Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Triết học (mã số: 92 29 001) với đề tài "Sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình, Việt Nam hiện nay" do nghiên cứu sinh Đinh Thị Thanh Minh thực hiện tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Minh Tâm và TS. Lương Quỳnh Khuê, hoàn thành năm 2023.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Văn hóa giữ vị trí nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực nội sinh và động lực cho sự phát triển bền vững của đất nước theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong 54 dân tộc Việt Nam, người Mường có dân số đông thứ tư (sau người Kinh, Tày, Thái), có chung nguồn gốc với người Việt cổ (người Lạc Việt) và cư trú tập trung đông nhất tại tỉnh Hòa Bình. Trải qua lịch sử, người Mường đã xây dựng hệ giá trị văn hóa vật chất và tinh thần mang bản sắc riêng.
Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình đang biến đổi nhanh chóng. Nhiều giá trị truyền thống có nguy cơ mai một, pha tạp, xuất hiện hiện tượng tiếp thu thiếu chọn lọc văn hóa ngoại lai, trong khi một bộ phận thế hệ trẻ giảm sút sự quan tâm đối với di sản văn hóa tộc người. Sự biến đổi diễn ra từ hình thức bên ngoài (nhà ở, trang phục, ẩm thực, phương tiện sinh hoạt, phong tục tang ma, cưới hỏi, lễ hội) đến các cấu trúc chiều sâu bên trong (chuẩn mực ứng xử, lối sống, quan hệ cộng đồng bản mường và ứng xử với môi trường tự nhiên).
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: phần lớn các công trình trước đây tiếp cận văn hóa Mường từ góc độ dân tộc học, văn hóa học, văn hóa dân gian hoặc xã hội học mang tính mô tả điền dã, khảo sát từng thành tố đơn lẻ hoặc một địa bàn hẹp; chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp, hệ thống và toàn diện sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận về sự biến đổi văn hóa truyền thống, luận án phân tích làm rõ thực trạng biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình hiện nay; từ đó đề xuất hệ thống phương hướng cơ bản và giải pháp nhằm tác động tích cực đến tiến trình biến đổi văn hóa truyền thống của tộc người Mường tại địa phương.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và xác định các vấn đề luận án cần tiếp tục giải quyết.
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình trong giai đoạn hiện nay và các nhân tố quy định, tác động đến sự biến đổi đó.
- Phân tích, đánh giá thực trạng biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình hiện nay, chỉ rõ xu hướng biến đổi, làm rõ nguyên nhân và các vấn đề đặt ra.
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm tác động tích cực vào sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường tại tỉnh Hòa Bình.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình hiện nay.
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Hòa Bình, tập trung vào 4 vùng Mường cổ truyền tiêu biểu gồm Mường Bi (Tân Lạc), Mường Vang (Lạc Sơn), Mường Thàng (Cao Phong), Mường Động (Kim Bôi).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 1986 (thời kỳ Đổi mới bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam) đến nay.
- Phạm vi nội dung: Tiếp cận người Mường với tư cách một tộc người trong cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam, tập trung nghiên cứu 2 phương diện:
- Văn hóa vật chất: Tổ chức xã hội và làng bản; tập quán canh tác; nhà ở truyền thống; ẩm thực truyền thống; trang phục truyền thống.
- Văn hóa tinh thần: Ngôn ngữ; tín ngưỡng truyền thống; lễ hội truyền thống; các tập quán chu kỳ đời người (cưới hỏi, sinh đẻ, nuôi dạy con, tang ma); nghệ thuật dân gian.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng quan hệ thống tư liệu nghiên cứu theo ba nhóm nội dung chính:
1. Nghiên cứu lý luận về văn hóa, văn hóa truyền thống và biến đổi văn hóa
- Zlobin trong "Tư tưởng văn hóa, khái luận về triết học văn hóa" (Hoàng Thu Hương và Dương Công Thao dịch) khẳng định văn hóa là hoạt động sáng tạo có ý nghĩa xã hội của con người, phân biệt văn hóa dạng vật thể hóa và khả năng chủ thể hóa.
- Định nghĩa của UNESCO (Tuyên bố chung về tính đa dạng văn hóa) và nguyên Tổng Giám đốc Federico Mayor tiếp cận văn hóa là hệ thống giá trị, truyền thống, lối sống khẳng định bản sắc riêng biệt của từng dân tộc.
- Quan điểm của Hồ Chí Minh (bản thảo Nhật ký trong tù, 1942 - Mục đọc sách) xác định các thành tố văn hóa gắn liền với nhu cầu sinh tồn và mục đích sống của con người.
- Các nghiên cứu chuyên sâu tại Việt Nam: Trần Ngọc Thêm (Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam), Hoàng Xuân Lương (Văn hóa dân tộc - Một số vấn đề triết học), Hồ Bá Thâm (Văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc), Ngô Đức Thịnh (Giá trị văn hóa Việt Nam - truyền thống và biến đổi; Bảo tồn, làm giàu, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong thời kỳ đổi mới hội nhập), Lương Gia Ban và Nguyễn Thế Kiệt (Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc với việc xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay), Nguyễn Duy Bắc (Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam), Nguyễn Thị Huế (Những xu hướng biến đổi văn hóa các dân tộc miền núi phía Bắc Việt Nam), Mai Văn Hai và Phạm Việt Dũng (Xu hướng biến đổi trong văn hóa và lối sống ở Việt Nam).
2. Nghiên cứu về văn hóa truyền thống của tộc người Mường
- Công trình địa lý nhân văn kinh điển của Jeanne Cuisinier (Người Mường, địa lý nhân văn và xã hội học) khảo sát toàn diện đời sống xã hội, phong tục tang ma, cưới hỏi và thiết chế Lang đạo đầu thế kỷ XIX.
- Các công trình khảo cứu tổng thể: Trần Quốc Vượng (Đôi điều về văn hóa Mường), Vương Anh (Tiếp cận văn hóa bản Mường), Bùi Tuyết Mai (Người Mường ở Việt Nam), Bùi Huy Vọng (Văn hóa Mường một góc nhìn).
- Nghiên cứu văn hóa vật chất: Nguyễn Từ Chi (Hoa văn Mường), Đặng Việt Bích (Hoa văn cạp váy Mường và văn hóa Đông Sơn), Đỗ Thị Hòa (Trang phục các dân tộc thiểu số nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, Tày - Thái, Ka Đai), Hoàng Anh Nhân và Hoàng Thị Hạnh (Văn hóa ẩm thực Mường; Văn hóa ẩm thực của dân tộc Mường và dân tộc Khơ mú).
- Nghiên cứu văn hóa tinh thần, tín ngưỡng và nghệ thuật: Nguyễn Từ Chi (Cõi sống và cõi chết trong quan niệm của người Mường), Nguyễn Ngọc Thanh (Mấy ghi chép về lễ cưới cổ truyền của người Mường; Góp thêm tư liệu dân tộc học về tục chôn cất của người Mường), Đặng Văn Lung, Bùi Thiện, Bùi Văn Ngợi (Mo Mường và nghi lễ tang ma; Đôi điều về nguồn gốc Mo Mường; Mo trong ngày lễ Mường), Bùi Thị Kim Phúc (Nghi lễ Mo trong đời sống tinh thần của người Mường), Bùi Thiện (Diễn xướng Mo trượng Mỡi; Văn hóa dân gian Mường; Dân ca Mường; Tục ngữ, câu đố, trò chơi trẻ em Mường), Kiều Trung Sơn (Cồng chiêng Mường), Cao Sơn Hải (Văn hóa dân gian Mường - Một góc nhìn).
3. Nghiên cứu về văn hóa Mường ở Hòa Bình và sự biến đổi văn hóa
- Khảo cứu địa bàn Hòa Bình: Pierre Grossin (Tỉnh Mường Hòa Bình), Nguyễn Từ Chi/Trần Từ (Người Mường ở Hòa Bình; Người Mường với văn hóa cổ truyền Mường Bi), Nguyễn Ngọc Thanh (Văn hóa truyền thống một số tộc người ở Hòa Bình; Tục cưới xin của người Mường huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình; Bổ sung tư liệu về thiết chế xã hội cổ truyền của người Mường ở Mường Bi, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình), Lưu Huy Chiêm (Ngôi nhà sàn Mường Hòa Bình, xưa và nay), Bùi Chỉ (Văn hóa ẩm thực dân gian Mường Hòa Bình), Đặng Hoàng Hà (Khẩu vị phổ biến của người Mường ở Hòa Bình), Nguyễn Thị Thanh Nga (Người Mường ở Tân Lạc - tỉnh Hòa Bình; Tìm hiểu một số nghề thủ công truyền thống của người Mường ở Tân Lạc - Hòa Bình), Nguyễn Thẩm Thu Hà (Tục lệ cưới xin của Mường ở xóm Đa, xã Tân Mỹ, huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình), Bùi Huy Vọng (Làng Mường ở Hòa Bình; Tang lễ cổ truyền người Mường, bộ 3 tập).
- Nghiên cứu về biến đổi văn hóa thời kỳ đổi mới: Vương Xuân Tình (Các dân tộc ở Việt Nam, tập 1 - nhóm ngôn ngữ Việt - Mường; đề tài Biến đổi về xã hội và văn hóa của người Mường tỉnh Hòa Bình dưới tác động của kinh tế thị trường, 1986 - 2004), Lương Quỳnh Khuê (Bản sắc văn hóa Mường cổ truyền và xu hướng biến đổi hiện nay - Qua khảo sát văn hóa Mường ở tỉnh Hòa Bình), Nguyễn Thị Song Hà (Nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Mường ở Hòa Bình), Nguyễn Thị Hằng (Những biến đổi văn hóa và tính cố kết cộng đồng hiện nay: Nghiên cứu trường hợp dân tộc Mường tại tỉnh Hòa Bình).
| Nhóm hướng nghiên cứu |
Tác giả tiêu biểu |
Phạm vi tiếp cận chính |
Đóng góp và hạn chế đối với đề tài |
| Lý luận văn hóa & biến đổi |
Zlobin, UNESCO, Hồ Chí Minh, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Duy Bắc |
Khái niệm, bản chất, quy luật vận động của văn hóa |
Cung cấp khung lý luận chung nhưng chưa đi sâu vào đặc thù tộc người Mường Hòa Bình |
| Văn hóa truyền thống Mường |
J. Cuisinier, Nguyễn Từ Chi, Bùi Huy Vọng, Bùi Thiện |
Dân tộc học, văn hóa dân gian, khảo sát thực địa |
Mô tả chi tiết từng thành tố văn hóa cổ truyền; thiếu tính so sánh biến đổi đương đại |
| Biến đổi văn hóa Mường Hòa Bình |
Vương Xuân Tình, Lương Quỳnh Khuê, Nguyễn Thị Hằng |
Xã hội học, dân tộc học về tác động kinh tế thị trường |
Phản ánh thực trạng biến đổi cụ thể; chưa khái quát bản chất quy luật dưới lăng kính triết học |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án kế thừa nguồn tư liệu phong phú của các công trình đi trước, đồng thời giải quyết khoảng trống: Phân tích sự biến đổi văn hóa Mường Hòa Bình với tư cách một chỉnh thể cấu trúc vận động theo quy luật khách quan dưới góc độ triết học Mác - Lênin; làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa nhân tố kinh tế - xã hội bên ngoài với quy luật nội tại của văn hóa tộc người; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp triết học - thực tiễn đồng bộ nhằm định hướng sự biến đổi văn hóa theo chiều hướng tích cực.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
- Cơ sở thế giới quan và phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa mới; các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam và các công ước quốc tế của UNESCO về bảo tồn đa dạng văn hóa.
- Khái niệm công cụ:
- Văn hóa: Hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử thông qua hoạt động thực tiễn nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh tồn và phát triển. Tiếp cận triết học, văn hóa phản ánh trình độ phát triển của tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
- Văn hóa truyền thống: Hệ thống các hiện tượng, giá trị, chuẩn mực, khuôn mẫu hành vi, thiết chế xã hội được hình thành lâu đời trong lịch sử, mang tính bền vững tương đối và được trao truyền qua các thế hệ.
- Sự biến đổi văn hóa truyền thống: Quá trình vận động khách quan diễn ra trên cả hai cấp độ vĩ mô (toàn thể hệ thống) và vi mô (từng thành tố), mang tính kế thừa và tiếp biến, phản ánh sự tương tác biện chứng giữa phương thức sản xuất, môi trường sống và hoạt động thực tiễn có ý thức của chủ thể con người.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Nguyên tắc phương pháp luận: Quán triệt các nguyên tắc khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử - cụ thể; kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, thống nhất giữa logic và lịch sử.
- Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu:
- Phân tích, tổng hợp văn bản và tài liệu lý luận.
- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic.
- Phương pháp so sánh đối chiếu giữa các giai đoạn lịch sử và giữa các vùng Mường.
- Phương pháp điền dã dân tộc học, quan sát tham dự và phát vấn điều tra xã hội học tại các huyện trọng điểm của tỉnh Hòa Bình.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Tư liệu sơ cấp: Dữ liệu điều tra điền dã, phỏng vấn sâu nghệ nhân, cán bộ văn hóa và người dân bản địa thu thập tại các vùng Mường ở Hòa Bình.
- Tư liệu thứ cấp: Các công trình nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo, luận văn, luận án đã công bố liên quan đến người Mường và văn hóa Mường.
- Tư liệu cấp ba: Hệ thống văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, các báo cáo tổng kết, nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Hòa Bình và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hòa Bình về công tác bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra đối với luận án
Chương 1 hệ thống hóa và phân tích thành tựu nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước theo 3 mảng lớn: lý luận chung về văn hóa và sự biến đổi văn hóa; văn hóa truyền thống của tộc người Mường; thực trạng biến đổi văn hóa Mường tại Hòa Bình. Chương này chỉ ra rằng các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở mô tả dân tộc học hoặc phân tích xã hội học cục bộ. Trên cơ sở đó, chương 1 xác lập 3 vấn đề cốt lõi mà luận án cần giải quyết: làm rõ cơ sở lý luận triết học về biến đổi văn hóa truyền thống người Mường; khảo sát toàn diện thực trạng biến đổi ở cả hai chiều kích văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần; xác định hệ thống phương hướng, giải pháp mang tính khả thi để điều tiết quá trình biến đổi văn hóa theo hướng tiến bộ.
Chương 2: Lý luận về sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình
Chương 2 luận giải các khái niệm nền tảng và phân tích cấu trúc văn hóa truyền thống của người Mường gắn với điều kiện tự nhiên, lịch sử, kinh tế - xã hội tại Hòa Bình:
- Vị trí và đặc điểm địa bàn: Hòa Bình là vùng đất cổ, là trung tâm cư trú của người Mường với 4 vùng Mường lớn: Mường Bi (Tân Lạc), Mường Vang (Lạc Sơn), Mường Thàng (Cao Phong), Mường Động (Kim Bôi). Tỉnh có diện tích 4.665,53 km², địa hình núi cao chia cắt phức tạp theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, độ cao trung bình vùng tụ cư là 300m, khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm.
- Cấu trúc văn hóa vật chất truyền thống:
- Tổ chức xã hội và làng Mường: Cơ cấu làng (quê, bủng, lũng) gắn với thung lũng, dòng họ phụ quyền. Đơn vị cơ sở là xóm (từ 20-30 đến 50-60 nóc nhà). Thiết chế xã hội cổ truyền vận hành theo chế độ Nhà lang gồm hai đẳng cấp tách biệt: tầng lớp thống trị (dòng họ Lang: Lang cun đứng đầu toàn Mường, Lang đạo, Lang thường) và tầng lớp bị trị gồm các tầng Âu (Âu eng, Âu ụn) và dân thường (nhà nóc / mojl mường).
- Tập quán canh tác: Canh tác lúa nước (trồng lúa nếp nhiều hơn lúa tẻ), kết hợp làm nương rẫy, săn bắn, hái lượm và nghề thủ công (dệt, đan lát). Công cụ lao động thô sơ: cày chìa vôi, bừa đơn răng tre/gỗ, hái gặt, dao quắm.
- Nhà ở truyền thống: Kiến trúc nhà sàn 4 mái 3 tầng mô phỏng hình rùa, phản ánh vũ trụ luận dân gian 3 tầng 4 thế giới. Mặt trên cùng là gác chứa lương thực; sàn nhà chia đôi theo chiều dọc: bên phải (bên ngoài) đặt bàn thờ tổ tiên và tiếp khách, bên trái (bên trong) là gian bếp chính và sinh hoạt gia đình; gầm sàn nhốt gia súc và để nông cụ. Bếp lửa giữ vai trò thiêng liêng gắn với tín ngưỡng thờ thần bếp.
- Ẩm thực truyền thống: Đúc kết qua thành ngữ "cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui". Lương thực chính là cơm nếp đồ hoặc nấu trong ống nứa, ống luồng; cách chế biến dùng chõ, đồ chín, nướng, ủ chua. Mâm cỗ bày trên lá chuối theo hình tròn (tượng trưng cho trời), bao quanh bởi 2 bát canh và 2 gói xôi đối xứng tạo góc vuông (tượng trưng cho đất).
- Trang phục truyền thống: Trang phục nữ gồm 8 bộ phận: mũ (cại mu), yếm (cại yệm / áo báng), áo (cại ạo), váy (cái wặl), cạp váy (klốôc), thắt lưng (cại tênh), khăn thắt áo (cại khăn đẹt ạo), áo chùng (cại ạo chung). Điểm nhấn nghệ thuật là cạp váy dệt gần 40 mô típ hoa văn hình học, động vật mang dấu ấn văn hóa Đông Sơn. Nam giới mặc giản dị; đồ trang sức bạc phổ biến gồm vòng cổ, vòng tay và bộ xà tích gắn hộp thuốc lào, móng vuốt.
- Cấu trúc văn hóa tinh thần truyền thống:
- Ngôn ngữ: Tiếng Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ tộc Môn - Khmer, ngữ hệ Nam Á), gồm 4 phương ngữ chính gắn với 4 vùng Mường lớn. Tiếng nói là phương tiện trao truyền tri thức dân gian truyền miệng (đến năm 2016 bộ chữ viết tiếng Mường Hòa Bình mới được ban hành).
- Tín ngưỡng: Tín ngưỡng đa thần và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên (thờ cả họ nội và họ ngoại; không cúng ngày rằm, mùng 1, không đốt vàng mã; cúng giỗ vào ngày chôn của người mất gần nhất trong dòng họ). Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng tại đình, quán, miếu (gian giữa thờ Đức Thánh Tản Viên Ba Vì, gian trái thờ Thành hoàng quan lang, gian phải thờ các đào đầm, đào ruộng). Tín ngưỡng vạn vật hữu linh, thờ vật kiêng (kiêng chặt cây si ở Mường Bi, kiêng ăn thịt rùa toàn tỉnh).
- Phong tục và nghi lễ: Nghi lễ Mo Mường trong tang ma là trung tâm sinh hoạt tâm linh; các áng Mo do thầy Mo diễn xướng giải thích vũ trụ quan, dẫn đường linh hồn về quê Mường cổ.
- Các nhân tố tác động đến biến đổi văn hóa: Nhóm nhân tố nội sinh (nhận thức, nhu cầu nội tại của chủ thể người Mường, sự chuyển dịch cơ cấu dân số và lao động) và nhóm nhân tố ngoại sinh (kinh tế thị trường, đô thị hóa, chuyển dịch công nghệ, giao lưu văn hóa quốc tế, chủ trương chính sách của Nhà nước).
| Nhóm thành tố |
Văn hóa truyền thống Mường cổ truyền |
Biểu hiện cốt lõi |
| Văn hóa vật chất |
Tổ chức làng bản, chế độ Nhà lang, nhà sàn hình rùa, canh tác lúa nếp, cỗ lá chuối, trang phục cạp váy |
Tính cố kết dòng họ phụ quyền, sản xuất tự cấp, thẩm mỹ gắn với thiên nhiên và văn hóa Đông Sơn |
| Văn hóa tinh thần |
Tiếng Mường (4 phương ngữ), thờ tổ tiên hai bên nội ngoại, Thành hoàng (Tản Viên), Mo Mường, cồng chiêng |
Vũ trụ luận 3 tầng 4 thế giới, đạo lý uống nước nhớ nguồn, tôn trọng lực lượng tự nhiên |
Chương 3: Thực trạng biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường Hòa Bình hiện nay và một số vấn đề đặt ra
Chương 3 phân tích thực trạng biến đổi văn hóa tại Hòa Bình qua hai mặt tích cực và tiêu cực:
- Thực trạng biến đổi văn hóa vật chất:
- Làng Mường truyền thống chuyển dần sang mô hình thôn xóm nông thôn mới, mở rộng giao thông liên bản; tính cố kết cộng đồng chịu tác động bởi phân hóa kinh tế.
- Nhà sàn truyền thống bằng gỗ, tre, mái gianh giảm mạnh do thiếu nguyên liệu gỗ rừng; xuất hiện xu hướng bê tông hóa, xây nhà sàn khung bê tông hoặc nhà mái bằng, nhà ống kiểu người Kinh.
- Canh tác nông nghiệp chuyển từ tự cấp sang sản xuất hàng hóa, cơ giới hóa thay thế cày chìa vôi, bừa gỗ; giống lúa nếp nương dần thu hẹp, mở rộng cây ăn quả đặc sản (cam Cao Phong, bưởi đỏ Tân Lạc).
- Ẩm thực cỗ lá và rượu cần truyền thống thay đổi do sử dụng men công nghiệp và gia vị chế biến sẵn bày bán trên thị trường.
- Trang phục váy áo Mường truyền thống hầu như không còn mặc thường nhật trong giới trẻ, chỉ sử dụng trong dịp lễ tết, cưới hỏi hoặc hội diễn văn nghệ; kỹ thuật dệt cạp váy thủ công có nguy cơ mai một.
- Thực trạng biến đổi văn hóa tinh thần:
- Ngôn ngữ: Tỷ lệ thế hệ trẻ nói thành thạo tiếng Mường giảm; tiếng Việt được sử dụng phổ biến trong sinh hoạt gia đình và trường học; bộ chữ viết Mường năm 2016 bước đầu đưa vào giảng dạy nhưng độ phủ chưa đồng đều.
- Tín ngưỡng, nghi lễ: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được duy trì nhưng hình thức cúng bái có sự pha trộn văn hóa người Kinh (đốt vàng mã, cúng rằm); nghi lễ tang ma rút ngắn thời gian tổ chức; nghi lễ Mo Mường đứng trước nguy cơ thiếu lực lượng kế cận do số lượng thầy Mo cao tuổi giảm dần.
- Lễ hội và nghệ thuật: Một số lễ hội truyền thống (Lễ hội Khai hạ Mường Bi, Lễ hội Đền Bờ) được phục dựng; nghệ thuật Chiêng Mường được bảo tồn gắn với các sự kiện văn hóa và du lịch cộng đồng.
- Nguyên nhân của sự biến đổi:
- Nguyên nhân kinh tế: Tác động của kinh tế thị trường, chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang dịch vụ, du lịch.
- Nguyên nhân xã hội: Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa làm thay đổi không gian cư trú và cơ cấu ngành nghề.
- Nguyên nhân văn hóa - thông tin: Sự bùng nổ của truyền thông số, internet làm thay đổi thị hiếu thẩm mỹ và lối sống của cư dân bản địa, đặc biệt là thanh thiếu niên.
- Nguyên nhân quản lý: Công tác quản lý văn hóa ở cơ sở có lúc chưa bắt kịp tốc độ biến đổi thực tiễn.
- Những vấn đề đặt ra: Nguy cơ phai nhạt bản sắc văn hóa tộc người; mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo tồn di sản nguyên gốc với nhu cầu nâng cao mức sống hiện đại; nguy cơ thương mại hóa các giá trị tâm linh và lễ hội truyền thống.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp tác động tích cực đến sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình hiện nay
Chương 4 đề xuất quan điểm chỉ đạo và hệ thống giải pháp toàn diện:
- Phương hướng tác động:
- Giữ vững tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển văn hóa; kết hợp hài hòa giữa kế thừa truyền thống và tiếp thu các giá trị văn hóa tiên tiến.
- Gắn kết chặt chẽ giữa bảo tồn di sản văn hóa Mường với phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là du lịch sinh thái, du lịch văn hóa cộng đồng.
- Phát huy vai trò chủ thể sáng tạo và tự quản văn hóa của chính cộng đồng người Mường tại cơ sở.
- Hệ thống giải pháp cụ thể:
- Nâng cao nhận thức: Tăng cường giáo dục truyền thống văn hóa tộc người trong hệ thống trường học phổ thông và các tổ chức đoàn thể; bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ Mường.
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách: Thực hiện hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa dân tộc thiểu số; ban hành chính sách đãi ngộ, tôn vinh nghệ nhân dân gian, thầy Mo, người nắm giữ di sản văn hóa phi vật thể Mo Mường và Chiêng Mường.
- Bảo tồn không gian văn hóa vật thể và phi vật thể: Quy hoạch bảo tồn các làng Mường cổ tiêu biểu; hỗ trợ kinh phí bảo tồn, cải tạo nhà sàn truyền thống; sưu tầm, số hóa các áng Mo, làn điệu dân ca, trò chơi dân gian.
- Phát triển kinh tế gắn với văn hóa: Xây dựng mô hình du lịch cộng đồng (homestay) tại Mường Bi, Mường Động; khôi phục làng nghề dệt thổ cẩm, đan lát truyền thống để tạo sinh kế bền vững cho người dân.
- Đẩy mạnh truyền dạy ngôn ngữ, chữ viết: Nhân rộng việc giảng dạy bộ chữ Mường Hòa Bình trong trường học và các lớp bồi dưỡng cộng đồng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Tiếp cận dưới góc độ triết học Mác - Lênin, luận án làm rõ bản chất của văn hóa Mường với tư cách là một hệ thống chỉnh thể hữu cơ, vận động theo quy luật biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
- Khái quát hóa hệ thống nhân tố tác động (nội sinh và ngoại sinh) chi phối quy luật biến đổi văn hóa truyền thống của một tộc người thiểu số trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh toàn cảnh, có hệ thống và cập nhật về thực trạng biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình từ năm 1986 đến nay trên cả 2 bình diện văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
- Nhận diện chính xác các mâu thuẫn, xu hướng biến đổi và các vấn đề xã hội - văn hóa đặt ra tại vùng đồng bào Mường Hòa Bình.
- Đề xuất hệ thống phương hướng và 5 nhóm giải pháp cụ thể, có căn cứ khoa học, giúp chính quyền địa phương định hướng và điều tiết sự biến đổi văn hóa theo chiều hướng tích cực, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát trên địa bàn tỉnh Hòa Bình trong phạm vi thời gian từ thời kỳ Đổi mới (1986) đến nay, tập trung vào các nhóm thành tố văn hóa vật chất và tinh thần cốt lõi. Do đó, luận án chưa bao quát toàn bộ các vùng cư trú khác của người Mường ngoài tỉnh Hòa Bình (như Thanh Hóa, Phú Thọ, Sơn La, Hà Nội) và chưa thực hiện so sánh liên tộc người ở quy mô vùng văn hóa Tây Bắc.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu so sánh đối sánh sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường giữa Hòa Bình với các cộng đồng người Mường ở Thanh Hóa và vùng lân cận.
- Đi sâu nghiên cứu tác động của chuyển đổi số, kinh tế số và mạng xã hội đối với sự thay đổi lối sống và phương thức trao truyền văn hóa phi vật thể của giới trẻ Mường.
Giá trị tham khảo
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Luận án là tài liệu tham khảo cho Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Hòa Bình, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban Dân tộc tỉnh Hòa Bình trong việc xây dựng nghị quyết chuyên đề, đề án bảo tồn không gian văn hóa Mo Mường, nghệ thuật Chiêng Mường và phát triển du lịch cộng đồng bền vững.
- Đối với các cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu: Cung cấp tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Triết học, Triết học văn hóa, Văn hóa học, Dân tộc học và Xã hội học trong nghiên cứu văn hóa tộc người và lý thuyết biến đổi xã hội.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định nguồn gốc lịch sử và địa bàn cư trú đặc trưng của người Mường ở Hòa Bình như thế nào?
Theo các cứ liệu khảo cổ học, dân tộc học và ngôn ngữ học được luận án tổng thuật, người Mường và người Kinh có chung nguồn gốc từ người Lạc Việt cổ. Sự phân tách diễn ra vào cuối thời Bắc thuộc - đầu kỷ nguyên Đại Việt khi bộ phận người Việt cổ ở miền núi giữ lại nhiều yếu tố văn hóa bản địa cổ truyền. Tại Hòa Bình, người Mường cư trú tập trung tại các thung lũng, chân núi đá vôi ở độ cao trung bình 300m, hình thành 4 trung tâm Mường cổ truyền trù phú: Mường Bi (Tân Lạc), Mường Vang (Lạc Sơn), Mường Thàng (Cao Phong) và Mường Động (Kim Bôi).
2. Ý nghĩa cấu trúc không gian của ngôi nhà sàn truyền thống người Mường Hòa Bình là gì?
Nhà sàn Mường được làm theo hình rùa với 4 mái 3 tầng, mô phỏng quan niệm vũ trụ 3 tầng 4 thế giới. Tầng trên cùng là gác đựng lương thực; sàn giữa là không gian sinh hoạt được phân định rành mạch: bên phải (ngoài) đặt bàn thờ tổ tiên và tiếp khách, bên trái (trong) dành cho bếp núc và sinh hoạt nội bộ; gầm sàn nhốt gia súc và nông cụ. Bếp lửa trong nhà mang tính thiêng, gắn liền với tín ngưỡng thờ thần bếp và trật tự tôn ti gia đình phụ quyền.
3. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Mường có nét khác biệt nào so với người Kinh?
Khác với người Kinh, người Mường thờ cúng cả tổ tiên bên họ nội và họ ngoại. Người Mường truyền thống không làm lễ hương khói định kỳ vào ngày rằm hay mùng 1 âm lịch, không đốt vàng mã mà cúng vào các dịp lễ tết (Tết Nguyên đán, Tết cơm mới, tảo mộ). Họ không tổ chức ngày giỗ theo ngày mất mà tổ chức theo ngày chôn cất của người qua đời gần nhất trong dòng họ, tin rằng linh hồn tổ tiên các đời trước đều quy tụ về trong ngày này.
4. Những nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy sự biến đổi văn hóa người Mường tại Hòa Bình hiện nay?
Sự biến đổi văn hóa bắt nguồn từ sự tương tác giữa nhân tố nội sinh (nhu cầu nâng cao chất lượng sống, thay đổi nhận thức của các thế hệ người Mường) và nhân tố ngoại sinh. Các nhân tố ngoại sinh then chốt bao gồm tác động của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, việc mở rộng giao lưu văn hóa và sự phát triển của công nghệ thông tin, truyền thông đại chúng.
5. Những giải pháp trọng tâm nào được đề xuất để bảo tồn và phát huy văn hóa Mường?
Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp: Nâng cao nhận thức và giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ; hoàn thiện chính sách tôn vinh nghệ nhân, thầy Mo; quy hoạch bảo tồn không gian văn hóa nhà sàn và số hóa di sản phi vật thể; phát triển du lịch cộng đồng gắn với nghề thủ công truyền thống; mở rộng giảng dạy bộ chữ viết tiếng Mường (ban hành năm 2016) trong hệ thống giáo dục địa phương.
Kết luận
Luận án "Sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình, Việt Nam hiện nay" của tác giả Đinh Thị Thanh Minh là công trình nghiên cứu chuyên ngành Triết học, phân tích có hệ thống quy luật vận động của văn hóa tộc người Mường trong bối cảnh đổi mới và hội nhập. Tác giả đã làm rõ thực trạng biến đổi trên cả hai bình diện văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, chỉ ra các nguyên nhân kinh tế - xã hội cốt lõi và nhận diện những thách thức bảo tồn bản sắc. Các luận điểm và giải pháp đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp cơ sở dữ liệu hữu ích cho công tác quản lý văn hóa và phát triển bền vững tại tỉnh Hòa Bình.