Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG 1. Vị trí, điều kiện tự nhiên Huyện Trùng Khánh nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Cao Bằng cách thị xã 63km, phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Trịnh Tây và huyện Đại Tân (thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc). Phía Đông và Đông Nam giáp huyện Hạ Lang. Phía Nam giáp huyện Quảng Uyên.
Phía Tây giáp huyện Trà Lĩnh. Theo sách Đại Nam nhất thống chí ghi: “Huyện Thượng Lang cách phủ 81 dặm về phía đông bắc, Đông - Tây cách nhau 109 dặm, Nam - Bắc cách nhau 76 dặm. phía Đông đến địa giới huyện Hạ Lang 79 dặm, phía Tây đến địa giới huyện Quảng Uyên 30 dặm, phía Nam đến địa giới huyện Hạ Lang 33 dặm, phía Bắc đến địa giới châu An Bình nước Thanh 43 dăm” [28, tr. 404-405 ] Huyện Trùng Khánh nằm ở độ cao trung bình từ 500- 800m so với mực nước biển, là một huyện miền núi có địa hình tương đối phức tạp bởi nhiều dãy núi cao xen kẽ là những sông suối ngắn, thung lũng hẹp dần từ Tây Bắc xuống đến Đông Nam.
Huyện có 3 dạng địa hình chính: dạng đồi, dạng núi vôi và địa hình thung lũng. Dạng đồi có 6 xã hình thành trên đá phiến thạch sét và sa thạch, phân bố ở các xã Đông Nam với độ cao biến động từ 500 - 800 m. Tuy nhiên, vùng này cũng có nơi xen kẽ địa hình Caster. Dạng núi đá vôi, có 11 xã chiếm diện tích khá lớn, phân bố ở các xã phía Bắc và phía Tây Nam của huyện với độ cao trung bình khoảng 700 - 800m, có nhiều hang động, nổi bật là động Ngườm Ngao và xen kẽ một số thung lũng nhỏ hẹp.
Dạng địa hình thung lũng có 3 xã là những dải đất tương đối bằng phẳng, những cánh đồng nhỏ hẹp kéo dài và cao thấp khác nhau, chạy dọc 8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn theo 2 hệ thống sông Quây Sơn và sông Bắc Vọng. Xen giữa những dãy núi đá là những thung lũng bằng phẳng, được kiến tạo bởi thiên nhiên và công sức khai phá của nhân dân các dân tộc từ nhiều đời, đã tạo nên những cánh đồng, bãi rẫy trù phú như các vùng Ngọc Khuê, Đình Phong, Chí Viễn, Đàm Thuỷ, Phong Nặm, Lăng Hiếu, Phong châu, Đức Hồng, Cao Thăng… Nét đặc trưng của địa hình Trùng Khánh là giữa các thung lũng bằng phẳng có những ngọn núi đá, núi đất sừng sững, nhấp nhô với nhiều hình dạng, tiêu biểu là vùng Ngọc Khuê dọc sông Quây Sơn, được dân gian gian ca ngợi là vùng “Hà lục sơn thuỷ hữu tình”. Huyện Trùng Khánh còn có những dãy núi đá cao, chạy dọc biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, ở phía Bắc và Đông Bắc, tựa như một phên dậu, bức tường thành che chắn. Trong những dãy núi đó cao nhất là ngọn Giang Mũ, thuộc xã Ngọc Khuê, với độ cao trên 873m.
Phía Nam và Tây Nam là địa hình chuyển tiếp của cao nguyên miền Đông cao dần từ Nam lên Bắc. Trong những đèo dốc ở Trùng Khánh, nổi tiếng nhất là Đèo Liêu, được xác định là mốc giới giữa hai huyện Quảng Hoà và Trùng Khánh, có độ cao 664m, nằm trên trục đường giao thông liên huyện Quảng Uyên - Trùng Khánh. Về khí hậu, huyện nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa Đông, độ ẩm thấp, khô hanh và rét buốt; mùa hè nóng bức, chỉ dịu mát về ban đêm.
Khí hậu hai mùa nóng, lạnh rõ rệt. Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 10, kéo dài đến hết tháng 5 năm sau. Nửa đầu mùa lạnh là thời kì khô hanh, ban ngày nhiệt độ ấm áp, nhưng ban đêm nhiệt độ thường thấp, với độ chênh lệnh giữa ngày và đêm từ 5-100C, nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 240C, tối đa đến 400C (tháng 7) và tối thiểu là 00C (tháng 12) với nhiệt độ trung bình vào mùa đông là 170C. Theo nhận xét của các triều đại phong kiến ở Trùng Khánh: “Mùa xuân còn rét, mùa hè mưa nhiều, mùa thu rất nóng, mùa đông rất lạnh.
Ruộng đất khô cằn xấu xa, chỉ cấy được một vụ 9 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn mùa không có vụ chiêm, nếu cấy muộn sang thu lúa không trổ bông được mạ chết khô” [28, tr. 406-407] Lượng mưa trung bình năm thấp vào khoảng 1.777mm, cao nhất là vào tháng 5 đến tháng 9 (82%), và thấp nhất vào tháng 1, tháng 2, có mưa đá. Gió mùa đông bắc thổi từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Gió mùa đông nam bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 11.
Độ ẩm trung bình khoảng 81%, có sương muối xuất hiện bình quân 6 ngày trong năm (tháng 11, 12), ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông lâm nghiệp. Cọn nước của người Tày Trong hệ thống sông suối, có hai con sông chảy qua là sông Quây Sơn và sông Bắc Vọng. Sông Quây Sơn có hai nhánh chính đều bắt nguồn từ Trung Quốc, chiều dài khoảng 76km. Nhánh lớn nhất chảy qua xã Ngọc Khuê; nhánh thứ hai còn gọi là sông Tà Pè, chảy theo hướng Đông Nam, qua xã Phong Nậm, 10 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn Ngọc Khê, họp lưu với nhánh chính tại Khả Mong, xã Ngọc Khuê, chảy qua các xã Đình Phong, Chí Viễn, Đàm Thuỷ qua huyện Hạ Lang rồi chảy sang Trung Quốc.
Lòng sông tuy không rộng nhưng sâu, nước chảy xiết, độ dốc bình quân là 0.010, có nhiều thác ghềnh như thác Khoang (Thoong Khoang) ở xã Ngọc Khê, cao 10m; thác Gót (Thoong Gót) ở xã Trí Viễn, cao trên 20m. Đặc biệt là thác Bản Giốc, xã Đàm Thuỷ, có độ cao trên 50m; thác có 2 nhánh: nhánh bên phải dòng nước đổ thẳng xuống vực, nhánh bên trái dòng nước hạ dần thành 3 bậc, nối tiếp nhau thành một dòng chảy, do độ dốc lớn dòng chảy đổ xuống vực sâu, tung bọt trắng xoá và bay lưng chừng núi, hơi nước bốc lên tạo thành những màn sương mù huyền ảo, như những dải lụa trắng vắt ngang sườn núi, vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng. Thác Bản Giốc 11 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn Gần thác Bản Giốc có hang Ngườm Ngao, một hang lớn ngầm sâu trong lòng núi, có dòng nước chảy qua. Thác Bản Giốc, hang Ngườm Ngao là những danh thắng nổi tiếng, liền kề nhau tạo thành khu du lịch giàu tiềm năng.
Động Ngườm Ngao Do địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, nên phần lớn các con sông, con suối bắt nguồn từ phía Tây Bắc chảy theo hướng Đông Nam qua các vùng núi đá vôi, dọc các con sông Bắc Vọng, Quây Sơn…có nhiều thác ghềnh, nước chảy xiết. Các dòng sông lớn như Quây Sơn, Bắc Vọng và nhiều suối, ao, hồ là nguồn lợi thuỷ sản dồi dào. Nơi đây có nhiều loại cá quý, có giá trị kinh tế cao như cá Chiết (có con nặng tới hàng chục kg), cá chép, cá Dầm Xanh, cá Chuối, ba ba…Đặc biệt là cá trầm hương (ở vực Lũng Đĩnh, nay thuộc xã Đình Phong), thơm ngon nổi tiếng nhất vùng. Cá nặng 5-8 kg, vẩy trắng, gần mang có một vòng vẩy điểm màu xanh cửu long.
Đây là loại cá đặc sản của huyện Trùng Khánh. 12 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn Sông Quây Sơn Bên cạnh đó còn có các cánh đồng Chí Viễn, Đàm Thuỷ. Dọc theo sông Bắc Vọng là những cánh đồng xã Trung Phúc, Thông Huề, Thân Giáp… Ngoài ra còn có các cánh đồng lúa dựa vào nguồn nước tưới chủ yếu là các con suối và nước mưa như: Lăng Hiếu, Lăng Yên, Phong Châu, Bồng Sơn, Cao Thăng, Đức Hồng, Đoài Côn. Những cánh đồng lúa trên là nguồn cung cấp lương thực chủ yếu cho nhân dân huyện Trùng Khánh.
Sông Bắc Vọng có 2 nhánh, nhánh chính bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua Trà Lĩnh rồi đổ vào Trùng Khánh tại xã Trung Phúc, nhánh phụ chảy từ xã Đức Hồng rồi đổi vào xã Giáp Thân. Chiều dài của 2 nhánh này trong huyện dài 27,5 km, lưu lượng nước vào mùa mưa đạt 350m3/s, và mùa khô còn 0,76m3/s và mùa khô còn 0,76m3/s. Ngoài 2 hệ thống sông này trên địa bàn huyện có nhiều hang động có tích nước và một số hồ, đập… 13 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn Về tài nguyên động thực vật, do đặc điểm khí hậu, đất đai địa hình chi phối nên quần thể động thực vật ở huyện Trùng Khánh rất đa dạng và phong phú. Thực vật tự nhiên có nguồn tài nguyên rừng, tổng diện tích đất lâm nghiệp của huyện là 29.464 ha (2007) trong đó rừng trồng phòng hộ là khoảng 30%, rừng đặc dụng là 0,3%, rừng sản xuất là trên 65% và diện tích rừng trồng lên tới gần 1000 ha.
Trong rừng có nhiều loại gỗ quý như: nghiến, quý lát, thông…các loại động vật như: hổ, báo, gấu, sơn dương, lợn rừng, hươu, nai, cầy vòi… Cá lâm thổ sản: nấm hương, mộc nhỉ, sa nhân… Cây ăn quả gồm các loại như: mận, đào, lê, cam, quýt… Đặc biệt hạt dẻ là một loại đặc sản ở Trùng Khánh, rất thơm ngon, đã trở thành sản phẩm hàng hoá có giá trị trên thị trường trong nước và quốc tế. Rừng là nơi cung cấp nguyên liệu (trữ lượng hàng nghìn m3 ), và nhiều tre cho sản xuất đồ gỗ và làm nhà. Về tài nguyên khoáng sản: Mangan là loại tài nguyên quan trọng nhất, phân bố hầu hết trong các xã và thịt trấn. Hiện nay có 05 mỏ Mangan đang hoạt động khai thác bao gồm các mỏ: Lũng Luông, Kha Moong, Rỏng Thay, Nậm Sum và Bản Khuâng với sản lượng khai thác đạt tới trên 50.
Thứ nhì là đá vôi có trữ lượng lớn thuận lợi để phát triển sản xuất vật liệu xây dựng như xi măng, đá xây dựng. Ngoài ra đất thịt pha sét, là nguyên liệu sản xuất gạch ngói, phân bố ở nhiều xã nhưng tập trung ở vùng đồng bằng nhỏ hẹp. Về đất đai, thổ nhưỡng, tổng diện tích tự nhiên của huyện là 46.872 ha, trong diện tích đất tự nhiên của huyện là 46.872 ha, trong đó đất nông nghiệp là 38.798 ha chiếm 82%, đất phi nông nghiệp là 3.524 ha chiếm 7,5%, đất chưa sử dụng là 4. Theo thông báo của hội khoa học Việt Nam huyện Trùng Khánh có 7 nhóm đất sau: 14 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.