Tổng quan nghiên cứu
Nghệ thuật hát Xẩm là một di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc, phản ánh sâu sắc tâm tư, đạo lý và đời sống của người lao động Việt Nam qua nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, trước áp lực của đô thị hóa và xu thế toàn cầu hóa, ước tính trên 85% không gian diễn xướng dân gian truyền thống của hát Xẩm tại các vùng châu thổ Bắc Bộ đã dần bị mai một. Tỉnh Ninh Bình với diện tích tự nhiên rộng lớn, mật độ dân số trung bình khoảng 657 người/km2 tại 144 xã, phường thuộc 2 thành phố và 6 huyện, được coi là một trong những cái nôi lưu giữ nghệ thuật Xẩm cổ truyền gắn liền với tên tuổi của nghệ nhân Hà Thị Cầu – người đã dành hơn 60 năm cuộc đời cống hiến cho cây đàn nhị và làn điệu Xẩm quê hương.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu cấp bách bảo tồn một loại hình nghệ thuật đang đứng trước nguy cơ thất truyền và đòi hỏi khai thác, phát huy giá trị di sản phục vụ phát triển kinh tế, du lịch bền vững. Luận văn xác định mục tiêu cụ thể gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý và bảo tồn di sản; đánh giá toàn diện thực trạng công tác bảo tồn, phát huy giá trị hát Xẩm trên địa bàn tỉnh; đồng thời xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả quản lý văn hóa.
Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung trọng điểm tại thành phố Ninh Bình và huyện Yên Mô – 2 địa bàn duy nhất trong tỉnh còn duy trì hoạt động truyền dạy và thực hành diễn xướng. Phạm vi thời gian được xác lập từ tháng 2 năm 2012 đến tháng 6 năm 2018, gắn liền với quá trình triển khai Đề án số 04/ĐA-UBND ban hành ngày 14/11/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp luận cứ xác đáng giúp gia tăng tỷ lệ nhận diện di sản Xẩm trong cộng đồng lên trên 70% và đề xuất cơ chế tích hợp di sản vào chuỗi sản phẩm du lịch địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết bảo tồn di sản văn hóa với 3 trường phái tiêu biểu: quan điểm bảo tồn nguyên trạng của Gregory J. Ashworth khởi nguồn từ thập niên 1850, quan điểm bảo tồn kế thừa và lý thuyết bảo tồn thích ứng phát triển. Trong bối cảnh nghệ thuật biểu diễn dân gian luôn biến đổi theo môi trường xã hội đương đại, nghiên cứu lựa chọn mô hình bảo tồn kế thừa kết hợp bảo tồn phát triển làm khung phân tích chủ đạo. Lý thuyết này khẳng định di sản cần được xem là nguồn vốn xã hội mang song song 2 giá trị cốt lõi: giá trị tinh thần nhân văn và giá trị kinh tế vật chất.
Khung lý thuyết của công trình được hoàn thiện dựa trên hệ thống 4 khái niệm nền tảng: Văn hóa, Di sản văn hóa phi vật thể (theo Luật Di sản văn hóa năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009 và Công ước UNESCO năm 2003), Quản lý nhà nước về di sản văn hóa, và Phát huy giá trị di sản. Nghiên cứu cũng căn cứ vào các văn bản pháp quy quan trọng như Nghị quyết số 33-NQ/TW năm 2014 về xây dựng văn hóa con người Việt Nam, Nghị định số 98/2010/NĐ-CP, Nghị định số 62/2014/NĐ-CP và Nghị định số 109/2015/NĐ-CP quy định chế độ đãi ngộ đối với nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú có hoàn cảnh khó khăn.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát thực địa kết hợp điều tra xã hội học với cỡ mẫu định lượng gồm 150 phiếu hỏi dành cho người dân địa phương và du khách tại các điểm tham quan ở Ninh Bình. Đồng thời, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 45 mẫu định tính bao gồm 15 cán bộ quản lý văn hóa cấp tỉnh và huyện, 10 nghệ sĩ thuộc Nhà hát Chèo Ninh Bình, cùng 20 nghệ nhân và học viên tại các câu lạc bộ hát Xẩm. Phương pháp chọn mẫu theo cụm phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho 2 địa bàn trọng điểm là huyện Yên Mô và thành phố Ninh Bình.
Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu thứ cấp được triển khai thông qua việc khảo cứu hơn 50 ấn phẩm chuyên khảo, đề án, báo cáo tổng kết và các văn bản quy phạm pháp luật trong giai đoạn 2011-2018. Phương pháp so sánh và thống kê mô tả được lựa chọn nhằm đối chiếu mô hình bảo tồn của Ninh Bình với ít nhất 3 địa phương lân cận là Hà Nội, Nam Định và Thanh Hóa. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đảm bảo tính khách quan, đa chiều giữa góc nhìn quản lý nhà nước và tiếng nói của cộng đồng chủ thể di sản trong suốt dòng thời gian 6 năm nghiên cứu từ tháng 2/2012 đến tháng 6/2018.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, luận văn đã hệ thống hóa và xác định chuẩn xác cấu trúc 8 làn điệu Xẩm cốt lõi lưu truyền tại Ninh Bình bao gồm: Xẩm chợ, Thập ân, Chênh bong, Phồn huê, Riềm huê, Ba bậc, Hò bốn mùa và Hát ai, bên cạnh hơn 20 biến thể bài bản kết hợp. Hệ thống nhạc cụ đặc trưng được bảo tồn tương đối hoàn chỉnh với 6 loại nhạc khí cơ bản gồm đàn nhị, đàn gáo, sênh sứa có chiều dài khoảng 14cm, sênh tiền, đàn bầu thân tre dài khoảng 120cm và trống mảnh có tang cao 6cm, mặt da 10cm.
Thứ hai, việc triển khai Đề án số 04/ĐA-UBND từ năm 2011 đến năm 2018 đã tạo bước chuyển biến bước đầu khi thành lập được 2 câu lạc bộ hát Xẩm nòng cốt tại xã Yên Phong (huyện Yên Mô) và thành phố Ninh Bình. Tuy nhiên, số liệu điều tra cho thấy công tác bảo tồn còn mang tính cục bộ: tỷ lệ thanh thiếu niên dưới 25 tuổi tham gia học hát Xẩm chỉ chiếm khoảng 12%, trong khi hơn 80% thế hệ trẻ trên địa bàn ít có cơ hội tiếp cận trực tiếp với làn điệu Xẩm cổ.
Thứ ba, sự kết nối giữa nghệ thuật hát Xẩm và ngành du lịch địa phương còn rất mờ nhạt. Mặc dù Ninh Bình đón hàng triệu lượt khách tham quan mỗi năm, nhưng chưa đầy 3% các tour du lịch lữ hành tại Quần thể danh thắng Tràng An hay Tam Cốc - Bích Động tích hợp điểm dừng chân thưởng thức hát Xẩm, cho thấy sự lãng phí lớn nguồn tài nguyên văn hóa biểu diễn.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân chính của tình trạng trên bắt nguồn từ việc mất dần môi trường diễn xướng tự nhiên như chợ quê, gốc đa, sân đình khi đời sống xã hội chuyển dịch theo hướng hiện đại hóa. Sau khi nghệ nhân Hà Thị Cầu qua đời năm 2013, khoảng trống về thế hệ nghệ nhân truyền dạy trở thành thách thức lớn nhất do chính sách đãi ngộ theo Nghị định số 109/2015/NĐ-CP chưa đủ sức thu hút lớp trẻ theo đuổi nghề bền bỉ. Khi so sánh với mô hình Xẩm tàu điện tại Hà Nội (nơi nghệ thuật Xẩm được sân khấu hóa thành công tại không gian phố đi bộ Hồ Gươm và chợ Đồng Xuân với tần suất biểu diễn định kỳ hàng tuần), công tác bảo tồn tại Ninh Bình vẫn thiếu các điểm trình diễn cố định phục vụ cộng đồng.
Dữ liệu nghiên cứu của luận văn có thể được trực quan hóa thông qua 2 công cụ trình bày tiêu biểu: Bảng ma trận phân tích 8 làn điệu Xẩm theo đặc trưng âm nhạc, nhạc cụ và môi trường diễn xướng; kết hợp Biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu nhận thức của cộng đồng (trong đó 65% người dân đánh giá cao giá trị giáo dục đạo đức của điệu Xẩm Thập ân, nhưng chỉ có khoảng 18% người dân thường xuyên theo dõi các chương trình biểu diễn). Điều này khẳng định hát Xẩm cần được định vị lại thành sản phẩm công nghiệp văn hóa đặc thù thay vì chỉ bảo tồn khép kín trong hồ sơ tư liệu.
Đề xuất và khuyến nghị
Để nâng cao chất lượng bảo tồn và phát huy giá trị hát Xẩm tại Ninh Bình, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược với lộ trình triển khai cụ thể:
Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế chính sách và chế độ đãi ngộ nghệ nhân. Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình và Sở Văn hóa và Thể thao cần ban hành quy chế hỗ trợ tài chính định kỳ hàng tháng (tương đương khoảng 1 đến 2 lần mức lương cơ sở) cho các nghệ nhân truyền dạy, đồng thời áp dụng hiệu quả Nghị định số 62/2014/NĐ-CP để xét tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú, Nghệ nhân nhân dân cho các nghệ nhân dân gian tiêu biểu trong giai đoạn 2019-2022.
Thứ hai, đa dạng hóa không gian diễn xướng và gắn kết chặt chẽ với du lịch di sản. Sở Du lịch phối hợp cùng các doanh nghiệp lữ hành thiết lập tối thiểu 3 không gian biểu diễn cố định tại Cố đô Hoa Lư, bến thuyền Tràng An và đền vua Đinh - vua Lê, phấn đấu đạt chỉ tiêu 25% các tour du lịch văn hóa có lồng ghép tiết mục hát Xẩm từ 15 đến 20 phút trước năm 2025.
Thứ ba, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực và đưa hát Xẩm vào trường học. Nhà hát Chèo Ninh Bình chủ trì phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức các lớp tập huấn cho 100% giáo viên âm nhạc tại các trường Tiểu học và THCS trên địa bàn huyện Yên Mô, duy trì ít nhất 2 buổi ngoại khóa âm nhạc dân gian mỗi học kỳ trong giai đoạn 2020-2025.
Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong tuyên truyền và lưu trữ tư liệu. Trung tâm Văn hóa tỉnh cần hoàn thành việc số hóa 100% băng ghi âm, ghi hình của cố nghệ nhân Hà Thị Cầu, xây dựng kho dữ liệu trực tuyến về 8 làn điệu Xẩm cổ truyền và phát hành các ấn phẩm truyền thông số tiếp cận tối thiểu 50.000 lượt người xem mỗi năm trên các nền tảng số.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật và thực tiễn có giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:
Thứ nhất, cán bộ quản lý nhà nước tại Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Du lịch, Phòng Văn hóa - Thông tin các huyện và thành phố. Nhóm đối tượng này có thể sử dụng các kết quả nghiên cứu và hệ thống 4 nhóm giải pháp làm căn cứ thực tiễn để xây dựng, điều chỉnh các đề án bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương giai đoạn 2021-2030.
Thứ hai, giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Quản lý văn hóa, Văn hóa học, Âm nhạc học và Di sản học. Luận văn cung cấp khung lý thuyết vững chắc về 3 quan điểm bảo tồn của Ashworth cùng bộ dữ liệu khảo sát thực địa gồm 195 mẫu để phục vụ việc trích dẫn, đối chiếu và phát triển các đề tài nghiên cứu liên quan.
Thứ ba, các doanh nghiệp lữ hành, công ty phát triển sản phẩm du lịch và ban quản lý các khu di tích tại Ninh Bình. Luận văn gợi mở mô hình kinh doanh du lịch văn hóa bền vững, giúp thiết kế các tour trải nghiệm diễn xướng dân gian mang lại mức tăng trưởng doanh thu từ 15% đến 20% cho sản phẩm tour truyền thống.
Thứ tư, các nghệ sĩ, nhạc sĩ, ban chủ nhiệm câu lạc bộ nghệ thuật truyền thống. Nhóm này có thể khai thác tư liệu chi tiết về 8 làn điệu Xẩm cổ truyền, cấu trúc nhạc khí và phương pháp dàn dựng tiết mục nhằm phục vụ công tác truyền dạy, phục dựng làn điệu nguyên bản và sáng tác tác phẩm mới.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao tỉnh Ninh Bình được khẳng định là cái nôi tiêu biểu của nghệ thuật hát Xẩm Việt Nam?
Ninh Bình là vùng đất Cố đô nghìn năm văn hiến, nơi sản sinh và lưu giữ nhiều thế hệ nghệ nhân Xẩm kiệt xuất, tiêu biểu là nghệ nhân Hà Thị Cầu tại huyện Yên Mô với hơn 60 năm gắn bó cùng cây đàn nhị. Tỉnh cũng là địa phương tiên phong ban hành Đề án số 04/ĐA-UBND năm 2011 nhằm phục hồi bài bản các làn điệu Xẩm cổ.
Nghệ thuật hát Xẩm truyền thống gồm những làn điệu cốt lõi nào?
Theo hệ thống phân loại của các nghệ nhân Ninh Bình, hát Xẩm gồm 8 làn điệu chính: Xẩm chợ, Thập ân, Chênh bong, Phồn huê, Riềm huê, Ba bậc, Hò bốn mùa và Hát ai. Đến đầu thế kỷ 20, dòng Xẩm tàu điện được sáng tạo thêm, kết hợp cùng hơn 20 bài bản giao thoa phong phú giữa các điệu thức dân ca.
Thách thức lớn nhất trong việc bảo tồn hát Xẩm tại Ninh Bình giai đoạn 2012-2018 là gì?
Thách thức lớn nhất là sự thiếu hụt thế hệ kế cận sau khi các nghệ nhân gạo cội qua đời, thể hiện qua tỷ lệ thanh thiếu niên tham gia câu lạc bộ chỉ đạt khoảng 12%. Bên cạnh đó, không gian diễn xướng tự nhiên bị thu hẹp và nguồn kinh phí hỗ trợ nghệ nhân theo Nghị định số 109/2015/NĐ-CP còn hạn chế.
Luận văn đề xuất mô hình bảo tồn nào là phù hợp nhất cho hát Xẩm hiện nay?
Luận văn khẳng định mô hình bảo tồn kế thừa kết hợp bảo tồn thích ứng phát triển là tối ưu nhất. Phương thức này không đóng khung di sản trong bảo tàng mà chủ động đưa Xẩm vào đời sống đương đại, lồng ghép vào hệ thống giáo dục học đường và chuyển hóa thành sản phẩm du lịch có giá trị kinh tế.
Làm thế nào để gắn kết nghệ thuật hát Xẩm với phát triển du lịch Ninh Bình hiệu quả?
Cần xây dựng tối thiểu 3 sân khấu biểu diễn định kỳ tại các điểm du lịch trọng điểm như Tràng An, Tam Cốc và Cố đô Hoa Lư với thời lượng 15 đến 20 phút mỗi suất diễn. Đồng thời, ngành du lịch cần liên kết với các đơn vị lữ hành để đưa nghệ thuật hát Xẩm vào chương trình của ít nhất 25% đoàn khách.
Kết luận
Nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa hát Xẩm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đem lại 5 đóng góp khoa học và thực tiễn quan trọng:
- Hệ thống hóa toàn diện nguồn gốc, đặc trưng âm nhạc và cấu trúc 8 làn điệu Xẩm cổ truyền tại vùng đất Ninh Bình.
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý di sản, khẳng định tính ưu việt của mô hình bảo tồn kế thừa và phát triển thích ứng.
- Đánh giá khách quan thực trạng 6 năm thực hiện Đề án số 04/ĐA-UBND giai đoạn 2012-2018 qua bộ dữ liệu khảo sát 195 mẫu.
- Nhận diện chính xác các điểm nghẽn về không gian diễn xướng, thế hệ kế cận và sự thiếu hụt liên kết với hoạt động du lịch.
- Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp khả thi với mục tiêu đưa Xẩm vào 100% trường học tại Yên Mô và 25% tour du lịch trọng điểm.
Về lộ trình tiếp theo, các cơ quan chức năng cần khẩn trương hoàn thành việc số hóa tư liệu di sản trong giai đoạn 2020-2022 và định hình chuỗi sản phẩm du lịch văn hóa bền vững đến năm 2030. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp lữ hành hãy cùng chung tay hành động để bảo tồn và lan tỏa giá trị độc đáo của nghệ thuật hát Xẩm Ninh Bình trong đời sống đương đại.