Luận văn thạc sĩ quản lý di tích lịch sử văn hóa xã Trường Yên, huyện Hoa Lư - Hà Đình Trung (2018)

Quản lý di tích lịch sử văn hóa xã Trường Yên, huyện Hoa Lư. Tìm hiểu phương pháp bảo vệ, phát triển di sản và quản lý hiệu quả các di tích.

Chuyên ngành

Quản lý văn hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

154
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về di tích lịch sử văn hóa ở xã Trường Yên

Xã Trường Yên thuộc huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Đây là vùng đất gắn liền với Cố đô Hoa Lư - kinh đô đầu tiên của nhà nước phong kiến tập quyền Việt Nam. Xã nằm cách trung tâm huyện 5 km, cách thành phố Ninh Bình 12 km. Địa hình mang đặc trưng miền núi với hệ thống núi đá vôi bao quanh, tạo nên cảnh quan thiên nhiên độc đáo. Hệ thống di tích lịch sử văn hóa tại đây có mật độ dày đặc và giá trị đặc biệt. Ba di tích được xếp hạng quốc gia đặc biệt nằm trong vùng lõi của Quần thể danh thắng Tràng An - Di sản Thế giới hỗn hợp đầu tiên của Đông Nam Á. Các di tích phản ánh quá trình hình thành và phát triển của nhà nước Đại Cồ Việt dưới triều Đinh và Tiền Lê. Công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa tại xã Trường Yên là nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, cộng đồng địa phương và các tổ chức liên quan. Luận văn thạc sĩ của tác giả Hà Đình Trung (Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, 2018) nghiên cứu toàn diện thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích tại địa phương này.

1.1. Khái niệm di tích lịch sử văn hóa và vai trò quản lý

Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Quản lý nhà nước về di tích bao gồm xây dựng chính sách, tổ chức thực thi pháp luật bảo vệ và phát huy giá trị di sản. Vai trò quản lý di tích không chỉ dừng lại ở bảo tồn vật chất mà còn bảo tồn giá trị phi vật thể gắn liền. Tại xã Trường Yên, công tác này mang tầm quan trọng đặc biệt do mật độ di tích dày và giá trị lịch sử cao. Bộ máy quản lý gồm UBND xã, Ban quản lý di tích và sự tham gia của cộng đồng địa phương cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo tồn, phát huy giá trị di sản.

1.2. Hệ thống cơ sở pháp lý quản lý di tích ở Ninh Bình

Khung pháp lý quản lý di tích lịch sử văn hóa được xây dựng từ các văn bản trung ương đến địa phương. Luật Di sản văn hóa 2001 và các nghị định hướng dẫn tạo nền tảng pháp lý căn bản. Tỉnh Ninh Bình ban hành Quyết định số 2115/QĐ-UBND năm 2004 phê duyệt quy hoạch bảo tồn Cố đô Hoa Lư. Nghị quyết số 15-NQ/TU năm 2009 định hướng phát triển du lịch đến năm 2030. Các văn bản này tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho hoạt động bảo vệ, tu bổ và phát huy giá trị di tích trên địa bàn. Di tích đã xếp hạng phải thành lập Ban quản lý và chỉ được tu bổ khi có sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

II. Thực trạng quản lý di tích lịch sử văn hóa tại xã Trường Yên

Công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa tại xã Trường Yên đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận nhưng cũng bộc lộ không ít hạn chế. Bộ máy quản lý được tổ chức theo hệ thống từ tỉnh đến xã. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình chịu trách nhiệm chỉ đạo toàn diện. Ban quản lý di tích cấp xã thực hiện nhiệm vụ trực tiếp. Hoạt động tuyên truyền pháp luật bảo vệ di tích được triển khai thường xuyên trong cộng đồng. Công tác kiểm kê, lập hồ sơ khoa học di tích được thực hiện nghiêm túc. Tuy nhiên, nguồn lực tài chính cho công tác tu bổ và bảo tồn còn hạn chế. Nhân lực chuyên trách có chuyên môn về quản lý di tích tại cấp cơ sở còn thiếu. Cơ chế xã hội hóa trong huy động nguồn lực bảo tồn chưa phát huy hiệu quả tối đa. Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý di tích tại một số nơi còn thụ động. Hoạt động nghiên cứu khoa học phục vụ bảo tồn chưa được đầu tư thích đáng. Những hạn chế này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng bảo tồn và phát huy giá trị di sản tại địa phương.

2.1. Bộ máy và cơ chế quản lý di tích cấp cơ sở

Bộ máy quản lý di tích tại xã Trường Yên được tổ chức theo mô hình phân cấp. UBND xã chịu trách nhiệm quản lý nhà nước trực tiếp. Ban quản lý di tích được thành lập tại các di tích cấp quốc gia đặc biệt. Cơ chế phối hợp giữa các cấp quản lý được quy định rõ trong các văn bản hướng dẫn. Cộng đồng địa phương đóng vai trò quan trọng thông qua các hội đồng bảo vệ di tích. Tuy nhiên, ranh giới trách nhiệm giữa quản lý nhà nước và quản lý cộng đồng đôi khi chưa rõ ràng. Nguồn nhân lực quản lý thiếu về số lượng và hạn chế về chuyên môn là thách thức lớn nhất trong vận hành bộ máy hiện tại.

2.2. Các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích

Hoạt động bảo tồn di tích tại xã Trường Yên bao gồm nhiều hạng mục quan trọng. Công tác quy hoạch bảo tồn được lập cho ba di tích cấp quốc gia đặc biệt gồm ba khu vực: khu trung tâm, khu bao quanh và vùng sinh thái. Tu bổ, phục hồi di tích được thực hiện theo đúng quy trình pháp lý. Hoạt động trưng bày, giới thiệu di tích phục vụ khách tham quan được tổ chức thường xuyên. Lễ hội truyền thống gắn với di tích được duy trì và phát huy. Tuy nhiên, một số hạng mục tu bổ chưa đảm bảo tính nguyên gốc. Hoạt động mê tín dị đoan tại một số di tích vẫn diễn ra cần xử lý nghiêm.

III. Giải pháp nâng cao quản lý di tích lịch sử văn hóa xã Trường Yên

Để nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử văn hóa tại xã Trường Yên, cần thực hiện đồng bộ nhiều nhóm giải pháp. Trước tiên, cần hoàn thiện bộ máy quản lý theo hướng chuyên nghiệp hóa. Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ quản lý di tích cấp cơ sở là ưu tiên hàng đầu. Xây dựng quy chế phối hợp rõ ràng giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng địa phương. Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo tồn thông qua các cơ chế huy động nguồn lực hiệu quả. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm kê, lập hồ sơ và giám sát di tích. Phát triển du lịch văn hóa tâm linh bền vững gắn với bảo tồn di sản. Xây dựng các chương trình giáo dục cộng đồng nâng cao ý thức bảo vệ di tích. Hoàn thiện quy hoạch tổng thể khu di tích theo ba vùng bảo vệ đã được phê duyệt. Tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các vi phạm trong khu vực di tích. Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và bảo tồn di sản thế giới tại địa phương.

3.1. Giải pháp hoàn thiện cơ chế và bộ máy quản lý

Hoàn thiện cơ chế quản lý di tích đòi hỏi cải cách cả về tổ chức lẫn quy trình thực hiện. Cần xây dựng quy chế quản lý riêng cho từng di tích cấp quốc gia đặc biệt. Phân cấp quản lý rõ ràng giữa tỉnh, huyện và xã giúp tránh chồng chéo trách nhiệm. Thành lập Ban quản lý di tích chuyên nghiệp với nhân sự có chuyên môn phù hợp. Xây dựng cơ chế tài chính minh bạch cho hoạt động thu và chi tại các điểm di tích. Tăng nguồn lực ngân sách nhà nước kết hợp đa dạng hóa nguồn vốn xã hội hóa. Định kỳ kiểm tra, đánh giá hiệu quả công tác quản lý để kịp thời điều chỉnh.

3.2. Giải pháp phát huy giá trị di tích gắn với phát triển du lịch

Phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa phải gắn chặt với phát triển du lịch bền vững. Xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh đặc trưng cho vùng Cố đô Hoa Lư. Đầu tư hạ tầng phục vụ khách tham quan gồm nhà khách, bãi đỗ xe, nhà trưng bày. Đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên am hiểu lịch sử và văn hóa địa phương. Liên kết tuyến du lịch Tràng An - Bái Đính - Cúc Phương với các di tích xã Trường Yên. Ứng dụng công nghệ số trong giới thiệu di tích như mô hình 3D, tour ảo trực tuyến. Doanh thu từ du lịch cần được trích một phần phục vụ bảo tồn và tôn tạo di tích.

IV. Kết luận và ý nghĩa nghiên cứu quản lý di tích Trường Yên

Luận văn thạc sĩ của Hà Đình Trung cung cấp cái nhìn toàn diện và có hệ thống về công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa tại xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý di tích. Đánh giá khách quan thực trạng công tác quản lý với cả thành tựu và hạn chế. Đề xuất các giải pháp khả thi dựa trên thực tiễn địa phương và kinh nghiệm quốc tế. Ý nghĩa khoa học của công trình nằm ở việc bổ sung lý luận quản lý văn hóa cho vùng di sản thế giới. Ý nghĩa thực tiễn thể hiện qua các khuyến nghị cụ thể có thể áp dụng ngay tại địa phương. Quản lý tốt di tích lịch sử văn hóa góp phần bảo tồn bản sắc dân tộc và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Xã Trường Yên với vị thế là trung tâm di sản thế giới cần một mô hình quản lý hiện đại, chuyên nghiệp và có sự tham gia rộng rãi của cộng đồng. Kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo cho các địa phương có di tích lịch sử văn hóa tương tự trên cả nước.

4.1. Đóng góp của luận văn cho quản lý văn hóa địa phương

Luận văn đóng góp nhiều giá trị thiết thực cho công tác quản lý văn hóa tại Ninh Bình. Về lý luận, công trình làm rõ các khái niệm và mô hình quản lý di tích phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Về thực tiễn, luận văn cung cấp bức tranh toàn diện về hệ thống di tích và cơ chế quản lý hiện hành. Các giải pháp đề xuất dựa trên dữ liệu điền dã và phỏng vấn chuyên gia nên có tính ứng dụng cao. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích cho cán bộ quản lý văn hóa các cấp. Luận văn cũng mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về mô hình quản lý di sản thế giới tại Việt Nam.

4.2. Định hướng bảo tồn di sản cho phát triển bền vững

Định hướng bảo tồn di sản tại xã Trường Yên phải hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Bảo tồn nguyên vẹn các giá trị lịch sử, kiến trúc và văn hóa phi vật thể là nền tảng. Phát triển du lịch phải đảm bảo không xâm hại đến tính toàn vẹn của di tích. Nâng cao đời sống cộng đồng địa phương thông qua các hoạt động kinh tế gắn với di sản. Giáo dục thế hệ trẻ về giá trị di sản văn hóa dân tộc là đầu tư lâu dài. Quản lý di tích theo tiêu chuẩn UNESCO đảm bảo vị thế di sản thế giới của Quần thể Tràng An. Sự phát triển hài hòa giữa bảo tồn và khai thác chính là chìa khóa cho tương lai bền vững của di sản Trường Yên.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý di tích lịch sử văn hóa ở xã trường yên huyện hoa lư tỉnh ninh bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 Luật Di sản văn hóa 2001 và Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa 2009 quy định: “Di sản văn hóa quy định tại Luật này bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Di sản văn hóa phi vật thể là 10 sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [40]. Như vậy, theo cách tiếp cận này, ta thấy di sản văn hóa bao gồm hầu hết các giá trị văn hóa do con người tạo nên từ quá khứ.

Nó là phần tinh túy nhất, tiêu biểu nhất đọng lại sau hàng loạt hoạt động sáng tạo của con người từ đời này qua đời khác. Di sản văn hóa là những giá trị văn hóa đặc biệt bền vững vì nó phải được thẩm định một cách khắt khe bằng sự thừa nhận của cả cộng đồng người trong một thời gian lịch sử lâu dài, đó chính là tính chất đặc thù của di sản văn hóa, phân biệt với khái niệm văn hóa nói chung. Di tích và di tích lịch sử văn hoá Theo thuật ngữ Hán Việt: “Di tích” được hiểu như sau, di: là sót lại, rớt lại, để lại; tích: là tàn tích, dấu vết. Di tích là dấu vết còn lại của quá khứ [1, tr.

Di tích là tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu giữ lại [1, tr. Theo Pháp lệnh số 14 LCT/HĐNN ngày 4/4/1984 nêu: “Di tích lịch sử văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị về văn hóa hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội”. Theo Luật Di sản Văn hóa được sửa đổi, bổ sung năm 2009: "Di tích lịch sử-văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo 11 vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học" [40, tr. Điểm 1, Điều 28, Chương IV Luật DSVH quy định để trở thành DTLSVH phải có các tiêu chí sau: a.

Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; b. Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước; c. Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng kháng chiến; d. Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ; đ.

Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử [40, tr. Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật DSVH có nêu tại Điều 11: “Di tích là các di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân), di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, danh lam thắng cảnh”. Nội dung Nghị định này cũng nêu rõ 04 loại hình di tích: di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, danh lam thắng cảnh. Dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng các khái niệm đó đều được xác định đặc điểm chung: DTLSVH là những không gian vật chất cụ thể, khách quan của quá khứ còn tồn tại đến ngày nay, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình của lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân sáng tạo ra trong lịch sử.

Từ những nội dung nêu trên, học viên quan niệm DTLSVH chứa đựng hai yếu tố chính: 12 Một là: Di tích là một loại di sản văn hóa vật thể còn lại của lịch sử, gắn với một địa điểm một không gian nhất định, có gắn kết với một cộng đồng văn hóa nhất định. Nghĩa là di tích tồn tại ở nơi có liên quan đến việc sinh ra, tồn tại (hoặc có một hay nhiều hoạt động), hoặc cũng có thể là nơi một nhân vật nào đó qua đời sau đó được nhân dân tưởng nhớ, lập nên chốn thờ phụng; hoặc có thể chỉ là nơi chôn cất một nhân vật tiêu biểu nào đó, người có ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân, được nhân dân biết ơn, tưởng nhớ; thậm chí cũng có thể đó chỉ là những nơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp, mà một nhân vật tiêu biểu nào đó trong lịch sử đã từng nghỉ chân, sau này được nhân dân biết ơn, tạo dựng lại những sinh hoạt đó tạo nên một nét đẹp văn hóa, một phong tục, hoặc có thể là một lễ hội ở chính địa điểm, không gian đó. Thứ hai: DTLSVH được hình thành và tồn tại luôn gắn với không gian nhất định và có tiến trình thời gian; DTLSVH được con người sáng tạo ra và được các thế hệ con người bồi đắp, lưu truyền để tạo thành sản phẩm mang kết tinh văn hóa của nhiều thế hệ trong tiến trình lịch sử xã hội. Mỗi di tích đều tích hợp nhiều tầng, lớp văn hóa mang giá trị nghiên cứu cho dù di tích đó được kiến tạo bằng chất liệu gì đi chăng nữa, được đan xen những giá trị văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau.

Như vậy cần khẳng định: DTLSVH là sản phẩm vật thể do con người sáng tạo ra; mỗi DTLSVH tiềm ẩn nhiều giá trị và thông tin của nhiều lĩnh vực khoa học. Mỗi DTLSVH có những thông tin sống động mà các nguồn sử liệu không thể ghi chép đầy đủ được. Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hoá 1. Quản lý Trong công trình Lý luận quản lý nhà nước, tác giả Mai Hữu Khuê xác định: 13 Quản lý là hoạt động nhằm tác động có tổ chức của một chủ thể vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi con người, nhằm duy trì sự ổn định và sự phát triển của đối tượng theo những mục đích nhất định.

Đây có thể là khái niệm có ý nghĩa thông thường và phổ biến nhất về quản lý [35, tr. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Quản lý” là việc chăm nom và điều khiển các hoạt động trong một tổ chức ban quản lý nhân sự; trông nom, giữ gìn và sắp xếp quản lý thư viện; quản lý sổ sách…” [31, tr. Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu.

Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa Quản lý nhà nước về văn hoá là hoạt động của bộ máy nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm giữ gìn, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam. Hay nói cách khác, quản lý nhà nước về văn hoá là quản lý các hoạt động văn hoá bằng chính sách và pháp luật. Hoạt động quản lý nhà nước về văn hoá bao gồm các mảng cơ bản sau: Quản lý nhà nước đối với văn hoá nghệ thuật; Quản lý nhà nước đối với văn hoá - xã hội; Quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá. Như vậy quản lý nhà nước về DTLSVH là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức điều hành của cơ quan đại diện cho Nhà nước trong việc bảo vệ, gìn giữ các DTLSVH, làm cho các giá trị của di tích phát huy theo chiều hướng tích cực.

Luật Di sản văn hóa năm 2001, 2009 đã chỉ rõ nội dung quản lý nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước tại điều 54 như sau: 14 Điều 54: Nội dung quản lý Nhà nước về DSVH bao gồm: 1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa. Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa.

Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa [40, tr. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa; 2. Bộ Văn hóa - Thông tin chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa; 3. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa theo phân công của Chính phủ.

Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ 15 quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Văn hóa - Thông tin để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa; 4. Ủy ban Nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về di sản văn hóa ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ [40, tr. Như vậy, quản lý DTLSVH là quá trình tác động của chủ thể quản lý (chính là hệ thống các cơ quan quản lý di tích) tới đối tượng quản lý (là hệ thống DTLSVH).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ