phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Khóa luận gồm 2 chơng và 4 tiết: Chong 1. Lý luận chung về đời sống văn hóa tỉnh thần và đặc điểm vị trí địa lí, điều kiện kinh tế - xã hội ở huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình Chơng 2. Đời sống văn hóa tỉnh thần của dân tộc Thái ở huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình trong quá trình công nghiệp hóa hiện nay — Thue trạng và giải pháp NỘI DUNG Chong 1. LY LUAN CHUNG VE DOI SONG VAN HOA TINH THAN VA TONG QUAN VE HUYEN MAI CHAU, TINH HOA BINH.
Lý luận chung về đời sống văn hóa tỉnh thần 1. Khái niệm văn hóa và đời sống văn hóa Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng với nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con ngời. Đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng: Văn hóa là tất cả những giá trị vật chất và tinh than do con ngời với t cách con ngời - con ngời có văn hóa, đã sáng tạo nên trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội để phục vụ nhu cầu tồn tại và phát triển. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Vì lẽ sinh tồn cũng nh mục đích của cuộc sống, loài ngời sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phơng tiện sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó, tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phơng thức sinh hoạt cùòng với biểu hiện của nó mà loài ngời đã sản sinh ra nhăm thích ứng với những nhu câu của dân chúng và đòi hỏi của sự sinh tôn”[10, tr. Nói khái quát, văn hóa là khái niệm chỉ thuộc tính của con ngời là sáng tạo, cải tạo hiện thực vơn tới giá trị nhân văn, thúc đây su tién bộ xã hội, là dấu hiệu để phân biệt loài ngời với loài vật, cá nhân này với cá nhân khác, cộng đồng này với cộng đồng khác. Đồng thời, đây cũng là khái niệm đề chỉ trình độ và chât lợng cuộc sông của con ngời. Van hóa là toàn bộ những giá trị do con ngời sáng tạo ra trong quá trình lịch sử bằng lao động của mình trên cả hai lĩnh vực sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần.
Giá trị văn hóa (GTVH) đợc hiểu là những giá trị tốt đẹp tiêu biêu cho một nên văn hóa, tạo nên bản sắc văn hóa của một dân tộc, đợc 8 chất lọc, lu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, phản ánh và kết tỉnh đời sống văn hoá vật chất và văn hod tinh thần của con ngời. Do đó, theo truyền thống, văn hóa có cấu trúc hai phần rất đơn giản: văn hóa vật chất (bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất vật chất của con ngoi tao ra: đồ ăn, đồ mặc, nhà cửa, đồ dòng sinh hoạt hằng ngày, công cụ sản xuất, phơng tiện đi lại.) và văn hóa tinh thần (bao gồm toàn bộ những sản phâm do hoạt động sản xuất tỉnh thần của con ngời tạo ra: t tởng, tín ngỡng - tôn giáo, nghệ thuật, lễ nghi, lễ hội, phong tục, tập quán, đạo đức, ngôn ngữ, văn chơng) [27]. Các giá trị văn hóa dân tộc biểu hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ t tởng, tình cảm, quan niệm, biểu tợng, đạo đức, thâm mỹ, lối sống đến những giá trị tinh thần đo con ngời sáng tạo nên nh nghệ thuật, kiến trúc, hội họa, âm nhạc,. đem đến bức tranh văn hóa đa dạng, muôn màu.
Qua các giá trị văn hóa giúp con ngời lựa chọn những gì phd hop voi ban sắc văn hóa cộng đồng tạo nên những tập quán, thói quen, những nếp sống đẹp gắn chặt có kết cộng đồng và khu biệt với các cộng đồng khác. Những GTVH này hình thành và đợc khẳng định trong quá trình tồn tại phát triển của con ngời và xã hội. Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, con ngời đã sáng tạo ra văn hóa. Nhờ có văn hóa mà loài ngời có sự tiễn bộ vợt bậc trong đời sống xã hội.
Văn hóa đợc truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và chính nó lại tham gia tác động vào việc hình thành, tái tạo nên con ngời. Trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau, nền văn hóa của nớc ta ngày càng phong phú và đa dạng với những truyền thống quý báu của ông cha ta đợc hun đúc từ ngàn năm dé lai. Tat cả đợc bảo tồn, gìn giữ và phát triển cho đến ngày nay. Nó đợc biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống của xã hội, cũng nh trong giá trị vật chất và tinh thần mà chúng ta đã tạo ra trong mấy nghìn năm lịch sử.
Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, mà đời sống xã hội là một phức thê các hoạt động sống của con ngời, nhằm đáp ứng các nhu cầu tỉnh thần trên một cơ sở vật chất. Khái niệm “đời sống văn hoá” là cụm từ mới đợc sử dụng rộng rãi ở nớc ta vào những năm 80, 90 của thế kỷ XX. Tiền thân của cụm từ này là cụm từ đời sống mới, tiêu đề của bài viết đới đạng hỏi - đáp, công bố năm 1947, tác giả Tân Sinh, một bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh trình độ học vấn của dân ta còn thấp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng từ "mới" thay cho từ "văn hoá" đề cho dân dễ hiểu về xây dựng đời sống văn hoá.
Có thê coi Đời sống mới là bài viết đầu tiên đặt cơ sở lý luận cho việc xây dựng đời sống văn hóa ra đời sau Cách mạng Tháng Tám 1945. Cho mãi tới những năm 80 của thế kỷ XX, trong chỉ đạo xây dựng đời sống văn hoá, Đảng, Nhà nớc vẫn sử dụng từ "mới" đợc hiểu là kết tỉnh hàm lợng văn hoá, tri thức, cách tô chức, giá trị mới trong xây dựng nếp sống, nền văn hoá và con ngời. Năm 1987, cuốn sách Đờng lối văn hoá văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam đã luận giải: “Đời sống văn hoá chính là những hành vi sống biểu hiện một trình độ văn hoá, bao gồm các hoạt động của xã hội, của tập thể, của từng cá nhân, nhằm mục đích văn hóa hoá tức là hoàn thiện con ngời” [6]. Tác giả Nguyễn Hữu Thức trong cuốn sách Một số kinh nghiệm quản lý và hoạt động t tổng - văn hóa quan niệm: Đời sống văn hóa đợc hiểu một cách khái quát là hiện thực sinh động các hoạt động của con ngời trong môi trờng sống để duy trì, đồng thời tái tạo sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động, biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đôi mới, nâng cao chất lợng sống của chính con ngời [18, tr.
Tuy nhiên, quan niệm, nhận thức về văn hóa này đã đề cập tới phạm vi quá rộng, sẽ khó xác định cho việc triển khai về xây dựng đời sống văn hóa gắn với không gian, lĩnh vực cụ thể. Theo Đại từ điển của tác giả Nguyễn Nh Ý thì nghĩa hẹp, có thê nói: 10 Đời sống văn hóa chính là sự hoạt động của các quá trình sản xuất, phân phối, lu giữ và tiêu thụ những công trình khoa học văn hóa (sản phẩm văn hóa). Quá trình này biến các giá trị văn hóa tiềm tàng, thành những giá trị văn hóa hiện thực sao cho những giá trị văn hóa đó đi vào đời sống hàng ngày của mọi ngời trở thành một bộ phận hợp thành không thể tách rời, một thành tế thiết yêu của đời sống [22, tr. Nh vay, doi sống văn hóa là lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội.
Trong một số công trình nghiên cứu Mắy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nóc ta, tác giả Hoàng Vinh cho rằng, đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội. Đời sống xã hội là một phức thể những hoạt động sống của con ngời, nhằm đáp ứng nhu cầu của con ngời. Trong đó các hoạt động văn hóa đáp ứng nhu cầu tinh thần, làm cho con ngời tổn tại với t cách là một sinh thể xã hội, tức là con ngời tồn tại nh một nhân cách văn hóa [21]. Xã hội càng tiến hóa, nhu cầu văn hóa và sự đáp ứng nhu cầu đó càng cao, thể hiện trình độ phát triển Ngời.
Các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của con ngời, đó chính là hoạt động văn hóa. Nh vậy, đời sống văn hóa chính là tổng thể sống động các hoạt động văn hóa trong quá trình sáng tạo (sản xuất), bảo quản, phổ biến, tiêu dùng các sản phẩm văn hóa và sự giao lu văn hóa, nhằm thỏa mãn nhu cầu văn hóa của một cộng đồng. Hay nói cách khác nó thuộc đời sống xã hội, trong đó diễn ra các hoạt động văn hóa. Và con ngời là chủ thê thông qua các hoạt động sáng tạo ra các sản phẩm văn hóa, cũng là chủ thê tiêu dùng các sản phẩm đó và bảo quản, truyền bá văn hóa.
Nh vậy, con ngời là một dạng sản phẩm văn hóa cao cấp, bởi chính hoạt động văn hóa đã làm hoàn thiện bản chất ngời. Khái niệm đời sống văn hóa tỉnh thần DSVHTT không phải là một cơ cấu tĩnh tại, một hệ thống đóng kín, nằm im của những giá trị loại biệt mà là một tổng thê đang vận động của các giá trị tinh thần đợc thực hiện và thể hiện thông qua hoạt động của con 11 ngời trên các lĩnh vực khác nhau của sự sản xuất, trao đổi và tiêu dòng tính thần. Nói đến đời sống là nói “sinh hoạt”, nói “hoạt động”. ĐSVHTT là nói hoạt động của con ngời trên lĩnh vực tinh thần — hoạt động sản xuất, trao dôi và tiêu dùng giá trị tinh thần diễn ra trên các lĩnh vực t tởng, nghệ thuật, khoa học, giáo dục, tín ngỡng tôn giáo.
Các hoạt động ở các khâu nhu cầu, sản xuất, trao đổi, tiêu dòng giá trị tỉnh thần cũng nh ở lĩnh vực t tởng, nghệ thuật, khoa học, giáo dục, tín ngỡng tôn giáo không tách biệt nhau mà hòa quyện vào nhau. Trong tổng hòa sống động của các hoạt động đó, các gia tri tinh thần đợc tạo ra, lan tỏa và thâm thấu vào từng con ngời, tạo thành niềm tin bên trong, thành tình cảm, tâm lý, tập quán, thành lỗi sống, thành hành động tự nhiên hằng ngày của họ.