Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Chương 2: Những vấn đề lý luận cơ bản về âm nhạc đại chúng và giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên thông qua âm nhạc đại chúng Chương 3: Thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên thông qua âm nhạc đại chúng ở nước ta hiện nay Chương 4: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên thông qua âm nhạc đại chúng ở nước ta luan an 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ GIÁO DỤC THẨM MỸ VÀ VIỆC SỬ DỤNG NGHỆ THUẬT TRONG GIÁO DỤC THẨM MỸ 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc Giáo dục thẩm mỹ (GDTM) và việc sử dụng nghệ thuật trong GDTM không phải là vấn đề mới. Lĩnh vực này đã được đề cập đến từ xa xưa, gắn liền với những biểu tượng cụ thể về con người hoàn thiện của các thời đại.
Ngay từ buổi bình minh của lịch sử mỹ học nhân loại, ở phương Đông, Khổng Tử (Kongzi, 551 - 479 TCN) - nhà sáng lập học thuyết Nho giáo của Trung Quốc cổ đại đã thường khuyên các môn đồ của mình cần phải tích cực lĩnh hội các loại hình nghệ thuật để không ngừng bồi bổ tinh thần cho mình. Trong cuốn sách Luận ngữ [60], Khổng Tử đánh giá rất cao chức năng giáo dục của nghệ thuật, đặc biệt là Thi và Nhạc trong việc giáo dục đạo đức. Ông chú ý rất nhiều tới mặt nhận thức của nghệ thuật, bởi nghệ thuật có khả năng mở rộng thêm mọi sự hiểu biết của con người về cuộc sống, để mang lại cho con người những kiến thức mới. Theo ông, cần phải học Kinh Thi để làm cho mình hứng khởi tâm trí, nhờ đó mà biết quan sát lấy mình, biết đức hạnh mình tới đâu.
Bên cạnh đó, cần phải biết thưởng thức Kinh Nhạc để mang đến cho con người cảm xúc của cái tận thiện, tận mỹ (hết sức tốt, hết sức đẹp). Ở phương Tây, Aristotle (384 - 322 TCN) trong tác phẩm Nghệ thuật thơ ca [3] được dịch ra tiếng Việt lần đầu vào năm 1964 đã nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề: Bản chất của cái đẹp, cái bi, cái hài, nghệ thuật,… trong 26 đoạn tạo thành 26 phần của cuốn Thi pháp. Mặc dù chủ yếu bàn về bi kịch trong thơ ca, nhưng trong tác phẩm này, Aristotle đã chỉ ra cốt lõi của nghệ thuật là thực hiện mô phỏng tự nhiên từ đối tượng đến phương thức và mục đích. Nghệ thuật thơ ca thể hiện sự quan tâm đặc biệt của ông đến vấn đề GDTM trên cơ sở khái quát những kinh nghiệm thực tiễn nghệ thuật đương thời.
Theo ông, hình tượng nghệ thuật phải đẹp bao nhiêu thì đồng thời cũng phải cao cả và trong sạch về mặt đạo đức bấy nhiêu. Vì vậy, việc cảm thụ tác phẩm nghệ thuật sẽ làm dấy lên ở con người một loạt các cảm xúc có khả năng giúp con người được tu thiện về mặt đức hạnh. Còn khi cảm thụ tác phẩm bi kịch, các cảm xúc do tác phẩm đem lại có tác dụng “tẩy rửa”, “thanh lọc” (catharsis) tình cảm con người, làm cho con người trở nên cao quý hơn về tâm hồn. Xuất phát từ quan niệm này, Aristotle đưa ra chủ trương cần phải gắn liền việc rèn luyện cơ thể với việc GDTM và khẳng định trong việc giáo dục thì cái đẹp phải đóng vai trò quan trọng nhất.
Đây được coi là tác phẩm có tính chất nền móng cho sự luan an 7 phát triển quan điểm thẩm mỹ duy vật sau này. Thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, nhà triết học Immanuel Kant (1724 - 1804) là người có những đóng góp đáng kể trong việc nghiên cứu về các vấn đề thẩm mỹ. Dưới góc độ nghiên cứu về thị hiếu, Kant trong tác phẩm Phê phán năng lực phán đoán [40] của mình đã coi nghệ thuật và các hoạt động của thị hiếu có ảnh hưởng tới các quá trình tự giác GDTM. Ông cho rằng con người có ba khả năng tiên thiên: Năng lực nhận thức (lý tính lý luận), năng lực thực tiễn (lý tính thực tiễn) và năng lực phán đoán.
Phán đoán có năng lực phản tỉnh (phản tư). Ông bắt đầu tác phẩm Phê phán năng lực phán đoán bằng phần phê phán khả năng phán đoán thẩm mỹ; trong đó, ông dựa trên các phán đoán của logic hình thức để phân tích các phán đoán thẩm mỹ (phán đoán về cái đẹp). Theo Kant, khi phán đoán một đối tượng nào đó đẹp hay không đẹp, ta không có một luận cứ nào trong tay để làm cơ sở kết luận ngoài cảm giác vui sướng hay không vui sướng. Vì xuất phát từ chủ quan cho nên phán đoán thẩm mỹ được đưa ra hoàn toàn không dựa trên cơ sở của nhận thức lý tính mà nó chỉ đơn thuần mang tính chiêm nghiệm.
Do đó, Kant khẳng định rằng, phán đoán thẩm mỹ về bản chất mang tính vô tư, không mục đích, không khái niệm và sở thích (thị hiếu) thẩm mỹ không dựa trên bất cứ một khái niệm nào mà dựa trên tình cảm. Mặc dù có những phức tạp trong tư tưởng, nhưng Phê phán năng lực phán đoán của Kant đã thể hiện một sự nghiên cứu công phu về thẩm mỹ. Tiếp đến, nhà triết học cổ điển Đức Hegel (1770 - 1831) khẳng định đối tượng của mỹ học là cái đẹp. Nhưng cái đẹp trong quan niệm của Hegel chủ yếu được nhìn nhận ở nghệ thuật.
Ông cho rằng, nhiệm vụ của nghệ thuật không nhằm mục đích giáo huấn, tu thiện, thanh khiết hóa tâm hồn mà nhằm bộc lộ chân lý qua các hình thức cảm tính, qua cách bố trí nghệ thuật. Trong cuốn Mỹ học của mình [26], Hegel đã nêu lên các quan điểm về nghệ thuật và sự tự sản sinh ra nhân cách văn hóa. Ông khẳng định, nghệ thuật tồn tại không phải cho một nhóm người bó hẹp; không phải chỉ cho một số ít người có học vấn cao mà nói chung cho toàn thể nhân dân. Mọi tác phẩm nghệ thuật đều thuộc về thời đại mình, dân tộc mình, môi trường của mình và lệ thuộc vào những ý niệm và mục đích lịch sử đặc biệt khác.
Lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của mỹ học, Hegel đã coi nghệ thuật là sản phẩm của quá trình vận động của tinh thần tuyệt đối và đến lượt mình, nghệ thuật trở thành chiếc chìa khóa mở ra các vấn đề lớn lao của con người. Vào năm 1793, nhà triết học người Đức Friedrich Schiller (1759 - 1805) đã đề xuất một cương lĩnh GDTM nổi tiếng với mục tiêu tạo ra cái lợi sẽ gắn với cái chân, cái thiện, cái mỹ khi viết tác phẩm Những bức thư về giáo dục thẩm mỹ (On the Aesthetic Education of Man: In a series of letters) [80]. Schiller cho rằng, cần luan an 8 nâng cao trình độ thẩm mỹ của nhân dân để họ có thể hưởng thụ các di sản văn hóa, tinh thần và nhiệm vụ cơ bản của GDTM là tìm một con đường cải tạo xã hội theo tinh thần dân chủ tư sản, không kinh qua cách mạng và thị hiếu thẩm mỹ là cái không bị ràng buộc bởi các mối quan hệ xã hội. Ông kêu gọi phải vận dụng việc GDTM để khôi phục tính cách hoàn chỉnh, cũng như khẳng định hoàn thiện con người thông qua việc giáo dục về cái đẹp là cách duy nhất để cứu con người tránh khỏi các thảm họa xã hội.
Tuy nhiên, do dựa trên cơ sở triết học duy tâm và chủ nghĩa nhân đạo không tưởng, tuyệt đối hóa mặt tinh thần của con người, đối lập GDTM với thực tiễn cải tạo thế giới, nên lý luận của Schiller chung quy lại cũng chỉ là một ước mơ đẹp đẽ mà thôi. Các nhà dân chủ cách mạng Nga (thế kỷ XIX) là những người lần đầu tiên trong mỹ học trước Mác đã xác lập một cách đúng đắn về vị trí của vấn đề GDTM đối với sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện con người. Lý luận mỹ học đã trở thành vũ khí đấu tranh chính trị hữu hiệu, gắn bó mật thiết với phong trào giải phóng con người. Trong mỹ học của họ, GDTM được đặt ra như là một bộ phận hợp thành của việc xây dựng bộ mặt tinh thần của những con người mới, như một bộ phận hợp thành của việc giáo dục mối quan hệ cách mạng đối với hiện thực.
Nhà phê bình văn học người Nga Vissarion Belinsky (1811 - 1848) cho rằng: Cảm xúc thẩm mỹ là đức tính quan trọng nhất của con người hoàn mỹ, đầy hòa điệu, là cơ sở của đạo đức. Vì vậy, nghệ thuật phải thực hiện vai trò giáo dục thẩm mỹ [62, tr. Còn nhà toán học lỗi lạc, đồng thời là nhà duy vật chủ nghĩa người Nga Nikolai Ivanovich Lobachevsky (1792 - 1856) xác định GDTM là một trong các bộ môn giáo dục quan trọng nhất. Ông cũng khẳng định một cách dứt khoát rằng, việc giáo dục con người mới sẽ là vô nghĩa nếu thiếu đi sự thống nhất của văn hóa thẩm mỹ, văn hóa đạo đức và văn hóa trí tuệ [39, tr.
Trong luận văn nhan đề Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật với hiện thực [12], Chernyshevsky (1828 - 1889) đã đưa ra quan điểm cho rằng nghệ thuật làm cho con người yêu cuộc sống hơn. Nghệ thuật không chỉ là những sản phẩm tạo ra thế giới của những khoái cảm thẩm mỹ, nó còn là một phương tiện quan trọng đối với việc nhận thức cuộc sống. Tuy vậy, do ảnh hưởng của chủ nghĩa nhân bản, các nhà duy vật nói trên vẫn chưa thể phát hiện ra bản chất thật sự của mối quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực; đồng thời bị hạn chế bởi những điều kiện xã hội của thời đại, nên tư tưởng về GDTM của các nhà mỹ học duy vật trước Mác, dù là tiến bộ, rốt cuộc vẫn không thể trở thành một tất yếu xã hội. Ăngghen (Friedrich Engels, 1820 - 1895) không để lại một tác phẩm mỹ học nào riêng biệt.
Các tư tưởng mỹ học của các ông đều gắn liền với ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác (Triết học Mác - luan an 9 Lênin, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học) để giải quyết những vấn đề quan trọng của hoạt động vật chất và tinh thần của xã hội. Theo quan điểm của mỹ học duy vật biện chứng, GDTM sẽ không thể thực hiện được mục đích của mình nếu không dựa vào những tiền đề khách quan, vào trình độ của thực tiễn xã hội và những khuynh hướng vận động của nó. Tiền đề khách quan cho GDTM chính là những thành tựu kinh tế, xã hội và văn hóa của xã hội hiện thực trong giai đoạn lịch sử đó.