Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA HÁT XẨM, TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm, thuật ngữ 1. Văn hóa Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình, biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định. Để hiểu về khái niệm văn hóa đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó có những định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [40, tr. Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một; nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật… Có người ví, định nghĩa này mang tính “bách khoa toàn thư” vì đã liệt kê hết mọi lĩnh vực sáng tạo của con người [12, tr. Hồ Chí Minh cho rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [25, tr.
Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng. Mỗi định nghĩa đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa và văn hóa là sản phẩm do con người tạo ra trong quá trình lao động nhằm mục đích sinh tồn. Di sản văn hóa Trong Điều 1 của Luật Di sản văn hóa : “Di sản văn hóa gồm DSVH vật thể và DSVH phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [22, tr. Như vậy “Di sản văn hóa được khái quát lại là tổng thể những tài sản văn hóa truyền thống trong hệ thống giá trị của nó, được chủ thể nhận biết và đưa vào sử dụng nhằm đáp ứng những nhu cầu và đòi hỏi của hiện tại” [38, tr.
Di sản văn hoá vật thể Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam - thắng cảnh và di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia. Luật Di sản văn hóa năm 2002 quy định: “Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam, thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [27, tr. Di sản văn hóa vật thể là các giá trị văn hóa tồn tại trong một bộ phận của văn hoá nhân loại, thể hiện đời sống tinh thần của con người dưới hình thức vật chất; là kết quả của hoạt động sáng tạo, biến những vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật có giá trị sử dụng và thẩm mĩ nhằm phục vụ cuộc sống con người. Văn hóa vật thể quan tâm nhiều đến chất lượng và đặc điểm của đối tượng thiên nhiên, đến hình dáng vật chất, khiến những vật thể và chất liệu tự nhiên thông qua sáng tạo của con người biến thành những sản phẩm vật chất giúp cho cuộc sống của con người.
Di sản văn hóa vật thể được con người nhận thức, cảm nhận bằng nhiều giác quan vì vậy nó cũng dễ dàng được đánh giá hơn. Nhưng không vì thế mà ta đánh giá thấp vai trò và yêu cầu việc bảo tồn, gìn giữ di sản văn hóa vật thể của dân tộc nói riêng và nhân loại nói chung. Di sản văn hóa phi vật thể Khoản 1 điều 2 mục I Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO năm 2003 đã ghi nhận Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kĩ năng và kèm theo đó là những công cụ đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng, các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người.
Vì những mục đích của Công ước này, chỉ xét đến những di sản văn hóa phi vật thể phù hợp với các văn kiện quốc tế hiện hành về quyền con người, cũng như những yêu cầu về sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng, các nhóm người và cá nhân, và về phát triển bền vững” [39]. Trong khái niệm này, UNSECO đã cố gắng cụ thể hóa tính trừu tượng của di sản văn hóa phi vật thể bằng việc định dạng một số biểu hiện của di sản văn hóa phi vật thể như tập quán, biểu đạt tri thức, kỹ năng, các công cụ đồ vật, đồ tạo tác, các không gian văn hóa có liên quan… Những biểu hiện này được ví như hình thức chứa đựng di sản văn hóa phi vật thể. Đó cũng chính là phần cốt lõi bên trong, chính là phần hồn của di sản văn hóa phi vật thể mà UNESCO ghi nhận dưới khía cạnh ý nghĩa đối với cộng đồng. Di sản văn hóa phi vật thể phải có sự gắn bó chặt chẽ với đời sống tinh thần của cộng đồng, được lưu truyền, tái tạo để tạo nên bản sắc của mỗi cộng đồng và sự đa dạng văn hóa trên thế giới.
13 Luật di sản văn hóa năm 2001 định nghĩa: Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác” [20, tr. Đến khi sửa đổi bổ sung Luật này vào năm 2009 thì cách hiểu về di sản văn hóa phi vật thể đã được khái quát là: “sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [24, tr. Di sản văn hóa phi vật thể được chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ thể ở hữu văn hóa quyết định hình thức và quá trình tồn tại. Trong quá trình con người tìm cách phát triển cuộc sống cả về vật chất và tinh thần của mình, họ sẽ khiến cho di sản văn hóa phát triển theo hướng phục vụ nhu cầu của chính họ.
Vì vậy, di sản văn hóa phi vật thể có thể tồn tại và phát triển lại phụ thuộc hoàn toàn vào chủ thể sáng tạo và cộng đồng dân cư làm ra nó. Hình thức tồn tại hay thể hiện của di sản văn hóa phi vật thể không xác định cụ thể dạng vật thể mà chủ yếu trong tiềm thức của cộng đồng người sáng tạo và lưu giữ nó. Đó có thể là trong trí nhớ, hành vi, ứng xử, tập quán sinh hoạt của con người thông qua các hoạt động sống và giao tiếp hàng ngày. Các dạng thức chính của văn hóa phi vật thể có thể kể tới như sau: 14 - Ngữ văn truyền miệng, như thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, ca dao, thành ngữ, tục ngữ, vè, ngụ ngôn.
- Các hình thức diễn xướng và trình diễn bao gồm các hình thức ca múa, nhạc, sân khấu (nghệ thuật diễn xướng) - Những hành vi ứng xử của con người, đó là ứng xử giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân trong cộng đồng, ứng xử giữa các cộng đồng. - Các hình thức nghi lễ, tín ngưỡng tôn giáo, phong tục, lễ hội như Phật giáo, Ki-tô giáo, đạo giáo, thờ cúng tổ tiên, đạo Mẫu. - Tri thức dân gian cũng là một lĩnh vực của văn hóa phi vật thể. Tri thức dân gian ở chừng mực nào đó còn được hiểu tương ứng với các thuật ngữ như tri thức bản địa, tri thức địa phương.
Các hình thức của nghệ thuật dân gian rất đa dạng và phong phú, nó thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau và có ảnh hưởng lớn đối với con người trong sinh hoạt hàng ngày. Tác phẩm nghệ thuật dân gian được những người nghệ sĩ chuyên và không chuyên dựa trên chính kho tàng văn hóa dân tộc sáng tác nên. Nó thể hiện đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng dân cư nơi nó tồn tại và phát triển,… Chúng mang những đặc trưng khác biệt và những giá trị to lớn như giá trị nhận thức, giá trị nghệ thuật và giá trị giáo dục. Mỗi một cá nhân trong cộng đồng cần chung tay để bảo vệ những tinh hoa văn hóa nhân loại.
Với ý nghĩa như vậy, nghệ thuật hát Xẩm chính là một lĩnh vực của văn hóa phi vật thể. Giá trị Giá trị là khái niệm riêng liên quan trực tiếp đến nhu cầu của cuộc sống con người. Khi một sự vật, sự việc được con người khai thác thì vấn đề đầu tiên người ta quan tâm tới chính là giá trị của nó. Đó có thể là giá trị vật chất, cũng có thể là giá trị tinh thần, nhưng về bản chất thì tính nhân văn sẽ bao quát toàn bộ giá trị đó.