Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Triết học của tác giả Lò Thị Kiều Oanh (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, thực hiện năm 2020 dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Lan) tiếp cận vấn đề đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số trong mối tương quan với sự biến đổi kinh tế - xã hội.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Đời sống văn hóa tinh thần (ĐSVHTT) là một bộ phận tất yếu hợp thành chỉnh thể đời sống xã hội. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và phát triển kinh tế thị trường tại Việt Nam mở ra nhiều cơ hội phát triển nhưng đồng thời tạo nên các tác động tiêu cực, đe dọa sự mai một của các giá trị truyền thống nếu thiếu định hướng văn hóa vững vàng.

Huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình là địa bàn có vị trí chiến lược cửa ngõ Tây Bắc, giàu tiềm năng du lịch sinh thái và văn hóa dân gian. Người Thái chiếm gần 60% dân số toàn huyện, thuộc nhóm "Thái Lai" (Thái trắng), có sự giao thoa văn hóa đặc thù với người Mường và các nhóm cư dân lân cận. Trong bối cảnh các doanh nghiệp công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ du lịch phát triển mạnh mẽ tại địa phương từ sau năm 2010, ĐSVHTT của người Thái có nhiều chuyển biến sâu sắc. Tác giả lựa chọn đề tài nhằm khảo sát, phân tích một cách hệ thống thực trạng này dưới lăng kính triết học xã hội.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu tổng quát là làm rõ thực trạng ĐSVHTT của dân tộc Thái ở huyện Mai Châu trong quá trình CNH hiện nay, từ đó luận giải và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng ĐSVHTT.

Khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ khái niệm ĐSVHTT cùng các nội dung và yếu tố hợp thành.
  2. Phân tích thực trạng ĐSVHTT của dân tộc Thái huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình trong quá trình CNH hiện nay (bao gồm các mặt tích cực và tiêu cực/biến đổi).
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao ĐSVHTT của người Thái tại huyện Mai Châu trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Thái ở huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình trong quá trình công nghiệp hóa hiện nay.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình (bao gồm 23 đơn vị hành chính cấp xã/thị trấn, trọng tâm tại các điểm du lịch cộng đồng và cụm kinh tế như bản Lác – Chiềng Châu, Vạn Mai, Pà Cò, Tòng Đậu...).
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 2010 đến năm 2020.
  • Phạm vi nội dung: Tiếp cận ĐSVHTT qua các lĩnh vực hoạt động cơ bản gồm tư tưởng, nghệ thuật, ngôn ngữ, phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian dưới tác động của tiến trình CNH, HĐH.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Khóa luận xây dựng cơ sở lý luận dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa:

  • Tư tưởng Hồ Chí Minh: Định nghĩa văn hóa gắn với phương thức sinh hoạt và sự sinh tồn của con người; tác phẩm nền tảng "Đời sống mới" (1947, bút danh Tân Sinh).
  • Văn kiện Đảng: Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) về "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc", Văn kiện Đại hội VI (1986) và Đại hội X (2006) về việc đưa văn hóa thấm sâu vào đời sống xã hội.
  • Khái niệm ĐSVHTT: Được xác định là tổng hòa sống động các hoạt động sản xuất, trao đổi, tiêu dùng các giá trị tinh thần (tư tưởng, nghệ thuật, khoa học, giáo dục, tín ngưỡng - tôn giáo), vận động quanh chủ thể trung tâm là con người. Tiêu chuẩn đánh giá ĐSVHTT là trình độ được vun trồng của con người theo các giá trị chân - thiện - mỹ.
  • Kế thừa các công trình nghiên cứu tiền bối: Công trình của Đặng Nghiêm Vạn ("Tìm hiểu văn hóa cổ truyền của người Thái Mai Châu"), Lường Song Toàn ("Văn hóa ẩm thực dân gian dân tộc Thái huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình", 2016), Bùi Thanh Thủy ("Người Thái và văn hóa Thái Mai Châu", 2002), Nguyễn Thị Hồng Tâm (Luận án Tiến sĩ Văn hóa học về biến đổi văn hóa Thái Mai Châu trong du lịch).

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (nhìn nhận văn hóa trong sự vận động, biến đổi không ngừng theo các điều kiện kinh tế - xã hội) kết hợp với các phương pháp nghiên cứu liên ngành cụ thể:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Luận giải các cấu trúc lý luận về ĐSVHTT và tổng hợp số liệu thực tế tại địa phương.
  • Phương pháp lịch sử và logic: Theo dõi tiến trình biến đổi văn hóa từ xã hội truyền thống sang giai đoạn CNH (2010–2020).
  • Phương pháp quan sát, tham gia: Thu thập tư liệu thực địa về các sinh hoạt văn hóa, lễ hội, nếp sống nhà sàn và hoạt động du lịch cộng đồng tại địa bàn Mai Châu.

Nguồn dữ liệu

  • Báo cáo thống kê kinh tế - xã hội định kỳ của Ủy ban nhân dân huyện Mai Châu (năm 2016, 2017).
  • Tư liệu điều tra, báo cáo của Mặt trận Tổ quốc và ngành Văn hóa - Thông tin huyện Mai Châu.
  • Tài liệu thứ cấp từ các công trình khảo cứu dân tộc học, văn hóa học đã xuất bản về người Thái vùng Tây Bắc.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Lý luận chung về đời sống văn hóa tinh thần và đặc điểm vị trí địa lí, điều kiện kinh tế - xã hội ở huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình

Tiểu mục lý luận của chương làm rõ cấu trúc bốn khâu của ĐSVHTT: nhu cầu tinh thần, sản xuất giá trị tinh thần, trao đổi tinh thần và tiêu dùng tinh thần trên năm lĩnh vực chủ đạo: tư tưởng, nghệ thuật, khoa học, giáo dục và tín ngưỡng - tôn giáo.

Tiểu mục tổng quan địa bàn chỉ ra những nét đặc thù về lịch sử - tự nhiên của vùng đất Mường Mai (hình thành từ thế kỷ XIII). Trải qua các lần điều chỉnh địa giới (sáp nhập - chia tách huyện Mai Đà các năm 1890, 1941, 1956), đến thời điểm nghiên cứu huyện có 23 đơn vị hành chính (22 xã và 1 thị trấn), sở hữu 12 di tích danh thắng, trong đó có 5 di tích cấp quốc gia: Hang Khoài (Xăm Khòe), Hang Chiều (thị trấn Mai Châu), Hang Nhật, Hang Láng, Hang Mỏ Luông (Chiềng Châu).

Về mặt kinh tế, huyện có sự chuyển dịch rõ rệt sang hướng công nghiệp hóa và dịch vụ:

Chỉ tiêu kinh tế - xã hội huyện Mai Châu Số liệu ghi nhận trong văn bản (Năm 2017)
Tổng giá trị sản xuất (giá hiện hành) 2.800 tỷ đồng (vượt 3,29% kế hoạch, tăng 12,27% so cùng kỳ)
Giá trị Nông - Lâm - Thủy sản 686,8 tỷ đồng (tỷ trọng 34,14%)
Giá trị Công nghiệp - Xây dựng 686,8 tỷ đồng (tỷ trọng 34,55%)
Giá trị Thương mại - Dịch vụ - Du lịch 630,0 tỷ đồng (tỷ trọng 31,31%)
Tổng thu ngân sách địa phương 43,794 tỷ đồng
Cơ sở sản xuất CN - Tiểu thủ công nghiệp 637 cơ sở
Tỷ lệ lao động qua đào tạo 34,41%
Tỷ lệ người dân tham gia BHYT 93,32%
Khách du lịch (số liệu năm 2016) 301.500 lượt khách (112.000 quốc tế, 189.500 nội địa; doanh thu >75 tỷ đồng)
Cơ sở lưu trú du lịch 119 nhà nghỉ/khách sạn/homestay

Về văn hóa truyền thống của người Thái Mai Châu, chương 1 miêu tả các giá trị nền tảng:

  • Tư tưởng: Lối sống gắn kết cộng đồng, coi trọng chữ tín, khiêm nhường, đề cao người cống hiến cho bản mường.
  • Nghệ thuật: Múa xòe (xòe vòng, xòe trống chiêng, xòe kéng loóng); múa trống đồng; nghệ thuật thổi khèn bè (với 4 điệu chính: Dạo chơi qua bản, Thức gọi người thương, An ủi người đàn bà góa, Tạm biệt người yêu); kỹ thuật dệt thổ cẩm (với hơn 300 khung cửi còn duy trì).
  • Phong tục - tập quán: Trang phục truyền thống dệt nhuộm từ cây rừng (áo xửa cóm, cạp váy 2 tầng dệt hình rồng/phượng/hoa sen, khăn trắng đội đầu); tập tục cưới hỏi (vai trò của "lòng ta" - cậu ruột, tục ở rể truyền thống); tang ma; lễ gọi vía (hiệc khoăn) gắn với thầy mo; kiến trúc nhà sàn 3 gian (hoóng noóc, gian giữa, hoóng cuộng).
  • Tín ngưỡng dân gian: Thờ Then Luông, quan niệm vạn vật hữu linh; lễ hội Xên bản, xên mường (gắn với tín hiệu sấm sông Đà - sông Mã); lễ hội Chá Chiêng (tạ ơn thần linh của thầy mo); diễn tấu Kánh loóng với 5 động tác cơ bản (Giã, Gõ, Chọi, Dập, Va) gắn với truyền thuyết nhật thực Éch ăn trăng (Cộp kin bơn).

Chương 2. Đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Thái ở huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa — Thực trạng và giải pháp

Chương này tập trung phản ánh diện mạo CNH tại địa phương và những biến đổi cụ thể trong ĐSVHTT của người Thái.

1. Quá trình công nghiệp hóa tại Mai Châu

Tiến trình CNH diễn ra rõ nét từ năm 2010 với sự xuất hiện của các dự án công nghiệp, hạ tầng:

  • Sản xuất công nghiệp: Nhà máy chế biến bột giấy và đũa của Công ty CP Giấy HAPACO tại Vạn Mai (công suất 12.000 tấn bột giấy/năm, 1.000 tấn đũa/năm, giải quyết việc làm cho 170 lao động, nộp ngân sách gần 2,8 tỷ đồng/năm); Nhà máy chế biến nông sản Tân Sơn; Cơ sở chế biến chè Pà Cò; các nhà máy thủy điện Vạn Mai, So Lo 1.
  • Doanh nghiệp dịch vụ du lịch: Khách sạn Mai Châu Lodge (Công ty CP Du lịch Thiên Minh đầu tư 16 tỷ đồng) cùng nhiều công ty TNHH xây dựng, thương mại, du lịch.
  • Hạ tầng văn hóa - xã hội: Toàn huyện xây dựng được 01 nhà văn hóa trung tâm, 01 sân vận động, 01 sân khấu ngoài trời; 113/137 làng bản có nhà văn hóa (đạt 82,48%, trong đó 40% đạt chuẩn diện tích, 46 nhà văn hóa được trang bị âm thanh, tivi); 100% đường liên xã và gần 60% đường nội bản được bê tông hóa.
  • Giáo dục - Y tế: Phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi và tiểu học; 45/62 trường học có cáp quang Internet, 61/62 trường trang bị máy tính; Bệnh viện đa khoa huyện được trang bị máy chụp cắt lớp vi tính, máy nội soi tiêu hóa, máy xét nghiệm sinh hóa tự động (với sự hỗ trợ từ các dự án UNFPA, JICA).

2. Biến đổi ĐSVHTT của người Thái dưới tác động của CNH

Lĩnh vực ĐSVHTT Hiện trạng truyền thống Biến đổi dưới tác động CNH, HĐH
Tư tưởng - Quan hệ xã hội Phân biệt con trưởng/con thứ trong chia gia tài; mang tính gia trưởng phụ quyền. Xác lập sự bình đẳng giữa các con; quan hệ gia đình cởi mở, dân chủ hơn; duy trì tính khiêm nhường.
Ngôn ngữ Đơn ngữ (tiếng Thái), ít tiếp xúc bên ngoài. Phát triển hiện tượng song ngữ (tiếng Việt - tiếng Thái); sử dụng tiếng Anh trong du lịch; vay mượn từ ngữ tiếng Việt về quản lý nhà nước (Đảng, Quốc hội, Mặt trận...) và kỹ thuật (ti vi, tủ lạnh, ô tô, bếp ga...).
Nghệ thuật & Làng nghề Tự cung tự cấp vải mặc; diễn xướng xòe, khèn bè trong phạm vi bản làng. Từ 2010 mở 06 lớp chữ Thái (200 học viên), 01 lớp khèn bè (30 người), 01 lớp múa xòe (100 người), 01 lớp hát khắp (40 người); thổ cẩm thương mại hóa thành quà lưu niệm; xòe biểu diễn phục vụ du khách tại bản Lác, bản Văn, các khu nghỉ dưỡng.
Trang phục Tự trồng bông dệt vải, nhuộm chàm, mặc thường nhật. Hầu hết mua đồ may sẵn kiểu người Kinh; thế hệ trẻ ngại mặc trang phục dân tộc; trang phục truyền thống chủ yếu mặc dịp lễ tết hoặc cho thuê du lịch.
Nhà ở & Không gian sống Nhà sàn gỗ tranh tre nứa lá thuần mộc, có vườn cây ao cá. Đưa vật liệu mới (xi măng, tôn, sắt thép); cơi nới không gian, lấp ao vườn làm homestay; nội thất hiện đại hóa làm giảm vẻ mộc mạc cổ truyền.
Phong tục cưới hỏi, tang ma Nghi thức kéo dài, thách cưới, tục ở rể nhiều năm. Thực hiện nếp sống văn minh theo luật Hôn nhân & Gia đình; xóa bỏ hủ tục rườm rà, thủ tục gọn nhẹ, tiết kiệm.
Tín ngưỡng & Lễ hội Đóng góp bằng ngày công, sản vật tự nuôi trồng; chỉ cầu mùa, tế thần. Đóng góp bằng tiền mặt; kết hợp phục hồi lễ hội (Xên bản xên mường, Chá Chiêng, biểu diễn Kánh loóng) với phát triển kinh tế du lịch; tiếp nhận các ngày lễ chung (Tết Độc lập 2/9, Ngày hội Đại đoàn kết).

3. Các giải pháp tác giả đề xuất

  • Giải pháp con người: Phát huy tối đa vai trò của các già làng, trưởng bản trong công tác giáo dục, tuyên truyền, vận động thế hệ trẻ giữ gìn bản sắc văn hóa tộc người.
  • Giải pháp hình thức: Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền thông qua hoạt động văn nghệ quần chúng, giao lưu thể thao, đáp ứng sở thích của từng nhóm đối tượng cư dân.
  • Kết hợp phát triển bền vững: Gắn bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể (chữ viết, múa xòe, kánh loóng, dệt thổ cẩm) với quy hoạch phát triển du lịch cộng đồng, nâng cao đời sống vật chất để củng cố nền tảng văn hóa tinh thần.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Tổng hợp hệ thống dữ liệu kinh tế - xã hội xác thực của huyện Mai Châu giai đoạn 2010–2017 (tỷ trọng ngành nghề, hạ tầng 113/137 nhà văn hóa thôn bản, 119 cơ sở lưu trú, hệ thống di tích và dự án y tế - giáo dục).
  • Khái quát bức tranh biến đổi đa chiều của ĐSVHTT người Thái: từ sự thích nghi tích cực (phát triển homestay, thương mại hóa thổ cẩm, mở lớp truyền dạy chữ viết và nhạc cụ) đến các nguy cơ thực tế (mai một thói quen mặc trang phục dân tộc, biến dạng kiến trúc nhà sàn truyền thống do bê tông hóa, tiếng mẹ đẻ bị thu hẹp trước xu hướng song ngữ).

Đóng góp của đề tài

  • Về mặt lý luận: Bổ sung tư liệu nghiên cứu chuyên biệt về đời sống văn hóa tinh thần của tộc người Thái tại địa bàn Mai Châu - Hòa Bình dưới góc độ triết học xã hội trong thời kỳ CNH, HĐH.
  • Về mặt thực tiễn: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, nghiên cứu các môn Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Cơ sở văn hóa Việt Nam; đồng thời đóng vai trò là tài liệu gợi ý chính sách cho chính quyền địa phương huyện Mai Châu trong việc hoạch định kế hoạch quản lý văn hóa gắn liền với phát triển du lịch sinh thái - nhân văn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc mô tả văn hóa cổ truyền trong quá khứ. Khóa luận này tập trung vào giai đoạn từ năm 2010 đến 2020 trên địa bàn huyện Mai Châu, do đó phạm vi khảo sát thực tế bị giới hạn trong không gian địa phương cụ thể, chưa so sánh đối chiếu sâu với các cộng đồng người Thái ở các tỉnh Tây Bắc khác như Điện Biên, Sơn La hay Lai Châu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế bảo tồn thích ứng của văn hóa Thái trong không gian kinh tế số, đánh giá tác động dài hạn của mô hình du lịch cộng đồng (homestay) đối với tâm lý và đạo đức truyền thống của các thế hệ trẻ người Thái.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, giảng viên ngành Triết học, Văn hóa học, Dân tộc học, Xã hội học và Việt Nam học.
    • Cán bộ quản lý văn hóa, cán bộ Mặt trận Tổ quốc và chính quyền địa phương tại các huyện miền núi đang trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang du lịch - dịch vụ.
  • Nội dung giá trị nhất:
    • Hệ thống dữ liệu mô tả chi tiết các phong tục, lễ hội, nhạc cụ, trang phục và nghệ thuật dân gian Thái Mai Châu (Chương 1).
    • Bảng tổng kết và phân tích thực trạng chuyển dịch từ văn hóa tự cung tự cấp sang văn hóa thích ứng kinh tế thị trường và du lịch cộng đồng (Chương 2).

Câu hỏi thường gặp

1. Người Thái ở huyện Mai Châu có điểm gì khác biệt so với người Thái ở các khu vực Tây Bắc khác?
Người Thái ở Mai Châu chiếm gần 60% dân số toàn huyện, chủ yếu thuộc nhóm Thái trắng ("Thái Lai"). Do sinh sống xen kẽ gần gũi với xứ Mường và tiếp giáp với Lào, văn hóa của người Thái Mai Châu có sự giao thoa, mang những nét riêng về nhà sàn (không có thanh trang trí khau cút trên nóc như Thái Tây Bắc, gầm sàn cao hơn), ngôn ngữ và phong tục.

2. Nhạc cụ khèn bè của người Thái Mai Châu có những làn điệu phổ biến nào?
Văn bản ghi nhận khèn bè tại Mai Châu có 4 bài/làn điệu phổ biến: (1) Dạo chơi qua bản (làn điệu nhanh, mạnh, âm trầm vang xa); (2) Thức gọi người thương (tiếng khèn nhẹ nhàng, du dương dùng khi tỏ tình); (3) An ủi người đàn bà góa (lời khèn tha thiết, cảm thông); (4) Tạm biệt người yêu (lời khèn trầm, ngân dài khi chia tay).

3. Nghệ thuật diễn tấu Kánh loóng của người Thái Mai Châu gồm những động tác nào và gắn với truyền thuyết gì?
Kánh loóng có 5 động tác cơ bản gồm: Giã, Gõ, Chọi, Dập, và Va. Nghệ thuật này gắn liền với câu chuyện dân gian Éch ăn trăng (Cộp kin bơn - hiện tượng nguyệt thực), khi dân bản gõ loóng nhằm mục đích xua đuổi, tách Mặt Trời và Mặt Trăng để tránh hạn hán.

4. Dưới tác động của CNH, kiến trúc nhà sàn của người Thái Mai Châu biến đổi như thế nào?
Do nguồn gỗ, tranh tre nứa lá khan hiếm và nhu cầu đón khách du lịch homestay, người dân đã thay thế bằng các vật liệu hiện đại (xi măng, sắt thép, mái tôn, tấm fibro xi măng). Nhiều hộ gia đình lấp ao, thu hẹp vườn cây để cơi nới diện tích đón khách, làm mất đi nét đơn sơ, mộc mạc nguyên bản.

5. Từ năm 2010 đến thời điểm nghiên cứu, huyện Mai Châu đã tổ chức được những lớp truyền dạy văn hóa phi vật thể nào?
Địa phương đã mở được 06 lớp học chữ Thái cho 200 học viên, 01 lớp chế tác khèn bè cho 30 học viên, 01 lớp múa xòe truyền thống cho 100 học viên và 01 lớp hát khắp (hát đối đáp) cho 40 học viên.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Lò Thị Kiều Oanh đã khái quát hóa một cách có hệ thống cơ sở lý luận về đời sống văn hóa tinh thần và thực trạng biến đổi văn hóa của người Thái ở huyện Mai Châu dưới tác động của tiến trình CNH, HĐH giai đoạn 2010–2020. Công trình chỉ rõ tính hai mặt của quá trình chuyển dịch kinh tế: vừa tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất, phổ biến thiết chế văn hóa, vừa gây sức ép làm mai một trang phục, ngôn ngữ và kiến trúc truyền thống. Các luận điểm và giải pháp được tác giả đề xuất mang tính thực tiễn cao, đóng góp tài liệu hữu ích cho công tác nghiên cứu triết học xã hội và quản lý văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số.