Luận văn thạc sĩ quản lý di tích lịch sử nghệ thuật Khu di tích Phố Hiến - Hoàng Xuân Trường

Tìm hiểu quản lý di tích lịch sử Phố Hiến. Nghiên cứu phương pháp bảo tồn, phát triển du lịch bền vững và giữ gìn giá trị văn hóa khu di tích.

Chuyên ngành

Quản lý văn hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

153
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý di tích lịch sử khu di tích Phố Hiến Hưng Yên

Khu di tích Phố Hiến thuộc thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, là một trong những di tích quốc gia đặc biệt tiêu biểu của Việt Nam. Phố Hiến từng là thương cảng sầm uất bậc nhất Đàng Ngoài vào thế kỷ XVII-XVIII, nơi giao thương của thương nhân Trung Hoa, Nhật Bản, Hà Lan, Anh và Pháp. Khu di tích hiện lưu giữ hàng chục công trình kiến trúc nghệ thuật có giá trị, bao gồm đình, đền, chùa, miếu, nhà thờ và hội quán mang phong cách kiến trúc đa dạng từ Việt, Hoa đến phương Tây. Luận văn thạc sĩ của tác giả Hoàng Xuân Trường, thuộc chuyên ngành Quản lý Văn hóa, Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, được hoàn thành năm 2018 dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Thu Hường. Công trình nghiên cứu hệ thống hóa toàn bộ hiện trạng quản lý, phân tích cơ cấu tổ chức và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn. Đây là tài liệu học thuật quan trọng cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và hoạch định chính sách bảo tồn di sản văn hóa tại địa phương.

1.1. Lịch sử hình thành và vị trí địa lý khu di tích Phố Hiến

Phố Hiến nằm trên địa phận thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, bên bờ sông Hồng. Vùng đất này hình thành từ thế kỷ XVI và phát triển cực thịnh vào thế kỷ XVII-XVIII. Thương cảng Phố Hiến thu hút thương nhân quốc tế, tạo nên sự giao thoa văn hóa độc đáo. Hiện nay khu di tích phân bố trên diện tích rộng, bao gồm nhiều công trình kiến trúc thuộc nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau, từ thời Lê đến thời Nguyễn, phản ánh quá trình phát triển lịch sử liên tục của vùng đất này.

1.2. Phân loại và danh sách di tích trong khu di tích Phố Hiến

Khu di tích Phố Hiến gồm nhiều loại hình công trình đa dạng. Kiến trúc Việt truyền thống có đình Hiến, chùa Nễ Châu, đền Mây, đền Mẫu, đền Trần, đền Kim Đằng và Văn Miếu. Kiến trúc Trung Hoa gồm Đông Đô Quảng Hội, đền Thiên Hậu, chùa Phố. Kiến trúc phương Tây có nhà thờ Thiên Chúa giáo xây từ thế kỷ XVII theo phong cách gô-tích. Mỗi công trình mang đặc trưng nghệ thuật riêng biệt, thể hiện tài năng của nghệ nhân qua các mảng chạm khắc tứ linh, tứ quý, vân xoắn và các đề tài dân gian phong phú.

II. Thực trạng quản lý di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Phố Hiến

Công tác quản lý khu di tích Phố Hiến được thực hiện qua nhiều cấp từ trung ương đến địa phương. Cục Di sản Văn hóa thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giữ vai trò chỉ đạo cấp quốc gia. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hưng Yên chịu trách nhiệm quản lý cấp tỉnh. Phòng Văn hóa và Thông tin thành phố Hưng Yên, Ban Quản lý di tích tỉnh và Ban quản lý Khu di tích quốc gia đặc biệt Phố Hiến phối hợp thực hiện nhiệm vụ tại cơ sở. Các hoạt động quản lý chính bao gồm sưu tầm, nghiên cứu và tư liệu hóa di tích; tuyên truyền phổ biến pháp luật; quy hoạch bảo tồn; tu bổ tôn tạo; quản lý dịch vụ và an ninh trật tự; khai thác phát huy giá trị gắn với du lịch. Tuy nhiên thực tế cho thấy còn nhiều bất cập trong cơ chế phối hợp giữa các cấp, thiếu nhân lực chuyên môn và nguồn kinh phí chưa đáp ứng yêu cầu bảo tồn lâu dài.

2.1. Cơ chế quản lý và phân cấp trách nhiệm tại khu di tích

Hệ thống quản lý di tích Phố Hiến được tổ chức theo mô hình phân cấp rõ ràng. Trung ương ban hành chính sách thông qua Luật Di sản Văn hóa năm 2001, sửa đổi năm 2009, cùng các văn bản pháp luật liên quan. Cấp tỉnh và thành phố chịu trách nhiệm trực tiếp triển khai. Ban quản lý di tích cơ sở đảm nhiệm công tác hàng ngày tại từng công trình. Mô hình này đảm bảo tính thống nhất trong quản lý nhưng đồng thời tạo ra sự chồng chéo về thẩm quyền, làm chậm tiến độ xử lý các vấn đề phát sinh trong thực tiễn bảo tồn.

2.2. Công tác tu bổ tôn tạo và bảo tồn các công trình kiến trúc

Nhiều công trình trong khu di tích Phố Hiến đã được tu bổ qua nhiều giai đoạn. Chùa Nễ Châu và đình Hiến có nhiều lần tu sửa, dẫn đến các mảng chạm khắc mang phong cách Lê-Nguyễn đan xen. Đền Mây, đền Mẫu, đền Trần mang đặc trưng kiến trúc Nguyễn với kiểu tường hồi bít đốc. Các công trình Trung Hoa như Đông Đô Quảng Hội sử dụng nguyên liệu vận chuyển từ tỉnh Phúc Kiến, lợp ngói ống, với mảng chạm khắc tập trung từ Tam quan vào khu nội tự. Công tác tu bổ cần đảm bảo tính nguyên gốc và phù hợp với giá trị lịch sử vốn có.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích Phố Hiến Hưng Yên

Để nâng cao chất lượng quản lý di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật khu di tích Phố Hiến, cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp. Trước tiên, cần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cấp quản lý, xác định rõ trách nhiệm từng đơn vị tránh chồng chéo. Tiếp theo, đầu tư đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về quản lý di tích, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa. Nguồn lực tài chính cần được đa dạng hóa thông qua xã hội hóa, thu hút đầu tư tư nhân và hợp tác quốc tế trong bảo tồn di sản. Ứng dụng công nghệ số trong tư liệu hóa, số hóa di tích và quản lý dữ liệu là xu hướng tất yếu. Khai thác du lịch văn hóa bền vững gắn với giáo dục cộng đồng góp phần tạo nguồn thu tái đầu tư bảo tồn. Công tác thanh tra, kiểm tra định kỳ cần được tăng cường để phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm trong quản lý di tích.

3.1. Hoàn thiện hệ thống pháp lý và cơ chế quản lý di tích

Hệ thống pháp lý về quản lý di tích hiện nay tương đối đầy đủ với Luật Di sản Văn hóa và nhiều luật liên quan như Luật Bảo vệ Môi trường, Luật Đất đai, Luật Du lịch và Luật Tôn giáo tín ngưỡng năm 2016. Tuy nhiên việc áp dụng thực tiễn còn nhiều bất cập. Cần ban hành quy chế quản lý riêng cho khu di tích quốc gia đặc biệt Phố Hiến, quy định cụ thể về phân cấp thẩm quyền, quy trình phê duyệt tu bổ và cơ chế phối hợp giữa các đơn vị liên quan nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ và hiệu quả hơn.

3.2. Phát huy giá trị di tích gắn với phát triển du lịch văn hóa bền vững

Du lịch văn hóa là công cụ quan trọng để phát huy giá trị khu di tích Phố Hiến. Xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù gắn với lịch sử thương cảng, kiến trúc nghệ thuật đa phong cách và lễ hội truyền thống địa phương. Đào tạo hướng dẫn viên am hiểu sâu về di tích, xây dựng hệ thống thuyết minh đa ngữ và ứng dụng công nghệ thực tế tăng cường. Phần trăm doanh thu du lịch cần được trích lại cho quỹ bảo tồn di tích. Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong quản lý và phát triển du lịch tạo ra mô hình bảo tồn gắn với sinh kế bền vững.

IV. Kết luận và ý nghĩa nghiên cứu quản lý di tích Phố Hiến

Luận văn thạc sĩ về quản lý di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật khu di tích Phố Hiến, thành phố Hưng Yên đóng góp quan trọng vào nghiên cứu khoa học về quản lý di sản văn hóa Việt Nam. Công trình đã hệ thống hóa toàn diện hiện trạng quản lý, làm rõ những thành tựu đạt được và những tồn tại cần khắc phục. Khu di tích Phố Hiến không chỉ có giá trị lịch sử, văn hóa mà còn mang ý nghĩa kinh tế thông qua phát triển du lịch. Việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, cộng đồng và mỗi người dân. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng chiến lược bảo tồn dài hạn. Các giải pháp đề xuất có tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương và có thể áp dụng cho các khu di tích tương tự trên cả nước. Đây là tài liệu tham khảo thiết thực cho sinh viên, nghiên cứu sinh và những người công tác trong lĩnh vực quản lý văn hóa di sản.

4.1. Đóng góp khoa học của luận văn đối với lĩnh vực quản lý di sản

Luận văn đóng góp về mặt lý luận bằng cách hệ thống hóa khái niệm di tích quốc gia đặc biệt, nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa và cơ sở pháp lý hiện hành. Về thực tiễn, công trình cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng quản lý tại Phố Hiến với số liệu, dẫn chứng cụ thể. Đây là nghiên cứu trường hợp điển hình có giá trị tham chiếu cho các địa phương có di tích quốc gia đặc biệt, đặc biệt những nơi có sự giao thoa nhiều nền văn hóa tương tự Phố Hiến.

4.2. Định hướng nghiên cứu tiếp theo về di tích Phố Hiến Hưng Yên

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào số hóa toàn diện hệ thống di tích Phố Hiến phục vụ lưu trữ và tra cứu. Nghiên cứu so sánh mô hình quản lý Phố Hiến với các thương cảng cổ khác trong khu vực Đông Nam Á như Hội An hay Malacca mở ra hướng tiếp cận mới. Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối với các công trình kiến trúc cổ và xây dựng phương án ứng phó là ưu tiên cấp thiết. Nghiên cứu cộng đồng về mức độ nhận thức và tham gia của người dân địa phương trong bảo tồn di tích cũng là hướng có giá trị thiết thực.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật khu di tích phố hiến thành phố hưng yên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về vấn đề nghiên cứu 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Di sản Di sản theo nghĩa Hán Việt: “di” là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại; “sản” là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị.

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Di sản là cái của thời trước để lại [31, tr. Như vậy, di sản văn hóa được hiểu như là tài sản, là báu vật những gì thuộc về quá khứ, do các thế hệ trước tạo ra và để lại cho cuộc sống hiện tại, gồm các tác phẩm nghệ thuật dân gian, công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc, tác phẩm văn học. Năm 1983 tại Hội nghị Di sản toàn quốc (Anh) đã định nghĩa: “Di sản là những gì thuộc về thế hệ trước giữ gìn và chuyển giao cho thế hệ hiện nay và những gì mà một nhóm người quan trọng trong xã hội hiện nay mong muốn chuyển giao cho thế hệ tương lai”[38, tr. Di sản văn hóa Luật Di sản văn hóa Việt Nam (2001) định nghĩa: “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [24, tr.

Điều 1, Luật Di sản văn hóa Việt Nam năm 2001(sửa đổi, bổ sung năm 2009) được Quốc hội nước CHXHCNVN thông qua số 32/2009/QH12 ngày 18 tháng 6 năm 2009 quy định: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước CHXHCNVN” [25, tr. Giá trị của di sản văn hóa Luật Di sản văn hóa Việt Nam năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đưa ra 3 kiểu giá trị khi xem xét, đánh giá một sản phẩm vật chất, tinh thần của di sản. Đó là: - Giá trị lịch sử: sản phẩm của di sản văn hóa là vật chứng sinh động phản ánh lịch sử quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người, của một quốc gia, dân tộc, một vùng đất. - Giá trị văn hóa: sản phẩm của di sản văn hóa là thông điệp của quá khứ phản ánh sự sáng tạo, nghệ thuật ứng xử, ý thức kỷ luật bản năng, sự khác biệt giữa các nhóm người, các dân tộc không ngừng vươn tới chân, thiện, mỹ.

- Giá trị khoa học: sản phẩm của di sản văn hóa là vật chứng kết tinh tri thức của con người trên các lĩnh vực, phản ánh sự hiểu biết, khám phá của con người về sự vận động của tự nhiên và xã hội; đồng thời phản ánh tài năng sáng tạo của con người. Quản lý Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại, phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận một sự quản lý nào đó. Về nội dung, thuật ngữ “quản lý” có thể hiểu theo nhiều cách diễn đạt khác nhau. Theo nghĩa thông thường trong tiếng Việt thuật ngữ “quản lý” được hiểu là trông nom, sắp đặt công việc hoặc gìn giữ, trông nom, theo dõi.

Nếu hiểu theo cách hiểu của âm Hán Việt thì “quản” là lãnh đạo một việc, “lý” là trông nom, coi sóc. Các nước phương Tây dùng từ “Management” có nghĩa là quản lý, là bàn tay hoặc liên quan đến hoạt động của bàn tay. Từ đó chuyển sang nghĩa là hành động theo một quan điểm tác động để dẫn dắt. 15 Theo Các Mác thì: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” [10, tr.

Nhấn mạnh cho nội dung này ông viết “Tất cả mọi hoạt động trực tiếp hay mọi động cơ chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều đều cần đến sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” [10, tr. Bản chất của quản lý và hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Quản lý là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung.

Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Trình độ xã hội càng cao, yêu cầu quản lý càng lớn và vai trò của quản lý càng tăng. Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở lên phổ biến, nhưng chưa định nghĩa nào thống nhất. Từ những ý nghĩa chung của nhiều định nghĩa, có thể hiểu “Quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định”[18, tr.

Với cách hiểu trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau: Chủ thể quản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể luôn là con người hoặc tổ chức. Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định. Đối tượng quản lý tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý.

Tuỳ theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau. Khách thể quản lý chịu sự tác động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội. 16 Mục tiêu của quản lý là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước. Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp.

Quản lý ra đời chính là nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc. Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại, phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận một sự quản lý nào đó. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Tri Nguyên: Khái niệm quản lý là một lĩnh vực đặc thù của quản lý nói chung. Nhìn chung, như ta đã khái quát ở trên, quản lý là một hoạt động nhằm bảo đảm sự vận hành của một hệ thống, một tổ chức một cách liên tục, đúng chức năng.

Chúng ta cũng nói thường nói đến quản lý với tư cách là một khoa học, trong đó quản lý: Dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát triển các đối tượng khác nhau, quy luật tự nhiên hay xã hội (…) Những hình thức quản lý có ý thức luôn gắn liền với hoạt động có mục tiêu, có kế hoạch của những tập thể lớn hay nhỏ của con người và được thực hiện qua những thể chế xã hội đặc biệt. Mục đích, nội dung, cơ chế và phương pháp quản lý xã hội tùy thuộc vào chế độ chính trị - xã hội [28, tr. Dựa trên các khái niệm của các nhà nghiên cứu chúng ta có thể tiếp cận với khái niệm quản lý như sau: Quản lý chính là việc các chủ thể quản lý dựa trên các chính sách của thể chế chính trị sau đó tiến hành tác động lên khách thể quản lý bằng việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ huy, tiến hành, kiểm soát nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ đề ra. Quản lý văn hóa Trong cuốn Quản lý văn hóa Việt Nam, tác giả Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn (chủ biên) cho rằng: Nhìn chung, chúng ta thường hiểu rằng, 17 quản lý văn hóa là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung [13, tr.

Nhà nước đại diện cho nhân dân xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật cho hoạt động văn hóa. Trong đó, Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân ban hành Hiến pháp và các đạo luật liên quan trực tiếp tới văn hóa. Ví dụ như: Luật Di sản văn hóa, Luật Điện ảnh, Luật Quảng cáo, Luật tôn giáo và tín ngưỡng, Pháp lệnh thư viện…; Chính phủ dựa trên các Luật của Quốc hội ban hành để xây dựng các Nghị định hướng dẫn Luật và các chỉ thị, nghị quyết, nghị định liên quan đến hoạt động văn hóa; VH,TT&DL ban hành các thông tư, quy chế tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho văn hóa phát triển. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thức cho rằng: Quản lý nhà nước về văn hóa là sử dụng quyền lực của nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người khi tham gia vào các lĩnh vực hoạt động văn hóa [43, tr.

Có thể thấy rằng, Nhà nước tiến hành hoạt động quản lý trên tất cả mọi mặt, lĩnh vực của đời sống xã hội. Quản lý nhà nước về văn hóa là một bộ phận nói chung của quản lý và quản lý nhà nước. Tuy nhiên, do những đặc thù của văn hóa, quản lý nhà nước cũng có những đặc điểm riêng quản lý riêng, cụ thể. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta, với việc khuyến khích xã hội hóa văn hóa thì vai trò của Nhà nước lại càng không thể thiếu được, nhằm phát huy những yếu tố tích cực và hạn chế những mặt trái của thị trường, định hướng nền văn hoá được bảo vệ, gìn giữ, phát triển phù hợp mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội.

Quản lý nhà nước về văn hóa phải quán triệt vai trò của văn hóa, làm cho các nhân tố văn hóa gắn 18 kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện. Nền văn hóa chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ