Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận về phát triển làng nghề thêu ren 1. Khái niệm làng nghề Với những quan niệm khác nhau thì từ trước đến nay chúng ta có rất nhiều khái niệm về làng nghề. Làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, kỉ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng.
Làng nghề không những là làng sống chuyên nghề mà cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát triển công ăn việc làm. Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương [22]. Xét theo góc độ kinh tế thì Dương Bá Phượng cho rằng “Làng nghề là làng ở nông thôn có một hoặc một số nghề thủ công tách hẳn ra khỏi khu công nghiệp và kinh doanh độc lập. Thu nhập từ các làng nghề đó chiếm tỉ trọng cao trong tổng giá trị toàn làng” [18].
Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng) có mộthay một số nghề thủ công hầu như được tách hẳn ra khỏi nông nghiệp, kinh doanh độc lập và đạt tới một tỷ lệ nhất định về lao động làm nghề cũng nhưvề mức thu nhập từ nghề so với tổng số lao động và thu nhập của làng [6]. Theo Nghị định số 52/2018/NĐ-CP của Chính phủ Về việc phát triển ngành nghề nông thôn quy định “Làng nghề được công nhận phải đạt cả 03 tiêu chí sau: a) Có tối thiểu 20% tổng số hộ trên địa bàn tham gia một trong các hoạt động hoặc các hoạt động ngành nghề nông thôn; b) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 02 năm liên tục tính đến thời điểm đề nghị công nhận; c) Đáp ứng các điều kiện bảo vệ môi trường làng nghề theo quy định của pháp luật hiện hành” [18]. Khái niệm làng nghề truyền thống Làng nghề truyền thống là những làng nghề đã xuất hiện lâu đời, được nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng chục năm. Làng nghề truyền thống phải có các yếu tố sau: Hình thành và phát triển lâu đời, có nhiều c 6 nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, sử dụng nguyên liệu trong nước là chủ yếu, sản phẩm mang tính truyền thống và độc đáo của Việt Nam, có giá trị chất lượng cao, vừa là hàng hóa tiêu dùng, vừa là sản phẩm văn hóa nghệ thuật, mỹ thuật thậm chí trở thành các di sản văn hóa của dân tộc Việt Nam, là nghề nuôi sống phần lớn bộ phận dân cư trong làng.
Thông tư số 116/2018/TT-BNN “Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt cả 03 tiêu chí sau: a) Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm và hiện đang tiếp tục phát triển tính đến thời điểm đề nghị công nhận; b) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc; c) Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề” [6]. Có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau khi đề cập đến tiêu chí để một làng ở nông thôn được coi là một làng nghề truyền thống Dương Bá Phượng (2001); Đỗ Quang Dũng (2006)). Tuy nhiên, các ý kiến thống nhất ở một số tiêu chí sau: “ Nghề được gọi là nghề truyền thống là nghề xuất hiện rất lâu năm, nghề mang bản sắc văn hóa địa phương và được gắn với nhiều nghệ nhân. Làng nghề truyền thống mang lại giá trị kinh tế cao, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động địa phương và góp phần nâng cao thu nhập cho người dân.
Khái niệm làng nghề thêu truyền thống Nghề thêu là một ngành nghề truyền thống có từ rất lâu đời. Đó là nghệ thuật dùng chỉ xuyên qua xuyên lại trên mặt vải để tạo ra một sản phẩm mỹ nghệ. Lịch sử nghề thêu truyền thống gắn liền với lịch sử tâm linh của người Việt Nam trong quá khứ. Sử cũ ghi chép lại rằng, ông tổ nghề thêu là Lê Công Hành tại xã Văn Lâm, huyện Hoa Lư, Hà Nội [27].
Khái niệm về phát triển, phát triển làng nghề Phát triển Phát triển là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc hậu [15]. Ngân hàng thế giới đưa ra khái niệm có ý nghĩa rộng hơn bao gồm những thuộc tính quan trọng liên quan đến hệ thống giá trị của con người, đó là “Sự bình đẳng hơn về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do công dân để củng cố c 7 niềm tin trong cuộc sống của con người trong các mối quan hệ với nhà nước, với cộng đồng” [9]. Phát triển là một quá trình tăng trưởng gồm nhiều yếu tố cấu thành như kinh tế, chính trị, xã hội, kỹ thuật, văn hóa [19].
Phát triển kinh tế là mục tiêu đầu tiên và cũng là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ xã hội trong mỗi giai đoạn phát triển. Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế, là sự tăng trưởng gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo công bằng xã hội. Đó là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, là sự kết hợp một cách chặt chẽ, hoàn thiện cả hai vấn đề về kinh tế và xã hội. Muốn phát triển kinh tế trước hết phải có sự tăng trưởng, nhưng không phải tăng trưởng nào cũng dẫn tới phát triển [26].
Khái niệm phát triển làngnghề Trên cơ sở lý luận về làng nghề và phát triển, tôi cho rằng phát triển làng nghề là sự tăng lên về quy mô làng nghề truyền thống và phải đảm bảo được hiệu quả sản xuất của làng nghề [28]. Sự tăng lên về quy mô làng nghề được thể hiện là sự mở rộng về sản xuất của từng làng nghề và số lượng làng nghề được tăng lên theo thời gian và không gian, trong đó làng nghề cũ được củng cố, làng nghề mới được hình thành. Từ đó giá trị sản lượng của làng nghề không ngừng được tăng lên, nó thể hiện sự tăng trưởng của làng nghề. Sự phát triển làng nghề truyền thống phải đảm bảo hiệu quả về kinh tế, xã hội và môitrường.
Trên quan điểm phát triển làng nghề còn yêu cầu: Sự phát triển phải có kế hoạch, quy hoạch, sử dụng các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn, nguyên liệu cho sản xuất… đảm bảo hợp lý có hiệu quả, nâng cao mức sống cho người dân lao động, không gây ô nhiễm, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc… Qua đó, chúng ta đúc kết được khái niệm phát triển làng nghề như sau: “Phát triển làng nghề là sự phát triển về kinh tế và quan tâm tới giải quyết vấn đề xã hội và môi trường”. Vai trò của làng nghề truyền thống trong phát triển kinh tế, văn hóa- xã hội hiện nay 1. Giải quyết việc làm cho người dân địa phương c 8 Việc phát triển làng nghề không những thu hút được lực lượng lớn lao động địa phương mà còn thu hút được lượng lao động của các địa phương khác. Phát triển làng nghề ở nông thôn có thuận lợi là sử dụng được thời gian lao động dư thừa và thời gian nhàn rỗi trong dân khi nông nhàn, khắc phục được tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp.
Tạo công ăn việc làm không chỉ cho nhân dân trong làng mà còn thu hút hoặc lan tỏa sang vùng, làng khác giải quyết việc làm cho nhiều lao động, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội ở vùng sản xuất mới. Khi thị trường xuất khẩu các mặt hàng truyền thống được mở rộng, đem lại kim ngạch xuất khẩu hàng trăm triệu USD mỗi năm là nhân tố quan trọng kích thích sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệu lao động thủ công chuyên nghiệp và nhàn rỗi. Có thể thấy ở nhũng nơi có làng nghề phát triển không những góp phần tích cực vào việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, đồng thời còn góp phần tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống người dân [29]. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Trong quá trình phát triển cơ cấu kinh tế nông thôn thì các làng nghề có vai trò tích cực góp phần tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Làng nghề tiểu thủ công nghiệp góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn là vì: sự phát triển của các làng nghề tiểu thủ công nghiệp làm cho tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng dần trong tổng thu nhập của địa phương. Nó đã xóa bỏ tình trạng độc canh cây lúa, kinh tế thuần nông ở nông thôn, làm tăng nhanh khối lượng sản phẩn hàng hóa cho tiêu dùng, xuất khẩu, tăng thu nhập cho dân cư, góp phần xóa đói giảm nghèo ở nông thôn [28]. Bên cạnh đó làng nghề tiểu thủ công nghiệp cung cấp sản phẩm cho khu vực nông thôn, nông nghiệp, đồng thời tạo vốn, phát triển ngành nghề.
Thu nhập từ các ngành phi nông nghiệp trong dân cư tăng nhanh; từ đó kích thích nông dân đầu tư vốn vào thay đổi, mở rộng quy mô sản xuất và mở xưởng để làm nghề tiểu thủ công nghiệp. Khi đó khối lượng sản phẩm hàng hóa tăng nhanh, thị trường mở rộng kinh tế dịch vụ phát triển [29]. c 9 Khi làng nghề mới hình thành thì phần lớn các nghề thủ công chỉ là công việc tăng thu nhập cho thời kỳ nông nhàn, nhưng trước những biến đổi của nền kinh tế đời sống xã hội phát triển, đặc biệt là nhu cầu thị trường tăng, nhiều nghề thủ công là nguồn thu nhập chính cho các hộ gia đình trong làng nghề thay vì nghề nông có thu nhập thấp. Chính thu nhập đã thu hút tạo ra sự chuyển đổi cơ cấu nghề một cách nhanh chóng.
Làng nghề phát triển đã tạo ra cơ hội cho dịch vụ ở nông thôn mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động, thu hút nhiều lao động không chỉ những lao động dôi dư, nhàn rỗi trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn làng nghề mà còn thu hút lao động từ địa phương khác tạo công ăn việc làm tăng thu nhập cho người lao động trông và ngoài vùng sản xuât.