm mỹ của sinh viên?
- Giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên thông qua âm nhạc đại chúng bao gồm những nội dung gì? Phương thức ra sao? Ai là người tham gia giáo dục?
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là các nội dung và phương thức giáo dục thẩm mỹ thông qua âm nhạc đại chúng cho sinh viên.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên ba phương diện:
- Phạm vi nội dung: Nhận diện các giá trị thẩm mỹ của âm nhạc đại chúng thông qua phạm trù cái đẹp, tập trung chủ yếu vào thể loại ca khúc (thanh nhạc). Tác giả lý giải sự khu biệt này dựa trên đặc điểm tư duy thưởng thức của đại đa số công chúng Việt Nam là nghe âm nhạc có lời, thiên về kết cấu đơn bè, đơn tuyến.
- Phạm vi không gian: Khảo sát thực trạng tại thành phố Hà Nội trên ba cơ sở đào tạo đại diện cho các khối ngành và cấp độ quản lý: Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội (khối nghệ thuật, trình độ cao đẳng, trực thuộc quản lý của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội); Trường Đại học Mỏ - Địa chất (khối khoa học tự nhiên, trình độ đại học định hướng ứng dụng và nghề nghiệp); Học viện Báo chí và Tuyên truyền (khối khoa học xã hội và truyền thông, mô hình học viện kết hợp đào tạo chuyên môn và nghiên cứu).
- Phạm vi thời gian: Khảo sát và phân tích các dữ liệu thực tế từ năm 2015 đến năm 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại lịch sử nghiên cứu lý luận và thực tiễn qua hai nhóm vấn đề chính:
Nhóm nghiên cứu về giáo dục thẩm mỹ và việc sử dụng nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ:
- Tài liệu quốc tế: Tác giả truy nguyên từ tư tưởng phương Đông cổ đại với Khổng Tử (551 - 479 TCN) trong tác phẩm Luận ngữ, đề cao chức năng giáo dục đạo đức của Thi và Nhạc, học Kinh Thi để mở mang tâm trí và Kinh Nhạc để đạt cảm xúc tận thiện, tận mỹ. Ở phương Tây cổ đại, Aristotle (384 - 322 TCN) trong Nghệ thuật thơ ca đã đặt nền móng duy vật khi khẳng định nghệ thuật mô phỏng tự nhiên và chỉ ra chức năng thanh lọc (catharsis) của bi kịch đối với tâm hồn. Triết học cổ điển Đức thế kỷ XVIII - XIX đóng góp quan điểm của Immanuel Kant (1724 - 1804) trong Phê phán năng lực phán đoán, xem phán đoán thẩm mỹ mang tính vô tư, không vụ lợi và dựa trên tình cảm; G.W.F. Hegel (1770 - 1831) trong Mỹ học coi nghệ thuật là sự tự biểu hiện của tinh thần tuyệt đối phục vụ đại chúng; Friedrich Schiller (1759 - 1805) với Những bức thư về giáo dục thẩm mỹ (1793) đề xuất cương lĩnh hoàn thiện con người thông qua cái đẹp. Mỹ học dân chủ cách mạng Nga thế kỷ XIX có V. Belinsky xem cảm xúc thẩm mỹ là cơ sở đạo đức, N.I. Lobachevsky khẳng định sự gắn kết giữa văn hóa thẩm mỹ với đạo đức và trí tuệ, N.G. Chernyshevsky trong luận văn Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật với hiện thực (1855) nhấn mạnh vai trò nhận thức đời sống của nghệ thuật. Quan điểm mác-xít của C. Mác và Ph. Ăngghen xác lập cơ sở thực tiễn khách quan của giáo dục thẩm mỹ gắn với các điều kiện kinh tế - xã hội. Trong thế kỷ XX và đương đại, Morris Weitz (1966) trong bài viết Giáo dục thẩm mỹ là gì? tiếp cận giáo dục thẩm mỹ qua mục tiêu mở rộng cảm xúc và tri giác nghệ thuật; I.C. Skaterosiskov trong Nguyên lý Mỹ học Mác - Lênin khẳng định vai trò của nghệ thuật trong phát triển nhân cách; Lý Trạch Hậu với Bốn bài giảng mỹ học phân tích ba giai đoạn của hoạt động mỹ cảm (chuẩn bị, thực hiện, thành quả); Olga Denac chỉ ra bốn nhiệm vụ của giáo dục thẩm mỹ trong trường học; Thomas Steinforth (2014) trong tham luận Quyền được giáo dục thẩm mỹ và một cuộc sống tốt đẹp tiếp cận vấn đề dưới góc độ quyền con người và trách nhiệm của các thiết chế xã hội.
- Tài liệu trong nước: Tác giả tổng thuật hệ thống giáo trình mỹ học đại học của Đỗ Văn Khang, Lê Ngọc Trà, Vũ Minh Tâm, Thế Hùng, Đỗ Huy và Khoa Triết học thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; công trình Giáo dục thẩm mỹ và xây dựng con người mới của Lê Anh Trà (1982); tập nghiên cứu Mấy vấn đề đạo đức và thẩm mỹ trong thời kỳ quá độ (1986) của Viện Triết học tập hợp các nghiên cứu phương pháp luận của Tạ Văn Thành, Văn Thu Hà, Hà Huy Bính, Tương Lai, Tô Duy Hợp, Đỗ Huy, Hồng Mai, Nguyễn Nghĩa Trọng, Nguyễn Ngọc Dũng; chuyên khảo Giáo dục thẩm mỹ - mấy vấn đề lý luận và thực tiễn của Đỗ Huy (1993); nghiên cứu về đánh giá thẩm mỹ của Vũ Minh Tâm (1995); các công trình nghiên cứu từng loại hình nghệ thuật như văn học của Lê Quang Vinh, Hoàng Văn Cẩn; nghệ thuật tổng thể của Đào Duy Thanh, Nguyễn Ngọc Ánh (2016), Đặng Thị Minh Tuấn (2018); cùng hệ thống văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, văn nghệ (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X, Văn kiện Đại hội XII).
Nhóm nghiên cứu về giáo dục thẩm mỹ cho học sinh, sinh viên thông qua âm nhạc và âm nhạc đại chúng:
- Các nghiên cứu quốc tế tiêu biểu gồm Thomas W. Goolsby (1984) với công trình Giáo dục âm nhạc cũng như giáo dục thẩm mỹ: Khái niệm và kỹ năng để thưởng thức âm nhạc, vận dụng quan điểm của Monroe Beardsley, Charles Leonhard và Robert House về giá trị thẩm mỹ và kỹ năng thụ cảm các yếu tố nhạc ngữ; Charles Plummeridge với Giáo dục thẩm mỹ và việc thực hành giảng dạy âm nhạc; Don Lebler (2007, 2008) với các nghiên cứu về phương pháp sư phạm âm nhạc đại chúng và mô hình học tập đồng đẳng (peer learning) đối với sinh viên chuyên ngành âm nhạc.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận giáo dục thẩm mỹ ở tầm khái quát lý luận hoặc thông qua nghệ thuật nói chung, âm nhạc cổ điển, thính phòng. Các nghiên cứu về âm nhạc đại chúng đa phần tập trung vào góc độ âm nhạc học kỹ thuật hoặc dành riêng cho đối tượng sinh viên chuyên nghiệp tại các nhạc viện. Mảng nghiên cứu về việc sử dụng âm nhạc đại chúng như một phương tiện giáo dục thẩm mỹ cho khối sinh viên đại học không chuyên về nghệ thuật ở Việt Nam, đi kèm việc khảo sát thực chứng cơ cấu thị hiếu và đề xuất quy trình, phương thức giáo dục cụ thể, vẫn chưa được giải quyết một cách hệ thống.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý luận là các nguyên lý mỹ học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa nghệ thuật và giáo dục con người, cùng hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Về mặt khái niệm, tác giả tổng thuật các cách tiếp cận của Philip Tagg, Stuart Borthwick, Ron Moy, Richard Middleton, Peter Manuel, Denisoff và Đỗ Hồng Quân để phân biệt âm nhạc đại chúng với âm nhạc dân gian truyền thống và âm nhạc cổ điển phương Tây. Luận án xác lập định nghĩa: Âm nhạc đại chúng là thuật ngữ chung chỉ các loại nhạc dễ nghe, dễ tiếp thu, phù hợp với thị hiếu âm nhạc của đông đảo công chúng trong một thời kỳ nhất định, được biểu hiện cụ thể bằng các sản phẩm âm nhạc được phổ biến rộng rãi và yêu thích. Khung phân tích lý thuyết của đề tài tập trung vào việc mô hình hóa cơ chế tác động của âm nhạc đại chúng đối với sự hình thành ý thức thẩm mỹ của sinh viên (Hình 2.1), vận dụng các mắt xích tâm lý - thẩm mỹ từ tiếp nhận cảm giác, tri giác đến hình thành cảm xúc, thị hiếu và lý tưởng thẩm mỹ.
Phương pháp nghiên cứu thực tế kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng với các kỹ thuật cụ thể:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Phân loại, liên kết các nguồn tài liệu văn bản về mỹ học, giáo dục học và âm nhạc học.
- Phương pháp liên ngành: Sử dụng tri thức từ triết học, mỹ học, âm nhạc học, xã hội học, tâm lý học, đạo đức học, văn hóa học và giáo dục học để nhận diện đối tượng.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng công cụ bảng hỏi Ankét kết hợp quan sát thực tế để thu thập dữ liệu về thái độ, hành vi, thị hiếu âm nhạc của sinh viên. Số liệu định lượng được làm sạch, mã hóa và xử lý bằng phương pháp thống kê toán học thông qua phần mềm SPSS.
| Chỉ số điều tra thực nghiệm |
Dữ liệu thực tế của luận án |
| Địa bàn khảo sát |
Thành phố Hà Nội |
| Đơn vị khảo sát thực tế |
- Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội - Trường Đại học Mỏ - Địa chất - Học viện Báo chí và Tuyên truyền |
| Số lượng phiếu phát ra |
930 phiếu |
| Số lượng phiếu thu về hợp lệ |
911 phiếu |
| Tỷ lệ phản hồi hợp lệ |
98,0% |
| Công cụ xử lý thống kê |
Thống kê toán học và phần mềm SPSS |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương này dành 26 trang văn bản để hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai trục nội dung lớn: lý luận giáo dục thẩm mỹ qua nghệ thuật và giáo dục thẩm mỹ qua âm nhạc, âm nhạc đại chúng. Tác giả chỉ ra rằng các học giả quốc tế đã xác lập được nền tảng lý luận vững chắc về chức năng thanh lọc, nhận thức và hoàn thiện nhân cách của nghệ thuật, đồng thời kiểm chứng mô hình sư phạm âm nhạc đại chúng trong môi trường nhạc viện. Ở trong nước, các giáo trình và công trình chuyên khảo đã làm rõ bản chất của giáo dục thẩm mỹ mác-xít nhưng phần lớn coi nghệ thuật nói chung hoặc văn học là phương tiện trung tâm, chưa chú trọng đúng mức đến âm nhạc đại chúng. Từ việc tổng hợp này, chương 1 khẳng định khoảng trống tri thức về cơ chế tác động, nội dung và giải pháp giáo dục thẩm mỹ thông qua âm nhạc đại chúng cho sinh viên đại học không chuyên tại Việt Nam, xác lập tính hợp thức khoa học cho việc triển khai các chương tiếp theo.
Chương 2: Những vấn đề lý luận cơ bản về âm nhạc đại chúng và giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên thông qua âm nhạc đại chúng
Chương 2 tập trung giải quyết các vấn đề lý luận học thuật cốt lõi:
- Khái niệm và đặc điểm âm nhạc đại chúng: Âm nhạc đại chúng hình thành từ phong cách giải trí tại Anh ở thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, bùng nổ toàn cầu vào thập niên 60 với các ban nhạc The Beatles, Rolling Stones và phong trào ca khúc chính trị. Tại Việt Nam, dấu hiệu manh nha xuất hiện trước năm 1975 và phát triển mạnh mẽ từ thập niên 90 khi Internet được kết nối chính thức (19/11/1997). Về mặt nhạc ngữ, âm nhạc đại chúng lấy tiết tấu của nhạc nhảy quốc tế làm yếu tố quyết định thể loại, sử dụng vòng hòa thanh mở rộng (hợp âm quãng 2, 4, 6, hợp âm 7, 9), gắn chặt với công nghệ âm thanh điện tử phòng thu, kỹ thuật thanh nhạc không bắt buộc theo chuẩn Bel Canto cổ điển. Khi du nhập vào Việt Nam, các tác phẩm vẫn giữ cấu trúc giai điệu mượt mà, cấu trúc hai đoạn có tái hiện, chịu ảnh hưởng từ truyền thống nghe nhạc dân gian có lời. Tác giả dẫn chứng trường hợp ca khúc nghệ thuật "Tình ca" của nhạc sĩ Hoàng Việt khi chuyển sang phong cách nhạc đại chúng đã đổi từ tiết nhịp 2/4 nguyên bản sang nhịp 6/8 của điệu Slow Rock.
- Nhận diện cái đẹp trong âm nhạc đại chúng: Cái đẹp trong âm nhạc đại chúng là sự phản ánh hiện thực có tính chất điển hình hóa và biểu cảm cao. Cái đẹp chỉ tồn tại thực sự khi có sự thống nhất giữa nội dung cảm xúc và hình thức nghệ thuật, đạt tới sự hòa hợp giữa Chân - Thiện - Mỹ. Tác giả phân tích các tác phẩm tiêu biểu như ca khúc "Imagine" (1971) của John Lennon và Yoko Ono, bài hát "What a wonderful world" (1967) của Bob Thiele và George David Weiss do Louis Armstrong thu âm để làm sáng tỏ sức mạnh biểu cảm và thông điệp nhân văn của âm nhạc đại chúng chân chính. Cái đẹp còn được thể hiện gián tiếp khi tác phẩm phản ánh cái xấu, cái bi, cái hài nhằm thức tỉnh lương tri người nghe.
- Vai trò của âm nhạc đại chúng và cơ chế tác động: Âm nhạc đại chúng thực hiện bốn chức năng: nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ và giải trí, trong đó chức năng thẩm mỹ là điều kiện tiên quyết và giải trí là phương diện hấp dẫn nhất đối với sinh viên. Tác giả xây dựng mô hình cơ chế tác động (Hình 2.1, trang 50), chỉ rõ âm nhạc đại chúng tác động qua thính giác và thị giác, kích thích rung động cảm xúc, từ đó chuyển hóa thành thị hiếu, nhu cầu và định hình ý thức thẩm mỹ của sinh viên dưới sự tham gia của các chủ thể: nhà trường, tổ chức Đoàn - Hội, gia đình và truyền thông.
Chương 3: Thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên thông qua âm nhạc đại chúng ở nước ta hiện nay
Chương 3 trình bày các kết quả phân tích định tính kết hợp dữ liệu thống kê từ 911 phiếu điều tra thực tế tại ba trường:
| Danh mục bảng biểu và biểu đồ thống kê trong Chương 3 |
Vị trí trong luận án |
| Bảng 3.1: So sánh sự yêu thích của nam, nữ sinh viên các khối học, khóa học đối với âm nhạc |
Trang 70 |
| Bảng 3.2: Sự yêu thích của sinh viên đối với các loại nhạc |
Trang 78 |
| Bảng 3.3: Nhu cầu của sinh viên đối với các đề tài, chủ đề âm nhạc |
Trang 80 |
| Bảng 3.4: Mức độ quan tâm của sinh viên đối với các yếu tố trong âm nhạc |
Trang 83 |
| Bảng 3.5: Mức độ ưa thích của sinh viên đối với các tính chất của tác phẩm âm nhạc |
Trang 84 |
| Bảng 3.6: Quan điểm của sinh viên đối với một số nhận định về âm nhạc |
Trang 91 |
| Bảng 3.7: Các hoạt động văn nghệ được nhà trường quan tâm, chú trọng |
Trang 93 |
| Biểu đồ 3.1: Mức độ sử dụng âm nhạc đại chúng trong nhà trường |
Trang 94 |
Dữ liệu thực trạng phản ánh:
- Nhu cầu và thị hiếu: Đại bộ phận sinh viên có nhu cầu tiếp nhận âm nhạc thường xuyên nhằm mục đích giải trí và cân bằng tâm lý. Sinh viên ưa chuộng các chủ đề tình yêu lứa đôi, khát vọng tuổi trẻ, tình yêu quê hương đất nước với tính chất âm nhạc trữ tình, nhẹ nhàng hoặc sôi động vừa phải. Các yếu tố được quan tâm hàng đầu là giai điệu và ca từ, tiếp đến mới là bản phối và ca sĩ thể hiện.
- Thành tựu đạt được: Âm nhạc đại chúng đã trở thành phương tiện kết nối cộng đồng sinh viên thông qua các hội diễn, câu lạc bộ văn nghệ, chương trình chào tân sinh viên; hỗ trợ giải tỏa áp lực học tập và góp phần xây dựng môi trường văn hóa học đường năng động.
- Hạn chế và nguyên nhân: Hoạt động giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường còn mang tính hình thức, bề nổi, thiếu định hướng lý luận chuyên sâu; việc khai thác âm nhạc đại chúng chủ yếu mang tính phong trào. Một bộ phận sinh viên bộc lộ thị hiếu dễ dãi, chạy theo trào lưu thương mại, tiếp nhận các sản phẩm âm nhạc có ca từ thiếu thẩm mỹ, phản cảm trên không gian mạng. Nguyên nhân cốt yếu là sự buông lỏng quản lý thị trường âm nhạc số, sự thiếu vắng các môn học giáo dục nghệ thuật chính khóa và sự suy giảm trách nhiệm xã hội ở một bộ phận người sáng tác, biểu diễn.
Chương 4: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên thông qua âm nhạc đại chúng ở nước ta
Chương 4 chỉ ra các mâu thuẫn thực tiễn: mâu thuẫn giữa nhu cầu thẩm mỹ ngày càng lớn của sinh viên với năng lực định hướng hạn chế của các thiết chế giáo dục; mâu thuễn giữa xu hướng thương mại hóa, giải trí thuần túy của công nghiệp âm nhạc với mục tiêu giáo dục nhân cách; áp lực từ sự xâm lăng văn hóa qua các trào lưu âm nhạc ngoại lai thiếu chọn lọc.
Tác giả dự báo xu hướng tiếp nhận âm nhạc của sinh viên Việt Nam sẽ ngày càng phân hóa, gắn liền với các nền tảng công nghệ số và tính tương tác đa phương tiện. Từ đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu gồm:
- Nâng cao nhận thức của cấp ủy, ban giám hiệu các trường đại học, cao đẳng về vị trí của giáo dục thẩm mỹ thông qua âm nhạc đại chúng.
- Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên, phát huy vai trò nòng cốt của các câu lạc bộ âm nhạc trong việc chọn lọc ca khúc biểu diễn.
- Đưa các nội dung cảm thụ âm nhạc, phân tích cái đẹp trong nghệ thuật vào chương trình ngoại khóa hoặc môn học tự chọn về mỹ học và văn hóa.
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động phát hành âm nhạc trực tuyến, xử lý nghiêm các ấn phẩm âm nhạc vi phạm thuần phong mỹ tục.
- Nâng cao trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp của giới văn nghệ sĩ, nhạc sĩ phối khí và các cơ quan truyền thông báo chí trong việc định hướng giá trị nghệ thuật cho giới trẻ.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ các đặc điểm thẩm mỹ của âm nhạc đại chúng trong bối cảnh văn hóa Việt Nam, xác định các chiều kích của cái đẹp âm nhạc gồm tính chân thực, tính điển hình, tính biểu cảm và sự thống nhất giữa nội dung với hình thức.
- Xây dựng mô hình lý thuyết về cơ chế tác động của âm nhạc đại chúng đến sự hình thành ý thức thẩm mỹ của sinh viên, làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa kích thích giác quan, cảm xúc thẩm mỹ, thị hiếu và lý tưởng thẩm mỹ.
- Xác định rõ hệ thống nội dung, phương thức và mạng lưới các chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục thẩm mỹ thông qua âm nhạc đại chúng.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất:
- Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm gồm 07 bảng biểu và 01 biểu đồ phản ánh khách quan thực trạng thị hiếu âm nhạc, nhu cầu tiếp nhận và mức độ sử dụng âm nhạc đại chúng tại ba trường đại học, cao đẳng đại diện cho các khối ngành đào tạo tại Hà Nội.
- Nhận diện các biểu hiện lệch lạc trong tiếp nhận âm nhạc của sinh viên, chỉ ra các nguyên nhân thuộc về quản lý giáo dục, tác động truyền thông và cơ chế thị trường.
- Đề xuất hệ thống năm nhóm giải pháp mang tính khả thi, định hướng trực tiếp cho các nhà quản lý giáo dục, cán bộ Đoàn - Hội và các nhà hoạch định chính sách văn hóa nhằm lành mạnh hóa môi trường âm nhạc học đường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi địa bàn khảo sát thực nghiệm mới chỉ tập trung tại thành phố Hà Nội trên ba cơ sở đào tạo, chưa mở rộng ra các vùng miền khác trên cả nước để đối sánh sự khác biệt vùng miền trong thị hiếu sinh viên.
- Đối tượng nghiên cứu chủ yếu tập trung vào thể loại ca khúc (thanh nhạc), chưa đi sâu phân tích toàn diện mảng khí nhạc đại chúng cũng như các dòng nhạc ngầm (indie, underground) đang phát triển mạnh trong giới trẻ.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng quy mô điều tra xã hội học sang các trường đại học thuộc khu vực miền Trung và miền Nam, tạo cơ sở dữ liệu so sánh toàn diện về đời sống thẩm mỹ sinh viên Việt Nam.
- Nghiên cứu sâu hơn về tác động của các nền tảng mạng xã hội chuyên biệt về video ngắn và thuật toán đề xuất âm nhạc số đối với sự biến đổi thị hiếu thẩm mỹ của thanh niên trong giai đoạn chuyển đổi số.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Mỹ học, Văn hóa học, Lý luận và Lịch sử nghệ thuật, Giáo dục học trong việc khai thác khung lý thuyết về cơ chế tác động tâm lý - thẩm mỹ và phương pháp tiếp cận liên ngành đối với nghệ thuật đại chúng.
- Ban giám hiệu, cán bộ phụ trách công tác chính trị tư tưởng, tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên tại các trường đại học, cao đẳng sử dụng các kết quả khảo sát và hệ thống giải pháp tại Chương 4 để thiết kế các phong trào văn nghệ học đường có định hướng giáo dục.
- Các cơ quan quản lý văn hóa thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục và Đào tạo tham khảo trong việc xây dựng tiêu chí thẩm mỹ và chuẩn hóa chương trình giáo dục thẩm mỹ trong hệ thống giáo dục đại học.
Phần đáng tham khảo nhất của công trình là Chương 2 về khung lý luận nhận diện cái đẹp và cơ chế tác động của âm nhạc đại chúng, cùng bộ công cụ điều tra bảng hỏi Ankét và hệ thống số liệu thực nghiệm tại Chương 3 và Phụ lục 1.
Câu hỏi thường gặp
Âm nhạc đại chúng được luận án định nghĩa như thế nào và có đặc trưng gì khác biệt so với âm nhạc cổ điển phương Tây?
Luận án định nghĩa âm nhạc đại chúng là thuật ngữ chung chỉ các loại nhạc dễ nghe, dễ tiếp thu, phù hợp với thị hiếu của đông đảo công chúng trong một thời kỳ nhất định, biểu hiện bằng các sản phẩm được phổ biến rộng rãi và yêu thích. Khác với âm nhạc cổ điển phương Tây vốn đề cao tính kinh viện, quy chuẩn tổng phổ nghiêm ngặt, tư duy giai điệu và cấu trúc phụ thuộc vào hình tượng âm nhạc, âm nhạc đại chúng có tiết tấu gắn với các công thức nhạc nhảy quốc tế, hòa thanh mở rộng tự do (hợp âm 7, 9, chồng âm quãng 2, 4, 6), dựa vào công nghệ phòng thu điện tử và phương thức thưởng thức linh hoạt, gắn với không gian mở và tính giải trí đại trà.
Mẫu khảo sát thực nghiệm của luận án được chọn theo những tiêu chí nào và có quy mô ra sao?
Mẫu khảo sát được tiến hành tại thành phố Hà Nội trên ba trường với 930 phiếu phát ra, thu về 911 phiếu hợp lệ (đạt 98%). Tiêu chí lựa chọn gồm: đại diện cho ba khối ngành đào tạo (Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội đại diện khối nghệ thuật; Trường Đại học Mỏ - Địa chất đại diện khối khoa học tự nhiên; Học viện Báo chí và Tuyên truyền đại diện khối khoa học xã hội và truyền thông); đại diện cho tính chất chương trình đào tạo (cao đẳng, đại học nghề nghiệp, học viện nghiên cứu); và có trường trực thuộc quản lý của địa phương (Hà Nội) để nắm bắt việc thực thi chính sách giáo dục sở tại.
Cơ chế tác động của âm nhạc đại chúng đối với ý thức thẩm mỹ của sinh viên diễn ra như thế nào?
Cơ chế tác động được tác giả mô hình hóa tại Hình 2.1: Âm nhạc đại chúng tác động trực tiếp vào thính giác và thị giác thông qua âm thanh, giai điệu, ca từ và diễn xuất sân khấu; từ đó kích hoạt các rung động cảm xúc thẩm mỹ ở sinh viên. Dưới sự định hướng của môi trường giáo dục (nhà trường, gia đình, Đoàn - Hội, truyền thông), các cảm xúc này dần tích lũy thành thị hiếu thẩm mỹ, định hình nhu cầu thưởng thức và nâng lên thành các quan niệm, chuẩn mực trong ý thức thẩm mỹ của sinh viên.
Luận án chỉ ra những biểu hiện tiêu cực nào trong thị hiếu âm nhạc của giới trẻ hiện nay?
Luận án dẫn chứng hiện tượng một bộ phận sinh viên tiếp nhận âm nhạc thụ động, chạy theo thị hiếu đám đông; dung nạp các sản phẩm âm nhạc có ca từ nhảm nhí, dung tục, các tác phẩm vi phạm bản quyền hoặc nghi án đạo nhái. Đáng chú ý là hiện tượng sùng bái thần tượng mù quáng, thiếu chọn lọc như việc hôn ghế thần tượng hay mặc áo mùa đông giữa mùa hè để bắt chước nghệ sĩ nước ngoài, phản ánh sự thiếu hụt nghiêm trọng trong năng lực phán đoán và hệ tiêu chí đánh giá thẩm mỹ.
Tại sao luận án tập trung khảo sát âm nhạc đại chúng chủ yếu ở phương diện ca khúc?
Tác giả giới hạn phạm vi nội dung vào ca khúc (thanh nhạc) xuất phát từ thực tiễn văn hóa thưởng thức của người Việt Nam. Do truyền thống văn hóa và thói quen nghe nhạc dân gian, đại đa số công chúng Việt Nam ưa chuộng âm nhạc có lời, tư duy giai điệu đơn bè, đơn tuyến, dễ nhớ và gắn liền với tâm tư đời sống thường nhật; do đó ca khúc chiếm tỷ lệ áp đảo và chi phối trực tiếp đời sống thẩm mỹ của sinh viên so với khí nhạc.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Lê Trọng Nin là công trình nghiên cứu chuyên khảo về việc vận dụng âm nhạc đại chúng làm phương tiện giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên đại học tại Việt Nam dưới góc độ mỹ học Mác - Lênin. Bằng sự kết hợp giữa phân tích lý luận mỹ học và phương pháp điều tra xã hội học thực chứng với 911 mẫu khảo sát, luận án đã làm rõ các thuộc tính thẩm mỹ của âm nhạc đại chúng, mô hình hóa cơ chế tác động tâm lý và đánh giá thực trạng thị hiếu âm nhạc học đường. Các giải pháp do luận án đề xuất cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để đổi mới công tác quản lý giáo dục, định hướng thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh cho sinh viên trong bối cảnh công nghiệp văn hóa phát triển.