Luận văn thạc sĩ: Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Bảo tàng Cổ vật Võ Hằng Gia - Nguyễn Thị Thanh Nga

Bảo tàng Cổ vật Võ Hằng Gia là nơi lưu giữ những tài sản di sản văn hóa quý báu. Tìm hiểu nỗ lực bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử cho thế hệ tương lai.

Chuyên ngành

Quản lý văn hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

167
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bảo tàng cổ vật Võ Hằng Gia tỉnh Ninh Bình

Bảo tàng Cổ vật Võ Hằng Gia là bảo tàng ngoài công lập tọa lạc tại tỉnh Ninh Bình. Đây là một trong những bảo tàng tư nhân tiêu biểu tại Việt Nam, lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị lịch sử và văn hóa đặc sắc. Bảo tàng ra đời từ niềm đam mê sưu tầm cổ vật của gia đình họ Võ qua nhiều thế hệ. Cơ cấu tổ chức gồm Ban Giám đốc, Phòng Hành chính và Phòng Nghiệp vụ tổng hợp. Giám đốc là người chịu trách nhiệm cao nhất về chuyên môn và pháp lý. Nhân viên không được đánh giá theo bằng cấp mà theo kinh nghiệm thực tiễn. Mỗi nhân viên cần nắm vững sáu khâu nghiệp vụ: nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày và tuyên truyền. Bảo tàng đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung cho hệ thống di sản văn hóa của tỉnh Ninh Bình. Hoạt động của bảo tàng góp phần gìn giữ ký ức lịch sử địa phương và phục vụ nhu cầu nghiên cứu học thuật cũng như giáo dục cộng đồng về di sản văn hóa dân tộc.

1.1. Lịch sử hình thành và cơ cấu tổ chức bảo tàng

Bảo tàng Cổ vật Võ Hằng Gia được thành lập từ bộ sưu tập cổ vật của gia đình họ Võ tại Ninh Bình. Không giống bảo tàng công lập có hội đồng khoa học chuyên biệt, bảo tàng vận hành theo mô hình linh hoạt. Ban Giám đốc trực tiếp điều hành toàn bộ hoạt động. Phòng Hành chính và Phòng Nghiệp vụ tổng hợp phối hợp thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn. Nhân viên được điều động linh hoạt theo từng công việc cụ thể dưới sự chỉ đạo của giám đốc, tạo nên mô hình quản lý đặc thù của bảo tàng ngoài công lập.

1.2. Vai trò của bảo tàng ngoài công lập trong bảo tồn di sản

Bảo tàng ngoài công lập đóng vai trò bổ sung quan trọng trong hệ thống thiết chế văn hóa quốc gia. Bảo tàng Cổ vật Võ Hằng Gia góp phần bảo tồn những hiện vật mà bảo tàng nhà nước chưa có điều kiện tiếp nhận. Hoạt động sưu tầm tư nhân giúp ngăn chặn nguy cơ thất thoát cổ vật ra nước ngoài. Đồng thời, bảo tàng phục vụ nhu cầu tham quan, nghiên cứu của cộng đồng địa phương và du khách, tạo ra giá trị kép về văn hóa lẫn kinh tế du lịch cho tỉnh Ninh Bình.

II. Thực trạng bảo tồn di sản văn hóa tại bảo tàng Võ Hằng Gia

Công tác bảo tồn di sản văn hóa tại Bảo tàng Cổ vật Võ Hằng Gia được triển khai qua nhiều hoạt động nghiệp vụ. Bảo tàng thực hiện nghiên cứu, sưu tầm hiện vật từ nhiều nguồn khác nhau trong và ngoài tỉnh. Công tác kiểm kê, bảo quản hiện vật được tiến hành thường xuyên nhằm đảm bảo tính toàn vẹn của bộ sưu tập. Hoạt động trưng bày triển lãm được tổ chức định kỳ để giới thiệu di sản đến công chúng. Bảo tàng liên kết với các công ty du lịch để thu hút khách tham quan. Hoạt động truyền thông và quảng bá cũng được chú trọng, tuy nhiên còn giới hạn trong phạm vi chuyên ngành. Giao lưu trao đổi cổ vật với các đơn vị trong và ngoài nước góp phần nâng cao chất lượng bộ sưu tập. Cơ chế quản lý gồm sự phối hợp của UBND tỉnh Ninh Bình, Sở Văn hóa và Thể thao, Bảo tàng tỉnh và bản thân Bảo tàng Cổ vật Võ Hằng Gia. Hướng dẫn tham quan và tổ chức học tập thông qua di sản là hoạt động được duy trì đều đặn.

2.1. Những kết quả đạt được trong công tác bảo tồn hiện vật

Bảo tàng đã xây dựng được bộ sưu tập cổ vật có giá trị, phản ánh lịch sử văn hóa vùng đất Ninh Bình và cả nước. Công tác nghiên cứu sưu tầm được thực hiện bài bản, đảm bảo tính khoa học và pháp lý. Hệ thống kiểm kê, phân loại hiện vật từng bước được hoàn thiện. Các hoạt động trưng bày, hướng dẫn tham quan thu hút đông đảo học sinh, sinh viên và nhà nghiên cứu. Liên kết với công ty du lịch giúp bảo tàng tiếp cận nhiều đối tượng khách hơn, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị di sản văn hóa dân tộc.

2.2. Những hạn chế và khó khăn trong quản lý di sản

Bảo tàng tư nhân đối mặt với nhiều thách thức đặc thù. Nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn bảo tàng học còn hạn chế do phụ thuộc vào kinh nghiệm cá nhân. Hoạt động tuyên truyền chủ yếu trong giới chuyên ngành, người dân đại trà ít biết đến. Công tác bảo quản, tu duy hiện vật gặp khó khăn về kinh phí và kỹ thuật. Nhiều bảo tàng tư nhân còn tình trạng có gì bày nấy, chưa đảm bảo ba yếu tố cơ bản: nghệ thuật, lịch sử và khoa học. Cơ chế pháp lý cho bảo tàng ngoài công lập chưa đầy đủ và đồng bộ.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

Để nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy giá trị di sản, Bảo tàng Cổ vật Võ Hằng Gia cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước tiên, cần hoàn thiện cơ chế quản lý nội bộ, xây dựng quy trình nghiệp vụ chuẩn hóa cho từng khâu từ sưu tầm đến trưng bày. Tăng cường đào tạo nhân lực chuyên môn thông qua các khóa học ngắn hạn và hợp tác với trường đại học, viện nghiên cứu. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và quảng bá di sản, bao gồm xây dựng cơ sở dữ liệu hiện vật và triển lãm trực tuyến. Tăng cường liên kết với các tổ chức văn hóa, trường học và doanh nghiệp du lịch. Cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ hơn giữa bảo tàng với UBND tỉnh và Sở Văn hóa. Xây dựng các chương trình giáo dục di sản cho học sinh phổ thông là hướng đi hiệu quả và bền vững. Đa dạng hóa nguồn thu để đảm bảo tài chính cho hoạt động bảo tồn lâu dài.

3.1. Giải pháp về cơ chế chính sách và quản lý nhà nước

Nhà nước cần hoàn thiện hành lang pháp lý cho bảo tàng ngoài công lập, bao gồm các quy định rõ ràng về tiêu chuẩn thành lập, hoạt động và kiểm tra. UBND tỉnh Ninh Bình và Sở Văn hóa và Thể thao cần tăng cường hỗ trợ kỹ thuật, nghiệp vụ cho bảo tàng tư nhân. Cần có chính sách ưu đãi về thuế, đất đai và vay vốn để khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực bảo tồn di sản. Cơ chế giám sát, đánh giá định kỳ giúp bảo tàng tư nhân hoạt động đúng định hướng và đảm bảo chất lượng chuyên môn theo chuẩn quốc gia.

3.2. Giải pháp phát huy giá trị di sản qua du lịch và giáo dục

Khai thác tiềm năng du lịch văn hóa của Ninh Bình là hướng đi chiến lược cho bảo tàng. Xây dựng các tour kết hợp tham quan bảo tàng với các điểm di sản khác như Tràng An, Hoa Lư tạo sản phẩm du lịch hấp dẫn. Triển khai chương trình giáo dục di sản cho học sinh là cách bền vững để tạo thế hệ kế thừa. Số hóa bộ sưu tập và xây dựng triển lãm ảo mở rộng tầm với của bảo tàng ra quốc tế. Tổ chức sự kiện, hội thảo khoa học định kỳ nâng cao uy tín học thuật và thu hút nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.

IV. Kết luận và ý nghĩa luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh Nga về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của Bảo tàng Cổ vật Võ Hằng Gia có giá trị khoa học và thực tiễn rõ ràng. Công trình hệ thống hóa cơ sở lý luận về bảo tồn di sản văn hóa trong bối cảnh bảo tàng ngoài công lập tại Việt Nam. Kết quả khảo sát thực trạng cung cấp bức tranh toàn diện về hoạt động của một bảo tàng tư nhân tiêu biểu. Các giải pháp được đề xuất có tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Nghiên cứu đóng góp vào kho tàng học thuật về quản lý văn hóa tại Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực bảo tàng tư nhân còn ít được nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng làm tài liệu tham khảo cho các bảo tàng ngoài công lập khác trong cả nước. Luận văn cũng góp phần thúc đẩy nhận thức về tầm quan trọng của bảo tàng tư nhân trong sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa dân tộc.

4.1. Đóng góp khoa học của luận văn về quản lý bảo tàng tư nhân

Luận văn làm rõ khái niệm bảo tồn và phát huy trong bối cảnh di sản vật thể tại bảo tàng ngoài công lập. Nghiên cứu phân tích mối quan hệ biện chứng giữa bảo tồn nguyên gốc và phát huy giá trị di sản trong thực tiễn. Hệ thống văn bản pháp quy liên quan đến bảo tàng tư nhân được hệ thống hóa đầy đủ. Kết quả nghiên cứu bổ sung tư liệu thực địa quan trọng về mô hình bảo tàng ngoài công lập tại vùng đồng bằng Bắc Bộ, có giá trị tham chiếu cho chính sách văn hóa quốc gia.

4.2. Ứng dụng thực tiễn cho hệ thống bảo tàng Ninh Bình và cả nước

Các giải pháp trong luận văn có thể triển khai ngay tại Bảo tàng Cổ vật Võ Hằng Gia và nhân rộng cho các bảo tàng tư nhân tương tự. Mô hình phối hợp giữa bảo tàng tư nhân với cơ quan quản lý nhà nước tại Ninh Bình là kinh nghiệm thực tiễn quý báu. Định hướng phát triển gắn bảo tàng với du lịch văn hóa phù hợp chiến lược phát triển kinh tế xã hội tỉnh Ninh Bình. Luận văn là tài liệu tham khảo thiết thực cho sinh viên ngành Quản lý Văn hóa và các nhà quản lý bảo tàng ngoài công lập trên toàn quốc.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận văn thạc sĩ bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của bảo tàng cổ vật võ hằng gia tỉnh ninh bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VÀ BẢO TÀNG CỔ VẬT VÕ HẰNG GIA 1. Khái quát chung về bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa 1. Các khái niệm liên quan 1. Di sản văn hóa Nghiên cứu về bảo tàng, với tư cách là thiết chế văn hóa - nơi lưu giữ, giới thiệu các di sản văn hóa vật thể, liên quan đến văn hóa phi vật thể, chúng ta cần nắm được khái niệm về văn hóa, di sản văn hóa.

Từ đó có những nhận thức chung nhất về văn hóa xã hội, tìm hiểu về bảo tàng và phân loại bảo tàng. Khái niệm di sản được hiểu một cách đơn giản nhất chính là tài sản của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau. Trong Điều 1 của Luật Di sản văn hóa : “Di sản văn hóa gồm DSVH vật thể và DSVH phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [7, tr. Như vậy “Di sản văn hóa được khái quát lại là tổng thể những tài sản văn hóa truyền thống trong hệ thống giá trị của nó, được chủ thể nhận biết và đưa vào sử dụng nhằm đáp ứng những nhu cầu và đòi hỏi của hiện tại”.

Di sản văn hóa vật thể là: “DSVH vật thể là những sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền lâu đời trong đời sống của các dân tộc, bao gồm các di tích lịch sử - văn hóa, các công trình xây dựng kiến trúc, mỹ thuật, các danh lam thắng cảnh, các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”[7, tr. 12 Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác [6, tr. Công ước quốc tế năm 2003 đã quy định như sau: Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người.

Vì những mục đích của Công ước này, chỉ xét đến những di sản văn hóa phi vật thể phù hợp với các văn kiện Quốc tế hiện hành về quyền con người, cũng như những yêu cầu về sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng, các nhóm người và cá nhân, và về phát triển bền vững” [23, tr. Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam - thắng cảnh và di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia. Di sản văn hoá của một dân tộc là tất cả những vốn liếng của chìm của nổi có liên quan đến đời sống tinh thần mà dân tộc đó đã tích luỹ được trong trường kỳ lịch sử. Một dân tộc, có sự tồn tại qua thời gian, thường 13 đều có làm nên một cái gì đó, bao gồm từ các công trình kiến trúc, các loại tác phẩm văn chương, hội hoạ, điêu khắc, âm nhạc… cho tới phong tục tập quán trong ăn ở sinh hoạt và nhiều loại di sản khác.

Người ta không chỉ nhìn thấy, sờ mó thấy mà còn cảm thấy di sản. Nó tạo nên một thứ khí hậu trực tiếp liên quan đến toàn bộ sinh hoạt vật chất lẫn tinh thần của cộng đồng. Như một thế lực vô hình, nó chi phối mọi suy nghĩ hành động của từng con người khiến người ta nhận ra rằng họ không chỉ thuộc về mình mà còn thuộc về một cái gì rộng lớn, cao cả hơn nữa: thuộc về một dân tộc. Khái niệm di sản là một khái niệm mang tính chất tiến triển, nó thay đổi theo thời gian và không gian.

Cho đến nay, di sản không đơn thuần chỉ là tài sản do cha ông để lại cho các thế hệ sau. Bởi không nhất định những tài sản được để lại đều có thể coi là di sản. Nó được xét theo nhiều khía cạnh, giá trị để từ đó có thể khẳng định đây có được công nhận là di sản hay không. Di sản văn hóa là di sản của các hiện vật vật lý và các thuộc tính phi vật thể của một nhóm hay xã hội được kế thừa từ các thế hệ trước, đã duy trì đến hiện nay và dành cho các thế hệ mai sau.

Di sản văn hóa bao gồm tài sản văn hóa (như các tòa nhà, cảnh quan, di tích, sách, tác phẩm nghệ thuật, và các hiện vật), văn hóa phi vật thể (như văn hóa dân gian, truyền thống, ngôn ngữ và kiến thức) và di sản tự nhiên (bao gồm cảnh quan có tính văn hóa quan trọng và đa dạng sinh học).2 Cổ vật Tại điều 4 Luật Di sản văn hóa đã ghi rõ: - Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học. - Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ 100 năm tuổi trở lên [6, điều 4]. 14 Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, Cổ vật là vật được chế tạo từ thời cổ, có giá trị văn hoá, nghệ thuật, lịch sử nhất định [12, tr. Năm 2000, lần đầu tiên Việt Nam ban hành Luật Di Sản Văn hóa, trong đó xác định Cổ vật là các giá trị văn hóa vật thể ghi dấu ấn văn hóa của con người, là sản phẩm của con người tạo ra và có tuổi từ 100 năm trở lên… Ở nước ta định nghĩa cổ vật thì mới có cụ thể gần đây, còn các quốc gia phát triển trên thế giới đã định nghĩa về cổ vật từ lâu.

Cổ vật khác hẳn với “đồ xưa” và “kỷ vật” và đó là điều cần phân biệt Cổ vật sẽ có rất nhiều loại hình với chất liệu rất khác nhau. Chất liệu đá, đá qúy, kim loại, gốm sứ, gỗ, giấy… Cổ vật có thể là tượng, là đồ trang sức, đồ dùng trong sinh hoạt, là vũ khí, máy móc, phương tiện giao thông, đo đếm…Cổ vật rất phong phú là vậy, nhưng tóm lại chúng phải là sản phẩm do con người làm ra. Đối với mỗi người, việc quyết định lựa chọn loại hình cổ vật để sưu tập nhằm thoả mãn được ý thích và lại phù hợp với nguồn lực của mình là một việc cần khi vào sân chơi cổ vật. Có lựa chọn và chú tâm như vậy, theo thời gian mới có thể lập nên một sưu tập cổ vật mang dấu ấn của mình và có giá trị cao.

Đây là một việc làm không đơn giản đối với một người chơi cổ vật, vì cổ vật quá nhiều chất liệu, loại hình. Những ai đã thạo cuộc chơi cổ ngoạn thì đều ngấm truyền khẩu về các tiêu chí để đánh giá cổ vật bằng một câu ngắn gọn các cụ để lại là “Nhất dáng, nhì da, tam toàn, tứ tuổi”, nhưng có lẽ chưa đủ, vì cần phải thêm hai tiêu chí nữa là “độc” và có “Thân phận” rõ ràng [33]. Bốn tiêu chí này được các nhà sưu tầm cổ vật quan tầm và đề cao theo đúng thứ tự của nó. Đây cũng là một trong những yếu tố quyết định giá thành của món cổ vật trên thị trường.

15 Ngoài 04 tiêu chí thông thường trên, khi đánh giá chất lượng, giá trị của các cổ vật, người có nghề cao thường còn chú ý tới hai tiêu chí nữa là “Độc”, tức là rất hiếm và “Thân phận” tức là xuất xứ của ai, nơi nào đã sử dụng thời xa xưa? Các cổ vật của Vua quan, danh nhân, nhà giầu đặt làm hoặc mua, tặng… để sử dụng (thường gọi là đồ quan) thì có giá trị kinh tế cao khác hẳn những cổ vật của dân chúng bình thường sử dụng (thường gọi là đồ phố). Các cổ vật có hiệu đề, tên lò sản xuất, minh văn cung tiến… sẽ cho biết xuất sứ cổ vật, tất nhiên chúng sẽ quý hơn các cổ vật không rõ “thân phận” [33]. Ngoài ra, việc xác minh giá trị thực sự của cổ vật còn có một hoạt động mang tính chất pháp lý nữa, đó là giám định cổ vật. Giám định cổ vật được ghi rõ tại Thông tư 22/2011/TT-BVHTTDL quy định về điều kiện thành lập và hoạt động của cơ sở giám định cổ vật do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành như sau: “Giám định cổ vật là việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để đánh giá, kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, niên đại, chất liệu của cổ vật.

Cổ vật chính là lao động của con người kết tinh trong di tích, di vật lịch sử (bao hàm di vật tinh thần và di vật vật chất), cũng chính là tiêu chí để đánh giá sự kết tinh trí tuệ và bước phát triển lịch sử cử con người, vốn có đặc tính hai tầng rõ ràng, tức là giá trị vô hình và giá trị hữu hình. Cổ vật là sự bảo lưu lịch sử có giá trị lịch sử, nghệ thuật và khoa học. Ba giá trị này tạo thành một chỉnh thể bất khả phân với những giá trị sau: [18, tr. Giá trị cổ vật gồm có: 16 Giá trị lịch sử, giá trị nghệ thuật, giá trị thẩm mỹ và giá trị khoa học.

Bốn giá trị này sẽ bổ sung và hoàn thiện làm nên giá trị văn hóa cho cổ vật. Cần có sự nghiên cứu hết sức nghiêm túc mới có thế xác định được hết các giá trị của nó. Niên đại của cổ vật càng xa xưa thì càng quí.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ