Luận văn thạc sĩ: Quản lý lễ hội Kỳ Phúc làng Yên Liêu Thượng, xã Khánh Thịnh, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình - Dương Viết Yên

Quản lý lễ hội Kỳ Phúc tại làng Yên Liêu Thượng huyện Yên Mô Ninh Bình. Tìm hiểu các chiến lược tổ chức, quy trình quản lý và bảo tồn truyền thống văn hóa lễ

Chuyên ngành

Quản lý văn hoá

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

180
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về lễ hội Kỳ Phúc làng Yên Liêu Thượng Ninh Bình

Lễ hội Kỳ Phúc là di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của làng Yên Liêu Thượng, xã Khánh Thịnh, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Đây là lễ hội truyền thống gắn liền với tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng, phản ánh đời sống tâm linh phong phú của cộng đồng địa phương qua nhiều thế kỷ. Đình làng Yên Liêu Thượng là trung tâm của lễ hội, được trùng tu từ năm Thành Thái Giáp Ngọ 1884. Lục vị Thành hoàng được thờ phụng tại đình làng, cùng 75 đạo sắc phong được rước về từ năm 1991. Lễ hội Kỳ Phúc mang giá trị lịch sử, văn hóa và cố kết cộng đồng sâu sắc. Cộng đồng làng Yên Liêu Thượng duy trì lễ hội qua nhiều thế hệ, thể hiện bản sắc văn hóa dân gian đặc trưng vùng đồng bằng Bắc Bộ. Luận văn thạc sĩ của tác giả Dương Viết Yên, được thực hiện năm 2016-2018 dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Phương Thảo, là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về công tác quản lý lễ hội này. Nghiên cứu đặt trong bối cảnh bảo tồn di sản văn hóa và phát triển du lịch cộng đồng tại Ninh Bình.

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển đình làng Yên Liêu Thượng

Đình làng Yên Liêu Thượng có lịch sử lâu đời, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của làng Yên Liêu Thượng. Theo tư liệu của ông Trịnh Định Kiệt, năm 1884 đình được trùng tu thay mái tranh bằng ngói vảy, đến năm 1890 khởi công xây Chính Tẩm thờ đức Thành hoàng. Một thời gian dài, đình làng được dùng vào mục đích khác, các bài vị Thành hoàng được thờ tại Đền Tam Thánh. Năm 1991, dân làng rước Thành hoàng cùng 75 đạo sắc phong trở về đình, khôi phục không gian thờ tự truyền thống và là nền tảng để lễ hội Kỳ Phúc được phục hồi toàn diện.

1.2. Giá trị văn hóa và tín ngưỡng của lễ hội Kỳ Phúc

Lễ hội Kỳ Phúc mang nhiều giá trị văn hóa nổi bật. Về tín ngưỡng, lễ hội đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân, thể hiện lòng biết ơn với các vị Thành hoàng che chở làng xã. Về cố kết cộng đồng, lễ hội là dịp để người dân làng Yên Liêu Thượng gắn bó, cùng nhau gìn giữ bản sắc văn hóa địa phương. Về lịch sử, lễ hội lưu giữ ký ức tập thể qua các nghi lễ, phong tục và trò diễn dân gian. Xã Khánh Thịnh đạt chuẩn nông thôn mới năm 2017, tạo điều kiện thuận lợi để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, trong đó có lễ hội Kỳ Phúc.

II. Thực trạng quản lý lễ hội Kỳ Phúc tại làng Yên Liêu Thượng

Công tác quản lý lễ hội Kỳ Phúc được phân cấp rõ ràng giữa các cơ quan nhà nước và cộng đồng địa phương. Phòng Văn hóa - Thể thao huyện Yên Mô là cơ quan nhà nước cấp trên, chịu trách nhiệm theo dõi, chỉ đạo và kiểm tra giám sát toàn diện. Ban Văn hóa - Thông tin xã Khánh Thịnh đóng vai trò tham mưu cho UBND xã, trực tiếp quản lý hoạt động lễ hội trên địa bàn. Ban Chỉ đạo lễ hội và Ban Khánh tiết làng Yên Liêu Thượng là hai thiết chế quan trọng ở cấp cơ sở, điều phối toàn bộ quá trình tổ chức. Cơ chế phối hợp giữa các chủ thể quản lý nhà nước và cộng đồng vận hành theo mô hình song song: cơ quan nhà nước định hướng và giám sát, cộng đồng thực hiện và phản hồi. Tuy nhiên, thực trạng cho thấy còn tồn tại nhiều hạn chế trong quản lý nguồn lực, dịch vụ, vệ sinh môi trường và an ninh trật tự trong các kỳ lễ hội. Thiếu nhân lực chuyên môn, tài chính hạn hẹp và chưa khai thác hiệu quả tiềm năng cộng đồng là những thách thức cần giải quyết.

2.1. Cơ cấu tổ chức và cơ chế phối hợp giữa các chủ thể quản lý

Bộ máy quản lý lễ hội Kỳ Phúc gồm bốn cấp phối hợp chặt chẽ. Phòng VH-TT huyện Yên Mô đảm bảo an ninh, trật tự và nếp sống văn minh, phòng chống tệ nạn xã hội. Ban VH-TT xã Khánh Thịnh chịu sự chỉ đạo chuyên môn từ phòng cấp trên và tham mưu trực tiếp cho UBND xã. Ban Chỉ đạo lễ hội điều phối liên ngành. Ban Khánh tiết làng đại diện cộng đồng, thực thi các chương trình lễ hội theo định hướng của cơ quan nhà nước. Mô hình phối hợp đa chiều này đảm bảo sự thống nhất từ chỉ đạo đến thực hiện, song cũng cần cơ chế phản hồi linh hoạt hơn để xử lý các phát sinh trong thực tế tổ chức.

2.2. Những hạn chế trong công tác quản lý lễ hội Kỳ Phúc

Công tác quản lý lễ hội Kỳ Phúc còn bộc lộ một số hạn chế đáng chú ý. Cơ sở vật chất phục vụ lễ hội chưa đồng bộ, đặc biệt là hạ tầng tiếp đón du khách và khu vực dịch vụ. Quản lý hoạt động thương mại, vệ sinh môi trường và an ninh trật tự trong những ngày diễn ra lễ hội còn thiếu chặt chẽ. Công tác thanh tra, kiểm tra và khen thưởng chưa được thực hiện thường xuyên, hiệu quả răn đe thấp. Nguồn kinh phí xã hội hóa chưa được huy động tối đa. Năng lực cán bộ văn hóa ở cơ sở còn hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng tổ chức và bảo tồn các nghi lễ truyền thống trong lễ hội.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội Kỳ Phúc Ninh Bình

Luận văn đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý lễ hội Kỳ Phúc. Thứ nhất, hoàn thiện cơ cấu bộ máy tổ chức theo hướng chuyên nghiệp hóa, phân định rõ trách nhiệm từng chủ thể. Thứ hai, tăng cường tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy định về lễ hội đến toàn thể cộng đồng và du khách. Thứ ba, đẩy mạnh bảo vệ cảnh quan di tích, gìn giữ không gian văn hóa gắn với lễ hội. Thứ tư, siết chặt quản lý dịch vụ, vệ sinh môi trường và trật tự công cộng trong thời gian diễn ra lễ hội. Thứ năm, thúc đẩy xã hội hóa nguồn lực thông qua huy động đóng góp của cộng đồng và doanh nghiệp. Các giải pháp này dựa trên nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa quản lý nhà nước và sự tự quản của cộng đồng, bảo đảm tính bền vững trong bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội truyền thống.

3.1. Hoàn thiện bộ máy và nâng cao năng lực cán bộ quản lý lễ hội

Để nâng cao hiệu quả quản lý, cần kiện toàn Ban Khánh tiết làng Yên Liêu Thượng theo hướng chuyên nghiệp, có phân công nhiệm vụ cụ thể từng thành viên. Cán bộ văn hóa xã Khánh Thịnh cần được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý di sản và tổ chức lễ hội định kỳ. Cơ chế phối hợp giữa Phòng VH-TT huyện, Ban VH-TT xã và cộng đồng cần được văn bản hóa rõ ràng hơn, tránh chồng chéo chức năng. Đồng thời, xây dựng quy chế hoạt động cho Ban Chỉ đạo lễ hội, đảm bảo sự vận hành nhịp nhàng, có trách nhiệm giải trình minh bạch trước cộng đồng địa phương.

3.2. Xã hội hóa nguồn lực và bảo vệ cảnh quan di tích lễ hội

Xã hội hóa là hướng đi bền vững cho công tác quản lý lễ hội Kỳ Phúc. Cần xây dựng quỹ bảo tồn lễ hội từ đóng góp của người dân, doanh nghiệp địa phương và du khách. Nguồn lực này phục vụ tu bổ đình làng, mua sắm trang phục lễ hội và duy trì các nghi lễ truyền thống. Song song đó, cần có kế hoạch bảo vệ cảnh quan di tích gắn với lễ hội, ngăn chặn xây dựng tự phát làm mất mỹ quan. Việc lập hồ sơ khoa học về lễ hội Kỳ Phúc để đề nghị công nhận di sản văn hóa phi vật thể cấp tỉnh sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác bảo tồn lâu dài.

IV. Kết luận và ý nghĩa khoa học của luận văn quản lý lễ hội Kỳ Phúc

Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa của tác giả Dương Viết Yên (2016-2018) đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý lễ hội Kỳ Phúc, làng Yên Liêu Thượng. Đây là công trình nghiên cứu có giá trị học thuật và thực tiễn cao, đóng góp vào kho tàng nghiên cứu văn hóa dân gian vùng Ninh Bình. Kết quả nghiên cứu chỉ ra: lễ hội Kỳ Phúc là di sản sống động, đang được cộng đồng gìn giữ tích cực. Mô hình quản lý kết hợp nhà nước - cộng đồng đang vận hành tương đối hiệu quả, song cần tiếp tục hoàn thiện. Hệ thống giải pháp được đề xuất có tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương. Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các địa phương khác trong quản lý lễ hội truyền thống, đặc biệt trong bối cảnh đẩy mạnh bảo tồn di sản và phát triển du lịch văn hóa tại vùng đồng bằng sông Hồng.

4.1. Đóng góp của nghiên cứu đối với khoa học quản lý văn hóa

Luận văn bổ sung nguồn tư liệu điền dã quan trọng về lễ hội truyền thống tại huyện Yên Mô, Ninh Bình - một địa bàn chưa được nghiên cứu chuyên sâu. Về lý luận, nghiên cứu vận dụng và làm phong phú thêm khái niệm quản lý lễ hội trong bối cảnh cụ thể của địa phương. Về thực tiễn, các giải pháp được đề xuất dựa trên khảo sát thực địa nghiêm túc, phỏng vấn chuyên sâu các nhân chứng và phân tích hệ thống văn bản pháp quy hiện hành. Đây là nền tảng để xây dựng chính sách quản lý lễ hội phù hợp với đặc thù văn hóa vùng chiêm trũng Ninh Bình, nơi còn lưu giữ nhiều phong tục tập quán độc đáo.

4.2. Hướng ứng dụng trong bảo tồn và phát triển du lịch văn hóa địa phương

Kết quả luận văn mở ra hướng ứng dụng thiết thực trong phát triển du lịch văn hóa tại Ninh Bình. Lễ hội Kỳ Phúc có tiềm năng trở thành sản phẩm du lịch cộng đồng hấp dẫn, gắn kết với chuỗi di sản văn hóa - sinh thái của tỉnh. Để hiện thực hóa, cần số hóa tư liệu lễ hội, xây dựng bản đồ di sản và phát triển chương trình trải nghiệm văn hóa cho du khách. Xã Khánh Thịnh đã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2017, tạo hạ tầng thuận lợi. Việc kết nối lễ hội Kỳ Phúc với các tuyến du lịch Tam Cốc - Bích Động, Tràng An sẽ tạo thêm giá trị kinh tế bền vững cho cộng đồng địa phương.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý lễ hội kỳ phúc làng yên liêu thượng xã khánh thịnh huyện yên mô tỉnh ninh bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI VÀ LỄ HỘI KỲ PHÚC, LÀNG YÊN LIÊU THƯỢNG 1. Các khái niệm cơ bản 1. Di sản văn hóa Văn hóa là lĩnh vực rộng, trong đó có di sản văn hóa là một bộ phận cấu thành quan trọng hình thành nên bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Di sản là cái thời trước để lại; còn văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” [38, tr.

Trong Công ước về Bảo vệ DSVH và thiên nhiên thế giới của UNESCO ban hành năm 1972, tại điều 1 có quy định những loại hình sẽ được coi như là “di sản văn hóa” bao gồm: Di tích kiến trúc (monuments): Các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội họa kiến trúc, các bộ phận hoặc kết cấu có tính chất khảo cổ học, các bi ký, các hang động cư trú và những bộ phận kết hợp, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học. Nhóm công trình xây dựng (groups of buildings): Các nhóm công trình riêng lẻ hoặc liên kết mà có, do tính chất kiến trúc, tính chất đồng nhất hoặc vị thế của chúng trong cảnh quan, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học. Theo Luật Di sản văn hóa được ban hành năm 2001 và sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì DSVH bao gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. DSVH phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác.

DSVH vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị 9 lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc. Tác giả Dương Văn Sáu trong cuốn Di tích lịch sử- văn hóa và danh thắng Việt Nam đưa ra khái niệm “Di sản văn hóa là sự chung đúc và kết tinh các giá trị vật chất và tinh thần của các thế hệ người đi trước, trở thành tài sản của cả cộng đồng; được cộng đồng thừa nhận, tuân thủ, bảo tồn, phát triển và truyền trao cho các thế hệ kế tiếp” [42, tr. Qua các khái niệm trên, chúng ta thấy rõ DSVH Việt Nam chính là thành quả của các thế hệ cha ông ta hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh trong quá trình dựng nước và giữ nước; đồng thời cũng là bằng chứng sống động nhất, hấp dẫn nhất cho sự vận động, biến chuyển, giao thoa và sự phát triển toàn diện của đời sống xã hội. Các khái niệm đưa ra cũng có cách hiểu và ứng xử khác nhau đối với DSVH.

Đó là theo Luật Di sản văn hóa thì cho rằng, DSVH là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Có quan điểm cho rằng DSVH là tài sản văn hóa của cả cộng đồng, được cộng đồng bảo tồn, phát triển và truyền trao cho các thế hệ kế tiếp. Giữa lưu truyền và truyền trao nó thể hiện một cách ứng xử, một hành vi khác nhau.

Lưu truyền là một sự diễn ra theo chiều tự nhiên trong xã hội. Truyền trao là một hành vi mang tính chất có sự tác động của công tác quản lý, thế hệ đi trước đã “giao nhiệm vụ” bằng cách đã trao lại cho thế hệ sau những gì mà các thế hệ đi trước đã chung đúc và kết tinh các giá trị vật chất và tinh thần thành DSVH. Lưu truyền thì có nghĩa là những gì cha ông để lại thế hệ sau tiếp thu hay không tùy thuộc vào nhận thức về giá trị kết tinh trong di sản. Quản lý văn hóa Quản lý văn hóa là một khái niệm khá rộng.

Đây là một thuật ngữ mang nội dung bao trùm rộng tới cả hai lĩnh vực mà đối tượng quản lý và quản lý về văn hóa vật chất, quản lý về văn hóa tinh thần trong đời sống 10 sinh hoạt con người. Từ đó ta có thể phân biệt rõ ràng giữa khái niệm quản lý văn hóa và quản lý nhà nước về văn hóa. Việc quản lý văn hóa được thực hiện bằng hệ thống luật pháp và các chính sách liên quan đến sự phát triển văn hóa. Nội dung, phương thức cách thức, biện pháp để quản lý văn hóa cũng có sự thay đổi, bổ sung, nhằm đáp ứng yêu cấu của sự phát triển tùy theo mỗi quốc gia và truyền thống văn hóa của mỗi nước, mà có những cách thức quản lý văn hóa khác nhau cho phù hợp với sự phát triển.

Theo tài liệu Quản lý hoạt động văn hóa, của Nhà xuất bản Văn hóa nghệ thuật Hà nội năm 1998 thì, quản lý nhà nước về văn hóa là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của Nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa dân tộc. Quản lý về văn hóa là một lĩnh vực cụ thể của khoa học quản lý đặc thù. Bởi vì cần có không gian dành riêng cho chủ thể phát huy khả năng sáng tạo. Theo tác giả Dương Văn Sáu thì “Quản lý văn hóa là quá trình xây dựng đường lối chính sách và tổ chức hoạt động, nhằm bảo tồn, khai thác và phát huy tốt nhất giá trị của văn hóa Việt Nam; đồng thời tiếp thu những tinh hoa của văn hóa nhân loại, làm giàu cho văn hóa dân tộc” [33, tr.

Một yếu tổ ta cần quan tâm là bảo tồn, khai thác và phát huy. Trước đây, các khái niệm chỉ nhấn mạnh việc bảo tồn và phát huy, chứ chưa quan tâm đến khai thác giá trị văn hóa Việt Nam. Mà khai thác giá trị văn hóa Việt Nam là điều chúng ta đang thực hiện mỗi ngày để giá trị ấy thấm đậm vào mỗi con người và cả cộng đồng. Lễ hội Là sinh hoạt văn hóa dân gian, lễ hội có mặt ở khắp mọi miền đất nước, mỗi lễ hội mang sắc thái, đặc điểm khác nhau.

Có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về lễ hội. Giới nghiên cứu lễ hội ở nước ta từ những năm 90 của thế kỉ trước đã thể hiện trong các công trình nghiên cứu hai thuật 11 ngữ “lễ hội” và “hội lễ”. Thực chất hai thuật ngữ này có chung nội hàm nhưng được tiếp cận ở hai góc độ khác nhau về hoạt động của lễ hội trong đời sống xã hội hiện đại. Tại Hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề “Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại” tác giả Lê Hữu Tầng phát biểu như sau: Người coi hội là chính thì khẳng định phải gọi là hiện tượng đang được xét là hội lễ mới đúng.

Người coi lễ là chính lại khẳng định ngược lại: phải gọi nó là lễ hội mới đúng. Cũng có ý kiến cho rằng lễ và hội là hai yếu tố giữ vai trò then chốt, tạo nên cốt lõi của hội lễ. Thiếu một trong hai yếu tố đó thì hội lễ sẽ không còn là hội lễ nữa. Vì vậy, có thể gọi nó là hội lễ hay lễ hội đều được.

Tác giả Vũ Ngọc Khánh cho rằng: “Lễ hội, cũng gọi là hội lễ, là hình thức sinh hoạt văn hoá xã hội của một tập thể, một tổ chức thuộc giới, nghề, ngành hoặc tôn giáo trong phạm vi một địa phương hoặc trong cả nước” [27, tr. Theo Điều 4, Luật Di sản văn hóa thì lễ hội được xem là DSVH phi vật thể. Tác giả Dương Văn Sáu trong cuốn “Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch” đưa ra khái niệm: “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên - thần thánh và con người trong xã hội” [43, tr. Theo tác giả Ngô Đức Thịnh, “Lễ hội là một trong những hiện tượng sinh hoạt văn hóa cổ truyền tiêu biểu của nhiều tộc người ở nước ta cũng như trên thế giới.

Nó là tấm gương phản chiếu khá trung thực đời sống văn hóa của mỗi dân tộc” [49, tr. Tóm lại, lễ hội có nhiều cách diễn đạt khác nhau. Tuy nhiên, có một điểm chung nhất các nhà nhà nghiên cứu đã đưa ra lễ hội bao gồm phần lễ 12 và phần hội đồng thời đây là sự kiện văn hóa của cộng đồng. Những hành vi, nghi thức phần lễ nhằm biểu hiện sự tôn kính, phản ánh ước mơ chính đáng của một cộng đồng mong được thần linh che trở.

Phần hội là hoạt động của nhiều người liên quan đến tín ngưỡng chung của cộng đồng. Giữa lễ và hội cũng khó rạch ròi phân định, trong hội có lễ và trong lễ có hội. Xuất phát từ nhu cầu cuộc sống lễ hội giúp cộng đồng sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật rất đặc trưng vừa hướng về nguồn cội vừa hướng đến sự phát triển và phù hợp với yêu cầu thực tại cuộc sống hiện hữu. Lễ hội truyền thống Theo Điều 4 của Luật Di sản văn hoá, lễ hội truyền thống là bộ phận cấu thành DSVH phi vật thể.

Lễ hội truyền thống là loại hình di sản tiêu biểu trong các loại hình DSVH phi vật thể. Lễ hội truyền thống phản ánh điều kiện, trình độ phát triển kinh tế và sinh hoạt của cộng đồng người trong xã hội. Theo dòng chảy của thời gian, lễ hội tồn tại, phát triển, vừa giữ gìn phong tục, tập quán cổ xưa của các thế hệ cha ông để lại, vừa biến đổi và lựa chọn các giá trị văn hoá qua thời gian. Lễ hội truyền thống có những đặc điểm cơ bản như sau: Lễ hội phản ánh hiện thực khách quan thông qua diễn xướng nguyên hợp và tổng hợp các hình thức nghệ thuật phản ánh quan niệm thẩm mĩ của quần chúng nhân dân.

Phần lớn lễ hội ở nước ta là lễ hội dân gian, là những lễ hội nông nghiệp, sau đó cộng sinh các yếu tố lịch sử - xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ