Tổng quan nghiên cứu

Lễ hội truyền thống là không gian lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc và cố kết cộng đồng sâu sắc. Tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, hệ thống di sản gồm 235 di tích lịch sử - văn hóa cùng 62 lễ hội dân gian thường niên tạo nên nguồn lực văn hóa phong phú. Trong đó, lễ hội Kỳ Phúc tại làng Yên Liêu Thượng, xã Khánh Thịnh là sinh hoạt văn hóa đặc thù của vùng đồng bằng Bắc Bộ, gắn liền với quần thể thờ tự Lục vị Thành hoàng làng cùng 75 đạo sắc phong cổ quý giá. Toàn làng Yên Liêu Thượng hiện có 3.955 nhân khẩu phân bố tại 1.307 hộ gia đình trên tổng diện tích tự nhiên 447,9 ha, tạo nên một cộng đồng cư dân thuần nông gắn bó lâu đời.

Trong bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa, công tác quản lý lễ hội tại địa phương đang đứng trước nhiều thách thức lớn. Việc dung hòa giữa bảo tồn tính thiêng truyền thống với việc thực hiện nếp sống văn minh đô thị, ngăn chặn các hiện tượng thương mại hóa, biến tướng nghi lễ và bảo đảm an ninh trật tự đòi hỏi phải có cơ chế quản lý khoa học. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng quản lý lễ hội Kỳ Phúc giai đoạn 2015 - 2018, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và phát huy quyền tự quản của cộng đồng.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc định hình mô hình quản lý lễ hội cấp làng xã chuẩn mực, hướng tới mục tiêu giảm 100% các hành vi phản cảm trong lễ hội, nâng cao tỷ lệ người dân thực hiện nếp sống văn minh đạt trên 95% và bảo tồn nguyên vẹn 100% không gian di tích lịch sử liên quan.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết quản lý nhà nước về văn hóa kết hợp cùng lý thuyết cấu trúc lễ hội dân gian truyền thống của các học giả Bùi Hoài Sơn và Ngô Đức Thịnh. Mô hình nghiên cứu phân tích mối quan hệ tương tác giữa 2 chủ thể chính: chủ thể quản lý nhà nước (Phòng Văn hóa - Thể thao huyện Yên Mô, Ủy ban nhân dân xã Khánh Thịnh) và chủ thể thực hành lễ hội (Ban khánh tiết và cộng đồng nhân dân làng Yên Liêu Thượng).

Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm then chốt:

  1. Di sản văn hóa phi vật thể: Sản phẩm tinh thần mang giá trị lịch sử, văn hóa được lưu truyền qua nhiều thế hệ theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
  2. Quản lý lễ hội truyền thống: Sự can thiệp, điều tiết bằng công cụ pháp luật và chính sách của Nhà nước theo Thông tư số 15/2015/TT-BVHTTDL nhằm duy trì trật tự và phát huy giá trị di sản.
  3. Tính thiêng trong lễ hội: Trạng thái tâm linh tôn nghiêm phản ánh niềm tin của cộng đồng vào thần linh hộ quốc tý dân.
  4. Tự quản cộng đồng: Năng lực của người dân địa phương trong việc tự tổ chức, thực hành và giám sát các sinh hoạt tín ngưỡng làng xã.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp liên ngành giữa Quản lý văn hóa, Lịch sử, Văn hóa dân gian và Xã hội học văn hóa. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp khảo sát điền dã và phỏng vấn sâu với cỡ mẫu 45 cá nhân trong giai đoạn 2017 - 2018. Mẫu khảo sát được lựa chọn theo phương pháp phân tầng đại diện cho 4 nhóm đối tượng: 5 cán bộ quản lý văn hóa cấp huyện và xã, 11 thành viên trong Ban khánh tiết làng, 15 nghệ nhân - bô lão cao niên và 14 người dân cùng du khách thập phương.

Lý do lựa chọn phương pháp phỏng vấn sâu kết hợp quan sát tham dự trực tiếp tại 2 kỳ lễ hội năm 2017 và 2018 là nhằm ghi nhận chân thực các xung đột trong phân cấp quản lý, cơ chế tài chính công đức và thực tế tổ chức tế Thọ. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ 15 văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương, 8 báo cáo chuyên môn của Sở Văn hóa - Thể thao tỉnh Ninh Bình và Phòng Văn hóa - Thể thao huyện Yên Mô từ năm 2015 đến năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức độ tham gia và sức mạnh cố kết cộng đồng đạt quy mô rất lớn. Lễ rước ngày 14 tháng 2 âm lịch thu hút hơn 2.000 người tham gia diễu hành trên cung đường dài gần 5 km qua các điểm di tích Đền Tam Thánh, Đền Mẫu và Đài tưởng niệm liệt sĩ. Tỷ lệ dân làng trực tiếp tham gia các hoạt động lễ hội đạt trên 50% tổng dân số 3.955 nhân khẩu của địa phương.

Thứ hai, bộ máy quản lý lễ hội còn cồng kềnh và mang tính lâm thời. Ban Chỉ đạo lễ hội do Ủy ban nhân dân xã Khánh Thịnh ban hành quyết định thành lập năm 2018 gồm tới 58 thành viên và phân chia thành 7 tiểu ban chuyên trách (Tổ chức 3 người, Nhân lực 7 người, Hành lễ 3 người, Kinh tế 3 người, Hội 3 người, Văn nghệ 2 người, Tiếp khách 4 người cùng đại diện các xóm). 100% thành viên hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, dẫn đến tình trạng thiếu tính chủ động và chưa ban hành báo cáo tổng kết bằng văn bản sau mỗi mùa hội.

Thứ ba, sự xung đột giữa khung thời gian pháp lý và tập tục truyền thống. Theo quy định cho phép của địa phương, lễ hội chỉ diễn ra trong 2 ngày (14 và 15 tháng 2 âm lịch). Tuy nhiên, trên thực tế dân làng vẫn duy trì ngày 16 tháng 2 để tổ chức nghi lễ Tế Thọ cho các bô lão từ 60 tuổi trở lên với Đội tế Nữ quan gồm 12 người thực hiện 5 tuần tế nghiêm cẩn.

Thảo luận kết quả

Thực trạng quản lý lễ hội Kỳ Phúc phản ánh sự chuyển dịch từ mô hình bao cấp sang mô hình kết hợp giữa quản lý hành chính nhà nước và tự quản cộng đồng. Nguyên nhân cốt lõi giúp lễ hội duy trì sự trang trọng là nhờ nền tảng văn hóa bền vững của làng Yên Liêu Thượng – đơn vị từng đạt chuẩn nông thôn mới năm 2017 và có bề dày thành tích lao động sản xuất từ năm 1968.

Tuy nhiên, việc tổ chức ngày Tế Thọ vào ngày 16 tháng 2 cho thấy sự lúng túng của chính quyền cơ sở trong việc thực hiện Thông tư số 15/2015/TT-BVHTTDL và Chỉ thị số 06/CT-TTg năm 2017. Toàn bộ dữ liệu về nguồn thu - chi tiền công đức, cơ cấu nhân sự của 7 tiểu ban và quy mô 235 di tích toàn huyện Yên Mô có thể được chuẩn hóa qua các bảng thống kê và biểu đồ phân bổ nguồn lực để cơ quan quản lý dễ dàng giám sát, thay vì quản lý theo kinh nghiệm truyền miệng như trước đây.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện và tinh gọn bộ máy tổ chức lễ hội. Ủy ban nhân dân xã Khánh Thịnh cần chuyển đổi mô hình từ Ban Chỉ đạo lâm thời sang thành lập Ban Tổ chức lễ hội chính thức theo đúng quy định tại Điều 6 Thông tư số 15/2015/TT-BVHTTDL. Cần rút gọn số lượng thành viên từ 58 người xuống còn 20 - 25 người chuyên trách, phân định rõ trách nhiệm của Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Yên Thượng và Trưởng Ban khánh tiết, hoàn thành trước quý 4 hàng năm.

Thứ hai, chuẩn hóa công tác quản lý tài chính và xã hội hóa. Ban Tổ chức cần thành lập tổ giám sát nguồn thu công đức và tiền giọt dầu gồm 3 bên: đại diện Ủy ban nhân dân xã, Ban khánh tiết và đại diện nhân dân. Phấn đấu 100% các khoản thu chi từ nguồn đóng góp của hơn 1.307 hộ dân và con em xa quê phải được lập sổ sách kế toán, công khai minh bạch tại bảng tin nhà văn hóa trong vòng 7 ngày sau khi kết thúc lễ hội.

Thứ ba, bảo vệ cảnh quan di tích và đảm bảo vệ sinh môi trường. Phòng Văn hóa - Thể thao huyện Yên Mô chủ trì phối hợp với xã xây dựng hồ sơ khoa học xếp hạng di tích lịch sử cho Đình làng Yên Liêu Thượng và bảo quản 75 đạo sắc phong cổ trước năm 2020. Đồng thời, bố trí 100% thùng rác lưu động trên tuyến đường rước kiệu 5 km và khu vực sân đình, xử lý dứt điểm tình trạng rác thải tồn đọng.

Thứ tư, đẩy mạnh tuyên truyền nếp sống văn minh và dung hòa nghi thức tế Thọ. Ban Văn hóa - Thông tin xã cần xây dựng đề án công nhận chính thức ngày tế Thọ 16 tháng 2 như một cấu phần văn hóa truyền thống hợp pháp trong kế hoạch mở hội 3 ngày gửi cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, xóa bỏ hoàn toàn hiện tượng tổ chức chưa chính thức.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là cán bộ quản lý văn hóa tại Phòng Văn hóa - Thể thao các huyện và công chức Văn hóa - Xã hội cấp xã. Nhóm này có thể ứng dụng các giải pháp về tinh gọn bộ máy Ban Tổ chức 7 tiểu ban và quy trình quản lý lễ hội làng theo đúng Thông tư 15/2015/TT-BVHTTDL.

Nhóm thứ hai là các thành viên Ban khánh tiết, Ban quản lý di tích và các vị cao niên tại các làng xã đồng bằng Bắc Bộ. Đây là tài liệu thực tiễn giúp xây dựng kế hoạch rước kiệu an toàn, tổ chức Đội tế Nữ quan 12 người và điều hành nghi thức Tế Thọ văn minh, tiết kiệm.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý văn hóa, Văn hóa học và Di sản học. Luận văn cung cấp case study thực chứng điển hình về việc giải quyết xung đột giữa quy định hành chính nhà nước và sinh hoạt văn hóa tâm linh của hơn 3.900 người dân.

Nhóm thứ tư là các nhà hoạch định chính sách văn hóa cấp tỉnh. Nghiên cứu cung cấp cứ liệu thực tiễn giúp tỉnh Ninh Bình hoàn thiện việc triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TU về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Ninh Bình đáp ứng yêu cầu hội nhập.

Câu hỏi thường gặp

Lễ hội Kỳ Phúc làng Yên Liêu Thượng có điểm gì đặc biệt so với các lễ hội khác tại Ninh Bình? Điểm độc đáo nổi bật nhất là nghi thức Tế Thọ diễn ra ngày 16 tháng 2 âm lịch dành cho các bô lão từ 60 tuổi trở lên. Nghi thức do Đội tế Nữ quan gồm 12 người thực hiện qua 5 bài văn tế chúc phúc, thể hiện đạo lý hiếu nghĩa với người đang sống chứ không chỉ phụng thờ thần linh.

Vì sao cơ cấu Ban Chỉ đạo lễ hội gồm 58 người lại bộc lộ hạn chế trong quản lý? Cơ cấu 58 người quá đông, phân tán quyền hạn và 100% cán bộ hoạt động theo hình thức kiêm nhiệm. Khi phát sinh các sự cố về an ninh trật tự hoặc dịch vụ phát sinh trên cung đường rước 5 km, việc điều hành thiếu tính linh hoạt và không có báo cáo tổng kết chính thức bằng văn bản gửi cấp trên.

Nguồn kinh phí tổ chức lễ hội Kỳ Phúc được quản lý và huy động từ đâu? Kinh phí lễ hội được vận hành qua nguồn xã hội hóa từ 1.307 hộ dân trong làng, con em quê hương đi làm ăn xa tại các tỉnh phía Nam và tiền công đức, giọt dầu tại di tích. Tiểu ban Kinh tế gồm 3 thành viên chịu trách nhiệm thu gom và chi trả cho công tác trang trí, đón tiếp hơn 2.000 người tham dự.

Quy định pháp luật hiện hành nào điều chỉnh trực tiếp công tác tổ chức lễ hội Kỳ Phúc? Hoạt động quản lý lễ hội chịu sự điều chỉnh của Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi năm 2009), Thông tư số 15/2015/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chỉ thị số 06/CT-TTg năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 03/2015/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình.

Giải pháp nào giúp giải quyết triệt để vấn đề thời gian tổ chức lễ hội 2 ngày hay 3 ngày? Ủy ban nhân dân xã Khánh Thịnh cần phối hợp với Ban khánh tiết lập tờ trình đề nghị Phòng Văn hóa - Thể thao huyện phê duyệt thời gian tổ chức lễ hội chính thức đủ 3 ngày (từ 14 đến 16 tháng 2 âm lịch). Việc này giúp hợp thức hóa nghi lễ tế Thọ truyền thống của 12 nữ quan vào khuôn khổ quản lý công khai, minh bạch.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý lễ hội truyền thống cấp cơ sở theo chuẩn mực khoa học Quản lý văn hóa.
  • Phân tích rõ thực trạng công tác quản lý tại làng Yên Liêu Thượng với sự tham gia của hơn 2.000 người dân, làm nổi bật giá trị của 75 đạo sắc phong và nghi lễ tế Thọ độc đáo.
  • Chỉ ra 3 nút thắt cơ bản: bộ máy 58 thành viên cồng kềnh, công tác kiểm tra báo cáo chưa định kỳ và sự lệch pha giữa thời gian cấp phép 2 ngày với thực tế tổ chức 3 ngày.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm hoàn thiện tổ chức bộ máy, minh bạch tài chính công đức và nâng cấp xếp hạng di tích lịch sử trước năm 2020.
  • Khuyến nghị các cơ quan quản lý văn hóa cấp huyện và cộng đồng địa phương nhanh chóng ứng dụng khung giải pháp của luận văn để bảo tồn bền vững di sản văn hóa dân tộc trong giai đoạn mới.