Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU HÀNH VI GIỮ GÌN NGHỀ LÀM BÚN TRUYỀN THỐNG 1.Tổng quan nghiên cứu về hành vi Hành vi dưới góc độ tâm lý học là một vấn đề đã được nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Nghiên cứu về hành vi trên thế giới. - Nghiên cứu về hành vi theo quan điểm của chủ nghĩa hành vi: Năm 1913, thuật ngữ “hành vi” xuất hiện với tư cách là một khái niệm của tâm lý học trong bài báo cáo của J.Watson: “Tâm lý học dưới con mắt của nhà hành vi”. Từ đó cho đến nay, có rất nhiều trường phái tâm lý học nghiên cứu về hành vi.
Những vấn đề lý luận về hành vi của mỗi trường phái tâm lý học còn có sự khác nhau và vì thế chỉ ra cách thức nghiên cứu từng loại hành vi và điều khiển hành vi khác nhau. Thuyết hành vi cổ điển: do nhà tâm lý học người Mỹ J. Watson (1878- 1958) sáng lập, ông cho rằng: ở con người cũng như động vật, hành vi được hiểu là tổng số các cử động bên ngoài nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp ứng lại một kích thích. Tất cả các hiện tượng tâm lý được quy về những phản ứng của cơ thể, chủ yếu là các phản ứng vận động.
Ở thuyết này, tư duy đồng nhất với các động tác 12 z ngôn ngữ, còn cảm giác thì đồng nhất với các thay đổi bên trong cơ thể. Đơn vị của hành vi là mối quan hệ giữa kích thích và phản ứng” [20, tr. Phương pháp cơ bản để nghiên cứu và giải thích hành vi của thuyết cổ điển là công thức: S R Trong đó: + S: Tác nhân kích thích (Stimulation) + R: Phản ứng, sự trả lời (Reaction, Respond) Theo J. Watson,bất kỳ hành vi nào của người hay động vật đều có thể nghiên cứu một cách khách quan theo công thức trên.
Dựa vào công thức này các nhà tâm lý học hành vi thời đó hy vọng có thể điều khiển hành vi và điều khiển con người. Thuyết hành vi cổ điển cho rằng có thể điều khiển hành vi theo phương pháp “thử và sai”: việc giải quyết vấn đề bao giờ cũng bắt đầu từ những hành động lộn xộn, không kết quả, thử và lỗi. Những hành động này được lặp đi lặp lại và đến một lúc nào đó, tất nhiên sẽ xuất hiện hành động đúng có hiệu quả. Nếu như vấn đề sẽ tiếp tục được đặt ra thì trước sau cũng hình thành được một kỹ năng, kỹ xảo nào đó [20].
Thuyết hành vi cổ điển đã có những thành công nổi bật là: - Với cương lĩnh đầu tiên của mình, thuyết hành vi đã tạo nên một không khí khoa học hoàn toàn mới khác hẳn với bộ mặt tâm lý học thời kỳ đầu thế kỷ 20, tức là một nền tâm lý học kiểu mới thoát khỏi tâm lý học nội quan duy tâm. - Do lấy hành vi làm đối tượng nghiên cứu và dùng phương pháp khoa học tự nhiên nên tâm lý học hành vi lần đầu tiên có dáng dấp của một nền tâm lý học khách quan. Sự xuất hiện của tâm lý học hành vi đã làm cho tâm lý học phát triển [20]. Tuy vậy, thuyết hành vi cổ điển vẫn còn nhiều hạn chế: 13 z - Thuyết hành vi xuất phát từ phương pháp luận sai lầm, đó là quan điểm máy móc, sinh vật hoá con người và tâm lý con người.
- Thuyết hành vi đã hoàn toàn phủ nhận tâm lý ý thức con người, hạ thấp con người ngang hàng con vật. Hiểu hành vi là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trước các tác động của kích thích là điều không đúng. Thuyết hành vi mới: Nhìn nhận được những thiếu sót của thuyết hành vi cổ điển, sau này các nhà tâm lý học như: E.Hull dựa trên công thức hành vi cũ đã bổ sung thêm khía cạnh ý thức, đưa ra công thức mới [20]: S M R Trong đó: + S: Kích thích + M: Yếu tố trung gian (kinh nghiệm xã hội, vốn hiểu biết, nhu cầu, thái độ, tri thức, niềm tin…) + R: phản ứng, sự trả lời Công thức của thuyết hành vi mới là: S M R Yếu tố kích Ý thức – Phản ứng thích Yếu tố trả lời trung gian Trong đó: + Yếu tố kích thích: 14 z Gây nên sự hoạt động và làm thúc đẩy hoạt động của con người. Hiệu quả của kích thích tạo nên phụ thuộc vào: loại tác nhân kích thích, cường độ kích thích, tần suất kích thích và thời điểm chịu kích thích cơ thể có nhu cầu gì.
+ Yếu tố trung gian: Bao hàm ý thức (nhận thức, tình cảm, thái độ…). Ý thức của các cá nhân quyết định phản ứng đáp lại của cơ thể. Ý thức của mỗi người không giống nhau, nên cùng một kích thích tác động, các cá nhân có cách xử lý khác nhau, do đó dẫn đến phản ứng đáp lại là phong phú, đa dạng. + Phản ứng trả lời: Nhằm đáp ứng mục đích thích nghi có lợi cho cơ thể, cá nhân thể hiện sự thích nghi đó bằng mọi cách, mọi cố gắng bằng phương tiện sẵn có.
Biểu hiện của phản ứng trả lời là hành động và xúc cảm của con người [20]. Quan niệm về hành vi trong tâm lý học hành vi tạo tác của B.Skinner: Kế thừa tâm lý học hành vi của J.Watson, Skinner cho rằng trong hệ thống hành vi có một loại hành vi tạo tác, chẳng hạn động vật bị rơi vào hoàn cảnh- chiếc lồng do người thực nghiệm tạo ra (gọi là “cái lồng Skinner”) thì thoạt đầu động vật thực hiện một số thao tác (cử động) ngẫu nhiên, có thao tác đúng tức là đi đúng hướng có kích thích được củng cố. Những thao tác này chính là tác động ngược lên có thể nhìn thấy của củng cố. Dù coi môi trường gồm môi trường vật lý, sinh vật, môi trường xã hội hay còn gọi là môi trường văn hoá, thì con người theo quan niệm của Skinner chẳng qua vẫn là cơ thể người mang hành vi được hình thành nhờ có các loại môi trường tác động vào.
Môi trường theo J. Watson có vai trò khơi dậy hành vi , còn theo Skinner có vai trò chọn lọc hành vi ; sự tăng cường các yếu tố phụ thuộc mà môi trường cung cấp sẽ quyết định hành vi nào trở nên mạnh hơn và hành vi nào không [10, tr. Điều này có nghĩa là xác suất, tần số và cường độ xuất hiện hành vi tạo tác hoàn toàn phụ thuộc vào 15 z các yếu tố củng cố và cách thức củng cố từ môi trường. Skinner cho rằng sự khác biệt đầu tiên giữa hành vi có điều kiện với hành vi tạo tác là hành vi có điều kiện xuất hiện nhằm tiếp nhận một kích thích củng cố , còn hành vi tạo tác nhằm tạo ra một kích thích củng cố.
Vì vậy người ta gọi hành vi tạo tác là hành vi được hình thành “trong điều kiện hoá có hiệu lực” nhằm đáp lại kích thích của môi trường một cách tích cực chủ động. Nhờ tiếp cận các điều kiện hoá có hiệu lực mà có thể kiểm soát được các hành vi. Theo Skinner: Cái gọi là sự kiện tâm lý thực ra chỉ là sự kiện sinh lý được dán cho cái nhãn ý thức [10, tr. Như vậy, thuyết hành vi mới đã nghiên cứu hành vi theo phương pháp tiếp cận mới, trong đó hành vi được hiểu là một tổng thể có các yếu tố trung gian làm khâu gián tiếp giữa kích thích và phản ứng.
Tuy nhiên, trong khi giải quyết các vấn đề cơ bản trong lý thuyết của mình, các nhà hành vi mới vẫn dựa theo phương pháp luận của thuyết hành vi cổ điển với cách hiểu con người như là kẻ chứa đựng hành vi theo chủ nghĩa tự nhiên. Do đó thuyết hành vi mới vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế [20]. Tóm lại, các tác giả của Tâm lý học hành vi coi hành vi chỉ đơn thuần là phản ứng trả lời kích thích. Tuy có quan niệm hơi khác nhau về các yếu tố và vai trò của chúng tác động đến hành vi, nhưng đều nhấn mạnh tính quyết định của kích thích đối với hành vi; không thừa nhận có sự tồn tại của tâm lý, ý thức và tác động của nó đối với hành vi người.
Môi trường có vai trò khơi dậy hành vi, cứ có kích thích là có hành vi theo công thức S --> R. Tâm lý, ý thức là cái gì đó vu vơ, vô ích đối với hành vi (J.Watson), môi trường có vai trò chọn lọc hành vi, các yếu tố củng cố và cách thức củng cố từ môi trường quyết định hoàn toàn hành vi tạo tác; các sự kiện tâm lý thực ra chỉ là các sự kiện tâm lý được dán cho cái nhãn ý thức (Skinner). Thêm biến số trung gian M giữa S -->R thành công 16 z thức S – M – R, nhưng M lại phụ thuộc chủ yếu vào môi trường bên ngoài (E. - Nghiên cứu về hành vi theo quan điểm của phân tâm học: Sigmun Freud, đại diện cho trường phái Phân tâm học (1856-1939).
Ông xây dựng lý thuyết tâm lý học để giải thích những hiện tượng trong cuộc sống xã hội và làm căn cứ cho chữa bệnh tâm thần. Theo ông, tâm lý con người được tạo bởi ba khối: Vô thức, ý thức và siêu thức. Ứng với ba khối đó là cái ấy, cái tôi và cái siêu tôi. Đó là các giả thuyết về năng lượng tâm thần, vô thức và cơ cấu đời sống tinh thần [16, tr.
Freud là các cộng sự như Jung, Adler đã kế thừa lý thuyết của Freud để xây dựng trường phái Phân tâm học mới. Về vô thức : Khái niệm vô thức là khái niệm cơ bản trong học thuyết phân tâm của S. Trên cơ sở phân tích những yếu tố thực nghiệm hành vi trong thôi miên, giấc ngủ, giấc mơ, liên tưởng. Khối vô thức là khối bản năng, trong đó bản năng tình dục giữ vị trí trung tâm.
Theo Freud tất cả các hiện tượng tâm hồn được chia ra 2 nhóm: ý thức và vô thức. Vì vậy, cấu trúc tâm lý phải phân ra hai hệ thống ý thức và vô thức. Trong vô thức còn phân ra tiền ý thức. Vô thức là những ham muốn hay những biểu tượng bị dồn nén, kiểm duyệt [16, tr.
Đó là những bản năng hoạt động theo nguyên tắc khoái cảm đòi hỏi sự thỏa mãn ngay lập tức những khát vọng bản năng. Vô thức ngấm ngầm chi phối hành vi của con người. Những hành vi mà con người không thể dùng ý thức can thiệp được, gọi là hành vi sai lạc như lỡ lời, sự quên hay những biểu hiện trong giấc mơ.