Chương 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN THƯỜNG TÍN VỚI VIỆC KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 1999 1. Khái quát về làng nghề truyền thống 1. Khái niệm Nghề truyền thống: Nghề thủ công truyền thống ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú, có những nghề đã hình thành và tồn tại hàng trăm năm. Sản phẩm làm ra vừa có tính hàng hoá, đồng thờì vừa có tính nghệ thuật và mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc.
Có nhiều tên gọi khác nhau để chỉ nghề truyền thống ở nước ta như: nghề cổ truyền, nghề thủ công, nghề thủ công truyền thống, nghề tiểu thủ công nghiệp,… Đối với mỗi nghề, để được xếp vào “nghề thủ công truyền thống” cần thoả mãn được những tiêu chí sau: 1. Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta; 2. Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề; 3. Có nhiều nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề; 4.
Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam; 5. Sử dụng hoàn toàn hoặc chủ yếu là nguyên liệu tại chỗ hoặc trong nước; 6. Sản phẩm độc đáo và tiêu biểu của Việt Nam, có giá trị và chất lượng cao, vừa là sản phẩm văn hoá nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành các di sản văn hoá của dân tộc, mang bản sắc văn hoá Việt Nam; 7. Là nghề nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng.3] Ngày nay, do có sự hỗ trợ của khoa học, kĩ thuật và công nghệ vào sản xuất các sản phẩm có tính truyền thống nên khái niệm nghề truyền thống cũng được nghiên cứu mở rộng hơn.
Có thể hiểu là: Nghề truyền thống xuất hiện từ lâu trong lịch sử, được truyền từ đời này qua đời khác còn tồn tại đến ngày nay, kể cả những nghề được cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống, và đặc biệt sản phẩm của nó vẫn thể hiện được những nét văn hoá đặc sắc của dân tộc. 12 z Làng nghề truyền thống: Sản phẩm của các nghề truyền thống được sản xuất tập trung tại một hay một làng nào đó sẽ hình thành các làng nghề, xã nghề. Theo nhà nghiên cứu Bùi Văn Vượng: Làng nghề truyền thống là làng cổ truyền làm nghề thủ công. Ở đây không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng hoá thủ công.
Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề nông. Nhưng yêu cầu chuyên môn hoá cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất làng nghề truyền thống ngay trên quê hương mình, hay ở làng nghề, phố nghề nơi khác. LNTT là những làng nghề đã xuất hiện lâu đời, được nối tiếp từ thế hệ này đến thế hệ khác hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng chục năm và phải có các yếu tố sau: hình thành và phát triển lâu đời; có nhiều nghệ nhân và đội ngũ lành nghề đông đảo; sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước là chủ yếu; sản phẩm mang tính truyền thống và độc đáo Việt Nam, có giá trị, chất lượng cao, vừa là hàng hóa tiêu dùng, vừa là sản phẩm văn hoá, nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành các di sản văn hoá của dân tộc, mang tính bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam; làng nghề nuôi sống phần lớn bộ phận dân cư làng. Thông tư 116/2006/TT- BNN quy định: làng nghề truyền thống có nghề đã xuất hiện hơn 50 năm, tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc, nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, những thành tựu của khoa học kỹ thuật hiện đại đã được áp dụng và đưa vào sản xuất tại các làng nghề làm cho các sản phẩm vừa mang yếu tố truyền thống vừa phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện đại. Đặc điểm chung của các làng nghề truyền thống Một là, các làng nghề gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp Các làng nghề cùng xuất hiện và tồn tại trong từng làng, xã ở nông thôn. Các ngành thủ công nghiệp không tách rời khỏi nông thôn, sản xuất nông nghiệp và sản 13 z xuất kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng nghề đan xen lẫn nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển. Những người thợ thủ công trước hết và đồng thời cũng là nông dân.
Các gia đình hộ nông dân vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm thủ công nghiệp. Hầu hết các làng nghề vẫn còn một bộ phận ruộng đất và kinh tế nông nghiệp, đó là đặc trưng phổ biến của các làng nghề Bắc Bộ. Chính vì vậy mà phát triển các nghành nghề cũng tức là góp phần phát triển nông nghiệp – nông thôn. Hai là, công nghệ và kỹ thuật trong các làng nghề thường rất thô sơ, lạc hậu, sử dụng kỹ thuật thủ công là chủ yếu.
Công cụ sản xuất chủ yếu trong các làng nghề truyền thống đa số là công cụ thủ công, công nghệ sản xuất mang tính đơn chiếc. Nhiều loại sản phẩm phẩm của các làng nghề chứa đựng nhiều chi tiết, công đoạn mà máy móc dù hiện đại cũng không thể thay thế được mà hoàn toàn phải dựa vào bàn tay khéo léo của người thợ là chủ yếu. Vì vậy, đây chính là đặc điểm làm cho các làng nghề có thể tồn tại và phát triển qua các thời kỳ lịch sử khác nhau. Ba là, đại bộ phận các nguyên liệu của các làng nghề thường có sẵn ở địa phương.
Hầu hết các làng nghề truyền thống đều được hình thành ở những nơi có sẵn nguồn nguyên liệu tại chỗ, trên địa bàn địa phương. Đặc biệt những nghề truyền thống sản xuất những sản phẩm tiêu dùng như: đan lát, mây tre (mũ, rổ, rá,…), sản vật liệu xây dựng… thì lại càng gắn chặt với những vùng có nguồn nguyên liệu tại chỗ dồi dào. Tuy nhiên, hiện nay do nhiều nguyên nhân cả khách quan lẫn chủ quan một số làng nghề đã phải nhập khẩu nguyên liệu (chỉ thêu, ốc - khảm trai, thuốc nhuộm, sừng trâu bò…). Bốn là, dạy nghề trong các làng nghề chủ yếu được thực hiện theo phương thức truyền nghề.
Sự hình thành và phát triển các làng nghề gắn chặt với vai trò của các nghệ nhân với tư cách là những người thầy hướng dẫn tay nghề từ thấp lên cao. Mỗi làng nghề đều có một tổ nghề. Ổng tổ nghề chính là người thầy đầu tiên dạy nghề, truyền nghề, đem bí quyết nghề nghiệp nơi khác về truyền lại cho làng mình. Trong các làng nghề truyền thống, các nghệ nhân là lực lượng nòng cốt và là 14 z một bộ phận quan trọng để duy trì và phát triển làng nghề.
Chính tài năng và đôi bàn tay vàng của nghệ nhân đã tạo nên những sản phẩm độc đáo, tinh xảo vừa mang giá trị vật chất, vừa mang giá trị nghệ thuật, góp phần làm vẻ vang cho làng nghề, cho dân tộc. Việc dạy nghề trước đây chủ yếu theo phương thức truyền nghề trong các gia đình từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lại trong từng làng nghề, thậm chí có những bí quyết nghề nghiệp còn không được phổ biến rộng rãi trong từng gia đình, dòng tộc. Ngày nay, các nghệ nhân, thợ giỏi đã không ngại dạy nghề của làng mình cho nhân dân địa phương khác. Trong các cơ sở đào tạo nghề nói chung thì phương thức dạy nghề theo lối vừa học vừa làm vẫn là chủ yếu.
Cho nên phương thức đào tạo theo lối truyền thống vẫn mang tính chủ đạo. Năm là, sản phẩm của các làng nghề truyền thống mang tính đơn chiếc, tính mỹ thuật cao, mang bản sắc văn hoá dân tộc. Mỗi một sản phẩm của làng nghề là một tác phẩm nghệ thuật, là sự kết hợp giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Nó vừa có giá trị sử dụng đáp ứng nhu cầu cho người tiêu dùng, vừa có giá trị thẩm mỹ cao.
Các sản phẩm của các làng nghề truyền thống còn mang những giá trị văn hoá độc đáo, thậm chí trở thành các di sản mang bản sắc của vùng, của dân tộc, mang những vóc dáng của dân tộc, quê hương, chứa đựng những ảnh hưởng về văn hoá tinh thần, quan niệm nhân văn và tín ngưỡng tôn giáo dân tộc… Sáu là, hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề chủ yếu ở quy mô gia đình. Một số nơi đã có sự phát triển các tổ chức hợp tác xã và các doanh nghiệp tư nhân nhưng vẫn còn manh mún. Theo phương thức truyền nghề, hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề chủ yếu ở quy mô gia đình. Các thế hệ khác nhau trong gia đình đều được huy động vào làm những công việc khác nhau của quá trình sản xuất kinh doanh.
Người chủ hộ trong gia đình thường đồng thời là người thợ cả mà trong số đó không ít người là nghệ nhân. Đáng chú ý là người lao động có tuổi ở các làng nghề truyền thống lại có thể là nguồn nhân lực quý cần khai thác về kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất. 15 z Đây là hình thức được áp dụng từ lâu đời của lịch sử làng nghề và vẫn được duy trì đến nay, giúp cho một số gia đình vẫn giữ được bí quyết nghề nghiệp. Ngoài ra còn có các hình thức khác như: tổ sản xuất (các hợp tác xã, các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần được phát triển từ một số hộ gia đình sản xuất kinh doanh khá giả.
Một số địa phương đã mạnh dạn xây dựng các khu, cụm công nghiệp làng nghề nhằm quy hoạch sản xuất tập trung đồng thời hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường. Trên đây là những đặc điểm cơ bản của làng nghề truyền thống ở Việt Nam. Một số đặc điểm có thể có một số yếu tố không còn phù hợp với điều kiện sản xuất hiện nay nhưng một số đặc điểm lại chính là cơ sở cho các làng nghề có sức sống mạnh mẽ và trường tồn cùng lịch sử dân tộc. Đây là những điểm đáng chú ý để nghiên cứu và tạo ra những biện pháp thúc đẩy phát triển kinh tế làng nghề đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực đối với làng nghề.
Những nhân tố tác động đến sự phát triển làng nghề truyền thống Phát triển làng nghề truyền thống trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố.