Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Sinh kế thích ứng của cư dân tái định cư ở thành phố Đà Nẵng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa" do nghiên cứu sinh Lư Thúy Liên thực hiện tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Xuân Hồng và PGS. Trần Xuân Bình, bảo vệ năm 2022 thuộc chuyên ngành Dân tộc học (mã số: 931.10).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày Đà Nẵng là đô thị giữ vị trí đầu tàu của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 16/10/2003 của Bộ Chính trị và Chương trình hành động số 16-CTr/TU ngày 19/11/2003 của Thành ủy Đà Nẵng về việc đẩy mạnh công tác quy hoạch, đầu tư kết cấu hạ tầng đồng bộ, thành phố đã triển khai hàng loạt dự án giải tỏa, di dời và tái định cư quy mô lớn. Sau gần 25 năm kể từ khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương (1997 - 2021), diện mạo đô thị thay đổi gắn liền với sự hình thành của một tầng lớp dân cư mới là cư dân tái định cư. Trước sự thay đổi về đất đai và chỗ ở, cư dân phải liên tục tìm kiếm, điều chỉnh và lựa chọn các hoạt động sinh kế để tồn tại và hòa nhập. Về mặt học thuật, tác giả chỉ ra rằng lý thuyết sinh kế và lý thuyết thích ứng đã được nghiên cứu nhiều thập kỷ, song lý thuyết về khái niệm kép "sinh kế thích ứng" vẫn còn hạn chế, cách hiểu chưa thống nhất và chưa thực sự thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu. Việc vận dụng lý thuyết này vào một địa bàn đô thị hóa cụ thể với đối tượng đặc thù là cư dân tái định cư vẫn là một khoảng trống cần được bổ sung. Nghiên cứu đồng thời hướng đến việc cung cấp cơ sở khoa học để phục vụ việc triển khai Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Mục đích nghiên cứu của luận án là từ kết quả nghiên cứu dân tộc học, xem xét quá trình biến đổi các hoạt động sinh kế từ trước đến sau tái định cư, mô tả, đánh giá, phân tích cấu trúc sinh kế thích ứng, từ đó đánh giá khả năng thích ứng về sinh kế của cư dân tái định cư, tạo cơ sở thực tiễn và căn cứ khoa học cho việc gợi mở các động thái gia tăng khả năng thích ứng trong sinh kế của cư dân tái định cư ở thành phố Đà Nẵng.

Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa lý thuyết về sinh kế và thích ứng.
  2. Đánh giá quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tái định cư và chuyển đổi hoạt động sinh kế của cư dân tái định cư ở thành phố Đà Nẵng.
  3. Phân tích cấu trúc sinh kế thích ứng của cư dân tái định cư ở thành phố Đà Nẵng.
  4. Nhận định khả năng thích ứng và gợi mở một số động thái gia tăng khả năng thích ứng trong sinh kế cho người dân tái định cư ở thành phố Đà Nẵng.

Đối tượng nghiên cứu là sinh kế thích ứng của cư dân tái định cư ở thành phố Đà Nẵng, được thể hiện cụ thể qua hai yếu tố: các nguồn vốn sinh kế và hoạt động sinh kế của cư dân tái định cư.

Phạm vi nghiên cứu được xác định:

  • Về không gian: Nghiên cứu tại các khu tái định cư thuộc 7 quận, huyện của thành phố Đà Nẵng gồm quận Hải Châu, quận Thanh Khê, quận Sơn Trà, quận Cẩm Lệ, quận Ngũ Hành Sơn, quận Liên Chiểu và huyện Hòa Vang. Riêng huyện đảo Hoàng Sa không thuộc phạm vi khảo sát do tính chất đặc thù và chưa diễn ra quá trình giải tỏa, tái định cư.
  • Về thời gian: Giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2020 (từ thời điểm Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương đến mốc tổng kết các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 5 năm và 10 năm của địa phương).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong văn bản được tác giả phân chia thành hai nhóm công trình chính: nhóm nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh kế và tái định cư, và nhóm nghiên cứu về sinh kế thích ứng.

Trong nhóm nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh kế và tái định cư:

  • Về tài liệu quốc tế: Hướng nghiên cứu về những thay đổi sau tái định cư tiêu biểu có Maruyama (2003) nghiên cứu tác động của tái định cư đối với sinh kế và quan hệ xã hội của người Gui và Gana San tại Khu bảo tồn Central Kalahari (Botswana); Bisrat Worku (2011) khảo sát tác động của tái định cư đối với dân cư tại Abobo Woreda (Ethiopia), chỉ ra mối liên hệ giữa quy mô đất đai, nhân khẩu hộ gia đình với sinh kế sau tái định cư; Moti Jaleta và cộng sự (2011) nghiên cứu tại Ethiopia về ảnh hưởng của tái định cư đến an ninh lương thực và áp lực chia sẻ tài nguyên với cộng đồng sở tại; Dubale và Tekalign Gunjefo (2010) đánh giá tác động tiêu cực của tái định cư nông thôn tại Isara (Dawuro, Ethiopia) đối với cả người di dời và cư dân bản địa.
  • Về tài liệu trong nước:
    • Hướng nghiên cứu tại khu vực đô thị có Lê Văn Thành (2010) tại thành phố Hồ Chí Minh, so sánh nhóm hộ nhận căn hộ chung cư (chịu chi phí sinh hoạt cao) và nhóm nhận đất nền (gặp khó khăn do ở xa nơi sản xuất); Phan Huy Xu nghiên cứu đời sống xã hội của người dân diện tái định cư tại thành phố Hồ Chí Minh; Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế Xã hội Đà Nẵng (2012) phân tích các nguồn vốn và đề xuất giải pháp sinh kế gắn với chương trình "5 không, 3 có"; Trần Văn Thận, Trần Văn Phương và cộng sự (2014) đánh giá 5 khía cạnh đời sống gồm việc làm, thu nhập, nhà ở, giáo dục - dạy nghề và môi trường sống.
    • Hướng nghiên cứu tại khu vực nông thôn và ven đô có Lê Du Phong (2007) phân tích thực trạng việc làm của người bị thu hồi đất cho các khu công nghiệp; Nguyễn Văn Sửu (2008, 2014) khảo sát biến đổi sinh kế của nông dân làng ven đô Phú Điền (Hà Nội), ghi nhận sự chuyển dịch sang cho thuê trọ và buôn bán nhỏ; Nguyễn Đức Hữu (2015) nghiên cứu sinh kế của nông dân mất đất tại Hải Dương; Nguyễn Thị Diễn và Vũ Đình Tôn (2012) khảo sát tại Hưng Yên, chỉ ra chỉ có 16% lao động tìm được việc làm trong nhà máy sau khi thu hồi đất; Nguyễn Văn Tạo (2016) khảo sát tại huyện Gia Lộc (Hải Dương); Trần Đức Sáng (2016) nghiên cứu quản lý xã hội tại các khu tái định cư ở Quảng Nam và Thừa Thiên Huế; Nguyễn Hồng Ban (2014) nghiên cứu sinh kế tại dự án Formosa (Hà Tĩnh); Nguyễn Thị Tám (2016) phân tích sinh kế cư dân làng chài dọc sông Lô (Tuyên Quang và Phú Thọ); Mai Văn Xuân và Hồ Văn Minh (2009) khảo sát tại Lao Bảo (Quảng Trị); Ngô Hữu Hoạnh nghiên cứu tại Hội An (Quảng Nam); Nguyễn Dũng Anh (2014) nghiên cứu việc làm của nông dân bị thu hồi đất tại Đà Nẵng.
    • Hướng nghiên cứu tại khu vực miền núi và dự án thủy điện có Trần Đức Viên, Nguyễn Vinh Quang, Mai Văn Thành (2005) tại Nghệ An và Sơn La; Bảo Huy và cộng sự (2005) tại Tây Nguyên; Nguyễn Văn Toàn, Trương Tấn Quân, Trần Văn Quảng (2012) tại Hướng Hóa (Quảng Trị); Trần Hồng Hạnh (2018) nghiên cứu thích ứng của đồng bào Hmông, Dao, Thái ở Tây Bắc; Phạm Trọng Lượng (2019) nghiên cứu người M'nông tái định cư do thủy điện Buôn Tua Srah (Đắk Lắk); cùng các nghiên cứu về thủy điện Sơn La của Lê Thạc Cán, Phạm Quang Hoan, Nguyễn Văn Hồng, Dương Thị Như Quỳnh; thủy điện tại Huế của Lê Thị Nguyện, Phạm Thị Bích Thủy.

Trong nhóm nghiên cứu về sinh kế thích ứng:

  • Tài liệu quốc tế gồm Mihret Jember Bahry (2010) khảo sát tại Metema (Ethiopia); Sinavong Phonevilay (2013) nghiên cứu sự thích ứng sinh kế của các cộng đồng Pao, Hmong, Phong chịu ảnh hưởng bởi thủy điện tại Lào trên 5 khía cạnh (vật chất, thiên nhiên, con người, kinh tế, xã hội), trong đó thích ứng xã hội đạt mức thấp nhất; Ryo Fujikura và Mikiyasu Nakayama (2019) đánh giá việc tái lập sinh kế sau tái định cư đập thủy điện tại Indonesia, Nhật Bản và Sri Lanka, nhấn mạnh khía cạnh bất lợi về giới ở Sri Lanka và sự phân hóa cơ hội việc làm giữa các thế hệ ở Indonesia.
  • Tài liệu trong nước gồm Nguyễn Gia Đôi, Nguyễn Anh Tuấn, Lê Hải Đăng (2012) phân tích sự thích ứng của cư dân tiền sử tại Tràng An; Tổ chức Oxfam (2008) khảo sát sinh kế thích ứng với thiên tai tại Bến Tre và Quảng Trị; Hoàng Ngọc Tường Vân (2013) nghiên cứu mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng trũng Thừa Thiên Huế; Ngô Thị Phương Lan (2014) phân tích hành vi chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: Phần lớn các công trình trước đây tập trung vào biến đổi sinh kế hoặc sinh kế bền vững ứng phó với biến đổi khí hậu; các nghiên cứu tái định cư ở đô thị chủ yếu tiếp cận theo góc độ xã hội học nhằm phản ánh thực trạng đời sống mà chưa đi sâu mô tả cơ chế thích ứng sinh kế như một quá trình vận động linh hoạt. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách xác lập cơ sở lý luận về cấu trúc và khả năng thích ứng sinh kế, tiếp cận đối tượng cư dân tái định cư đô thị tại Đà Nẵng dưới lăng kính của dân tộc học.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết, khái niệm và khung phân tích sau:

  • Khái niệm sinh kế và sinh kế bền vững: Kế thừa định nghĩa của DFID (2001), sinh kế được hiểu là các hoạt động cần thiết mà cá nhân hay hộ gia đình thực hiện dựa trên các khả năng và nguồn vốn sinh kế để kiếm sống và đạt mục đích. Luận án sử dụng khung 5 nguồn vốn sinh kế của DFID gồm vốn tự nhiên, vốn con người, vốn xã hội, vốn tài chính và vốn vật chất. Sinh kế bền vững được tiếp cận theo quan điểm của Robert Chambers, Gordon Conway (1992), Ian Scoones (1998) và Koos Neefjes (2009), nhấn mạnh năng lực chống chịu, phục hồi trước các cú sốc và duy trì tài sản mà không làm suy thoái nguồn tài nguyên. Về chiến lược sinh kế, tác giả dẫn phân loại của P. Seppala gồm chiến lược tích lũy, chiến lược tái sản xuất và chiến lược tồn tại (trong đó chiến lược tồn tại là một biểu hiện của sinh kế thích ứng).
  • Khái niệm và lý thuyết thích ứng: Tiếp cận sự thích ứng dưới góc độ xã hội học và dân tộc học, phân biệt với thích nghi sinh học theo luận điểm của Lê Thị Thanh Hương và Vũ Dũng (2012). Luận án vận dụng quan điểm thích ứng sinh thái của Holling (1996) và James Scott (2009), xem thích ứng là quá trình linh hoạt, không chỉ đơn thuần là trở lại trạng thái cân bằng cũ (thích ứng kỹ thuật) mà là chuyển dịch trạng thái để tồn tại trong điều kiện môi trường biến đổi. Luận án đồng thời tham chiếu mô hình phân tích cấu trúc thích ứng của Linda Hutcheon (2006).
  • Lý thuyết trường, tập tính và vốn của Pierre Bourdieu: Sử dụng khái niệm "trường" (field) để phân tích không gian xã hội khu tái định cư với những quy tắc và thiết chế riêng; khái niệm "tập tính" (habitus) để lý giải thói quen, cách ứng xử của người dân được định hình trong quá khứ và tương tác với môi trường mới; và ba loại vốn (vốn kinh tế, vốn xã hội, vốn văn hóa) chi phối khả năng lựa chọn hoạt động mưu sinh của cá nhân. Khái niệm vốn xã hội của Bourdieu (gắn với cá nhân và mạng lưới) cũng được đặt trong đối sánh với quan điểm của Robert Putnam (2000, vốn xã hội như năng lực tập thể).
  • Khung phân tích của luận án kết nối 3 thành tố: (1) Cấu trúc của sinh kế thích ứng (Chủ thể thích ứng, Đối tượng thích ứng, Mô hình thích ứng); (2) Quá trình sinh kế thích ứng; và (3) Khả năng thích ứng sinh kế (được quyết định bởi sự tương tác giữa yếu tố bên trong - nguồn lực sinh kế và yếu tố bên ngoài - chính sách, thị trường).

Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  • Phương pháp thu thập tư liệu thành văn: Phân loại, tổng hợp tài liệu thứ cấp, văn bản pháp luật, số liệu thống kê.
  • Phương pháp điền dã Dân tộc học:
    • Quan sát tham dự: Ghi chép cảnh quan, không gian sống, hoạt động sinh kế tại các khu tái định cư.
    • Phỏng vấn sâu (PVS): Thực hiện phỏng vấn 10 chuyên gia, cán bộ quản lý và nhà nghiên cứu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (mã hóa ký hiệu PVS kèm chữ số La Mã).
    • Khảo sát bằng bảng hỏi (KSBBH): Điều tra ngẫu nhiên 300 hộ gia đình tái định cư tại các khu tái định cư trên địa bàn các quận Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Cẩm Lệ, Liên Chiểu và Ngũ Hành Sơn (mã hóa ký hiệu KSBBH kèm chữ số Latin). Dữ liệu định lượng được làm sạch, nhập liệu và xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 16.
    • Thảo luận nhóm: Tổ chức 6 cuộc thảo luận nhóm, mỗi nhóm gồm 5 người (1 cán bộ phường, 1 tổ trưởng dân phố và 3 người dân tham gia hoạt động sinh kế tương ứng). 6 nhóm tương ứng với 6 lĩnh vực ngành nghề: (1) Nhóm nông ngư; (2) Nhóm kỹ thuật và công nhân; (3) Nhóm thủ công và xây dựng; (4) Nhóm lắp ráp và vận hành máy móc, thiết bị; (5) Nhóm buôn bán và cung cấp dịch vụ; (6) Nhóm công việc giản đơn. Các công cụ tham gia được áp dụng gồm: phân tích SWOT, cây vấn đề (đánh giá nguyên nhân và hệ quả của thiếu việc làm), và biểu đồ Venn (đánh giá vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội).
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh giữa tư liệu thứ cấp và dữ liệu điền dã sơ cấp; so sánh lịch đại (nguồn vốn và hoạt động sinh kế trước và sau tái định cư); so sánh đồng đại giữa các khu vực (vùng lõi đô thị, khu đô thị mới, khu vực ven biển).
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Kết hợp phân tích định tính và xử lý thống kê mô tả định lượng.

Nguồn tư liệu sử dụng gồm tư liệu thành văn từ các công trình nghiên cứu, niên giám thống kê, văn bản chính sách của Trung ương và Đà Nẵng; cùng hệ thống tư liệu sơ cấp thu thập từ điền dã dân tộc học (quan sát, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm và 300 bảng hỏi khảo sát).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận, phương pháp và khái quát địa bàn nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, xác lập khung lý thuyết, quy trình phương pháp luận và trình bày bức tranh tổng quan về địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Về điều kiện tự nhiên, Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 1.283,42 km² (trong đó các quận nội thành chiếm 241,51 km², các huyện ngoại thành chiếm 1.041,91 km²). Địa hình gồm đồng bằng, núi, sông, biển; đồi núi chiếm hơn 70% diện tích tự nhiên với độ dốc lớn. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 25,9°C, độ ẩm trung bình 83,4%. Về mặt địa chất, hầu hết các khu tái định cư có kết cấu nền vững chắc, tuy nhiên một số khu vực địa hình trũng thấp như khu tái định cư Hòa Xuân có hiện tượng nền đất yếu, dễ sụt lún, đòi hỏi người dân phải gia cố nền móng khi xây dựng.

Về đặc điểm kinh tế - xã hội và nhân khẩu: Dân số toàn thành phố theo Tổng điều tra năm 2019 là 1.134.310 người (nam giới chiếm 576.000 người, tương đương 50,7%; nữ giới chiếm hơn 558.000 người). Tỷ lệ tăng dân số bình quân giai đoạn 2010 - 2020 đạt 2,45%/năm (khu vực thành thị tăng 2,25%/năm, khu vực nông thôn tăng 1,98%/năm). Tỷ lệ đô thị hóa của Đà Nẵng đạt 87,7% vào năm 2018; mật độ dân số năm 2019 đạt khoảng 883 người/km²; quy mô nhân khẩu bình quân thường trú là 3,6 người/hộ.

Chỉ số dân cư và lao động tại địa bàn nghiên cứu Số liệu ghi nhận trong văn bản
Dân số thành phố Đà Nẵng (năm 2019) 1.134.310 người
Tỷ lệ nam giới / nữ giới (năm 2019) Nam: 50,7% (576.000 người) / Nữ: >558.000 người
Tốc độ tăng dân số bình quân (2010 - 2020) 2,45%/năm (thành thị: 2,25%, nông thôn: 1,98%)
Tỷ lệ dân cư sống ở khu vực thành thị (năm 2018) 87,7%
Mật độ dân số trung bình (năm 2019) 883 người/km²
Quy mô nhân khẩu thường trú bình quân 3,6 người/hộ
Quy mô lực lượng lao động năm 1997 299.574 người
Quy mô lực lượng lao động năm 2017 547.007 người (tăng 1,83 lần so với 1997)
Tốc độ tăng trưởng lao động bình quân kép (1997 - 2017) 3,43%/năm (1997-2003: 2,91%; 2004-2010: 3,59%; 2011-2015: 3,83%)

Chương 2: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi hoạt động sinh kế của cư dân tái định cư ở thành phố Đà Nẵng

Chương 2 tập trung phân tích tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với hoạt động quy hoạch hạ tầng đô thị, phản ánh thực trạng các khu tái định cư và sự dịch chuyển cơ cấu sinh kế của cư dân. Tác giả khảo sát sự thay đổi diện mạo không gian qua các mốc triển khai chính sách giải tỏa mặt bằng, thu hồi đất quy mô lớn trên toàn thành phố.

Nội dung chương ghi nhận thực trạng tái định cư qua việc phân loại các nhóm tiếp nhận (nhận đất nền tái định cư và nhận căn hộ chung cư), đồng thời đánh giá mức độ hài lòng của người dân đối với hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội tại các khu dân cư mới (thông qua Bảng 2.1 của luận án). Việc thu hồi đất nông nghiệp và chuyển đổi mục đích sử dụng đất đã dẫn đến sự biến đổi căn bản trong cơ cấu nghề nghiệp của người dân: từ chỗ phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), ngư nghiệp (đánh bắt, nuôi trồng ven bờ, sông biển) và buôn bán nhỏ tại lõi đô thị cũ, cư dân buộc phải chuyển dịch sang các lĩnh vực phi nông nghiệp.

Chương này trình bày dữ liệu so sánh các hoạt động sinh kế trước và sau tái định cư, cơ cấu nguồn thu nhập của hộ gia đình giai đoạn 1998 - 2020, thực trạng đào tạo nghề giai đoạn 2010 - 2016 và mức độ tiếp cận các chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp của chính quyền địa phương. Kết quả chỉ ra một bộ phận lao động gặp khó khăn khi tìm kiếm việc làm chính thức tại các nhà máy, xí nghiệp do rào cản về độ tuổi, trình độ học vấn và tay nghề, dẫn đến tình trạng việc làm bấp bênh và gia tăng khu vực lao động phi chính thức.

Chương 3: Cấu trúc sinh kế thích ứng của cư dân tái định cư ở thành phố Đà Nẵng

Chương 3 vận dụng khung lý thuyết để phân tích cấu trúc sinh kế thích ứng của cư dân theo ba thành tố cốt lõi:

Thứ nhất là chủ thể sinh kế thích ứng: Phân tích đặc điểm nhân khẩu học và xã hội của các hộ gia đình điều tra (độ tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật, quy mô lao động trong gia đình). Dữ liệu thực nghiệm chỉ ra sự khác biệt rõ rệt về khả năng thích ứng giữa các nhóm thế hệ và giới tính; thế hệ trẻ có trình độ học vấn cao hơn có xu hướng thích ứng nhanh với các ngành nghề kỹ thuật, công nghiệp và dịch vụ hiện đại, trong khi lao động trung niên và cao tuổi chịu sự ràng buộc của tập tính sản xuất cũ.

Thứ hai là đối tượng và tác nhân thích ứng: Bao gồm các yếu tố tác động từ môi trường sinh thái tự nhiên, việc suy giảm nguồn vốn tự nhiên (mất đất canh tác, mất không gian mặt nước tiếp cận nghề cá), áp lực từ các quy chuẩn sinh hoạt đô thị, chi phí dịch vụ tăng, sự biến động của thị trường lao động và những can thiệp từ các khung chính sách hỗ trợ, đền bù giải tỏa của chính quyền thành phố.

Thứ ba là các mô hình sinh kế thích ứng: Tác giả hệ thống hóa các dạng thức mưu sinh sau tái định cư dựa trên việc phân bổ và kết hợp 5 nguồn vốn (vốn con người, vốn vật chất, vốn xã hội, vốn tài chính, vốn tự nhiên). Luận án xây dựng bảng biểu phân tích hoạt động sinh kế đa thể của hộ gia đình theo lát cắt một ngày và chu kỳ một năm, phản ánh chiến lược đa dạng hóa nguồn thu để phân tán rủi ro. Các mô hình sinh kế tiêu biểu gồm:

  • Mô hình sinh kế dựa vào công nghiệp và lao động kỹ thuật: Lao động tham gia làm công nhân tại các khu công nghiệp, xưởng sản xuất, lái xe, vận hành máy móc.
  • Mô hình sinh kế thương mại và dịch vụ đô thị: Tận dụng mặt bằng nhà ở tái định cư mở quán ăn, buôn bán tạp hóa, cung cấp dịch vụ sinh hoạt dân sinh.
  • Mô hình sinh kế nông - ngư nghiệp tận dụng: Khai thác các diện tích đất quy hoạch treo, đất dự án chưa thi công để trồng rau hoặc duy trì đánh bắt ven sông, biển quy mô nhỏ.
  • Mô hình sinh kế việc làm giản đơn và phi chính thức: Lao động làm thuê theo thời vụ, phụ hồ, thu mua phế liệu, chạy xe ôm, giúp việc gia đình.

Chương 4: Khả năng thích ứng và gợi ý một số động thái gia tăng khả năng thích ứng trong sinh kế của cư dân tái định cư ở thành phố Đà Nẵng

Chương 4 tập trung nhận định năng lực thích ứng của cư dân, xác định các yếu tố chi phối và đề xuất giải pháp chính sách.

Về khả năng thích ứng, tác giả đánh giá thông qua mức độ ổn định thu nhập, khả năng tích lũy tài sản và khả năng chống chịu trước các cú sốc kinh tế. Qua kết quả thảo luận nhóm và sơ đồ cây vấn đề, luận án làm rõ tình trạng thiếu việc làm và việc làm không ổn định của một bộ phận cư dân tái định cư, đặc biệt là nhóm lao động trên 40 tuổi và lao động thuần nông trước đây. Tác giả tổng hợp tình trạng nghề nghiệp trước khi mất việc và phân tích nguyên nhân qua ý kiến đánh giá của chuyên gia và người dân (ghi nhận tại Hộp 4.1 và Hộp 4.2).

Về các yếu tố ảnh hưởng, luận án chỉ ra hai nhóm nhân tố:

  • Nhóm yếu tố bên trong (nội tại): Gồm chất lượng nguồn vốn con người (học vấn, kỹ năng nghề, tình trạng sức khỏe), quy mô vốn tài chính tích lũy và mạng lưới vốn xã hội (quan hệ dòng họ, láng giềng cũ và mới).
  • Nhóm yếu tố bên ngoài (ngoại cảnh): Cơ chế bồi thường, hỗ trợ đất đai; chất lượng các chương trình đào tạo nghề của thành phố; vị trí địa lý của khu tái định cư; khả năng hấp thụ lao động của thị trường công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn.

Về gợi ý một số động thái gia tăng khả năng thích ứng, tác giả đề xuất:

  • Đổi mới công tác đào tạo và chuyển đổi nghề nghiệp: Thiết kế các khóa đào tạo gắn liền với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp trên địa bàn, tránh đào tạo hình thức; mở rộng đối tượng hỗ trợ theo nhóm tuổi.
  • Hỗ trợ tài chính và tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi: Tạo điều kiện cho các hộ tái định cư vay vốn phát triển kinh doanh dịch vụ, thương mại nhỏ.
  • Tái cấu trúc không gian và hạ tầng xã hội: Nâng cao chất lượng hạ tầng dân sinh tại các khu tái định cư, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể (Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân) trong việc gắn kết cộng đồng và hỗ trợ nguồn vốn xã hội.
  • Hoàn thiện thể chế chính sách: Gắn công tác quy hoạch, thu hồi đất với kế hoạch tạo lập việc làm dài hạn cho người dân, triển khai hiệu quả mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống theo tinh thần Nghị quyết 43-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án góp phần làm rõ và phát triển khái niệm "sinh kế thích ứng" từ góc độ Dân tộc học/Nhân học. Bằng việc kết hợp lý thuyết khung sinh kế bền vững của DFID với lý thuyết thích ứng sinh thái (Holling, James Scott) và lý thuyết trường, tập tính, vốn (Pierre Bourdieu), công trình xác lập khung phân tích đa chiều về cấu trúc sinh kế thích ứng gồm chủ thể, đối tượng, mô hình và khả năng thích ứng, xem xét sinh kế như một quá trình vận động linh hoạt chứ không cố định ở trạng thái tĩnh.

Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp hệ thống tư liệu thực nghiệm toàn diện về quá trình chuyển đổi sinh kế của cư dân tái định cư tại thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 1997 - 2020. Luận án chỉ ra các mô hình sinh kế cụ thể, phản ánh những rào cản nội tại và ngoại cảnh khiến người dân gặp khó khăn trong việc thiết lập sinh kế bền vững. Các kết quả khảo sát và phân tích thực chứng đóng vai trò là căn cứ khoa học giúp các nhà quản lý đô thị và cơ quan hoạch định chính sách của thành phố Đà Nẵng điều chỉnh chính sách thu hồi đất, đền bù, đào tạo nghề và an sinh xã hội phù hợp với từng nhóm đối tượng dân cư.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, như tác giả tự nhìn nhận trong lời cảm ơn, công trình không tránh khỏi những thiếu sót nhất định trong quá trình thu thập và bao quát toàn diện các khía cạnh sinh kế của mọi nhóm cư dân. Về phạm vi địa bàn, luận án chưa thể bao quát huyện đảo Hoàng Sa do tính chất đặc thù về vị trí địa lý và nơi đây chưa triển khai các dự án giải tỏa, tái định cư.

Về hướng nghiên cứu tiếp, văn bản gợi mở sự cần thiết của việc tiếp tục theo dõi, đánh giá khả năng thích ứng dài hạn của các thế hệ tiếp theo (thế hệ con em của các hộ tái định cư ban đầu) trong bối cảnh Đà Nẵng định hướng chuyển dịch thành đô thị sinh thái, thông minh và trung tâm dịch vụ - du lịch chất lượng cao theo Nghị quyết 43-NQ/TW.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên thuộc các chuyên ngành Dân tộc học, Nhân học, Xã hội học, Quản lý công và Kinh tế phát triển. Phần cơ sở lý luận về sinh kế thích ứng và phương pháp kết hợp điền dã dân tộc học với điều tra xã hội học (SPSS, SWOT, cây vấn đề, biểu đồ Venn) là tài liệu mẫu mực về thiết kế nghiên cứu hỗn hợp.
  • Cán bộ quản lý đô thị, các nhà hoạch định chính sách tại các cơ quan ban ngành của thành phố Đà Nẵng (Ban giải phóng mặt bằng, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng) và các địa phương đang trong tiến trình đô thị hóa mạnh mẽ, nhằm tham khảo các căn cứ thực tiễn để xây dựng chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm sau tái định cư.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "sinh kế thích ứng" được luận án tiếp cận theo góc độ lý thuyết nào?
Luận án tiếp cận sinh kế thích ứng không phải là một trạng thái cố định mà là một quá trình linh hoạt, có tính thích ứng sinh thái theo quan điểm của Holling (1996) và James Scott (2009). Cấu trúc của sinh kế thích ứng được phân tích thông qua sự tích hợp giữa khung 5 nguồn vốn sinh kế của DFID, quan điểm cấu trúc thích ứng của Linda Hutcheon và lý thuyết về "trường, tập tính và vốn" của Pierre Bourdieu.

2. Quy mô mẫu khảo sát thực địa của luận án được tiến hành như thế nào?
Về định lượng, tác giả khảo sát ngẫu nhiên bằng bảng hỏi trên cỡ mẫu N = 300 hộ gia đình tái định cư tại 5 quận thuộc địa bàn Đà Nẵng (Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Cẩm Lệ, Liên Chiểu, Ngũ Hành Sơn), xử lý bằng phần mềm SPSS 16. Về định tính, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu N = 10 chuyên gia/nhà quản lý và tổ chức 6 cuộc thảo luận nhóm (mỗi nhóm 5 người) phân theo 6 nhóm ngành nghề sinh kế.

3. Vì sao địa bàn huyện đảo Hoàng Sa không được đưa vào phạm vi nghiên cứu của đề tài?
Theo trình bày của tác giả ở phần phạm vi không gian, huyện đảo Hoàng Sa mang tính chất đặc thù về chủ quyền và địa lý, tại đây chưa diễn ra quá trình triển khai các dự án quy hoạch giải tỏa, thu hồi đất và bố trí tái định cư dân cư đô thị như 7 quận, huyện đất liền của thành phố Đà Nẵng.

4. Dữ liệu văn bản ghi nhận tốc độ tăng trưởng lực lượng lao động của Đà Nẵng giai đoạn 1997 - 2017 là bao nhiêu?
Theo Niên giám Thống kê Đà Nẵng được luận án trích dẫn, lực lượng lao động của thành phố tăng từ 299.574 người (năm 1997) lên 547.007 người (năm 2017), tức tăng 1,83 lần. Tốc độ tăng lao động bình quân kép của cả thời kỳ 1997 - 2017 đạt 3,43%/năm (giai đoạn 1997 - 2003 đạt 2,91%/năm, giai đoạn 2004 - 2010 đạt 3,59%/năm, giai đoạn 2011 - 2015 đạt 3,83%/năm).

5. Luận án đã sử dụng những công cụ đánh giá có sự tham gia nào trong các cuộc thảo luận nhóm?
Trong 6 cuộc thảo luận nhóm tại cơ sở, tác giả đã áp dụng 3 công cụ tham gia cụ thể: công cụ ma trận SWOT (phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của từng nhóm sinh kế), công cụ cây vấn đề (nhận diện tình trạng thiếu việc làm, phân tích nguyên nhân và hệ quả), và công cụ biểu đồ Venn (đánh giá mức độ liên kết, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội đối với sinh kế cư dân).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lư Thúy Liên là công trình nghiên cứu hệ thống thuộc chuyên ngành Dân tộc học về vấn đề chuyển đổi sinh kế của cư dân tái định cư tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997 - 2020. Bằng việc kết hợp các khung lý thuyết sinh kế của DFID, lý thuyết thích ứng sinh thái và lý thuyết thực hành xã hội của Pierre Bourdieu với phương pháp điền dã dân tộc học và điều tra định lượng, tác giả đã làm rõ cấu trúc, mô hình và năng lực thích ứng của người dân sau giải tỏa mặt bằng. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp vào việc bổ sung khoảng trống học thuật về lý thuyết sinh kế thích ứng mà còn cung cấp các cứ liệu thực chứng phục vụ công tác hoạch định chính sách an sinh xã hội và phát triển đô thị bền vững tại địa phương.