Chương 1 NGOẠI THƯƠNG ĐÀNG TRONG THẾ KỶ XVII – XVIII VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA CÁC CẢNG THỊ Ở NAM BỘ 1. Vài nét về Nam bộ 1. Điều kiện tự nhiên Nam bộ Nam bộ là vùng đất nằm phía nam của nước ta. Ranh giới Nam bộ phía Tây giáp Vịnh Thái Lan, phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông, phía Bắc và Tây Bắc giáp Campuchia và một phần phía Tây Bắc giáp Nam Trung Bộ.
Địa hình Nam bộ nhìn chung khá bằng phẳng. Đây là vùng đồng bằng rộng lớn nhất nước ta nhưng được chia thành hai vùng thiên nhiên rõ rệt: Đông Nam bộ là vùng đất hơi cao chếch về phía đông bắc, cao hơn mực nước biển từ 100m - 200m và Tây Nam bộ là vùng đất thấp được phù sa màu mỡ bồi đắp bởi con sông lớn nhất Đông Nam Á, được gọi là vùng châu thổ đồng bằng sông Cửu Long nằm phía tây nam. Vùng thấp nhất là miền tây đồng bằng, từ Cần Thơ đến mũi Cà Mau và vịnh Thái Lan. Nam bộ là vùng đất được phủ lên một hệ thống sông ngòi dày đặc với hai hệ thống sông lớn là hệ Mékong (người Việt gọi nôm na là sông Cửu Long) và hệ Đồng Nai.
Sông Mékong dài 4200km, là một trong những con sông dài nhất thế giới, nhận nước trong một lưu vực rộng trên 800. Phần hạ lưu sông Mékong chảy vào địa phận Nam bộ dài 250km, theo hai nhánh lớn là sông Tiền và sông Hậu [35: 24]. Hai con sông này càng chảy ra biển càng phân thành nhiều nhánh với cửa sông rộng đến vài kilômét. Sông Tiền nhận đến 2/3 lưu lượng nước sông Mékong và có lòng sâu hơn nên mang nhiều nước và phù sa, và đổ ra biển qua sáu cửa tính từ bắc xuống nam là cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên và cửa Cung Hầu.
Sông Hậu chảy ra biển theo một dòng duy nhất khi cách biển khoảng 75km sông Hậu chia làm hai nhánh là cửa Định An, cửa Tranh Đề và cửa 15 chính là cửa Bát Xắc. Hai con sông này lại chia thành nhiều nhánh khác tỏa đi khắp miền đồng bằng. Nước sông Mékong không chứa nhiều phù sa nhưng khối lượng nước đổ ra biển lớn (khoảng 100 triệu tấn mỗi năm, gấp 4 đến 8 lần sông Hồng) nên lượng phù sa lắng đọng nhiều, tạo nên độ màu mỡ cho đất. Hệ Đồng Nai bao gồm sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và sông Vàm Cỏ.
Sông Đồng Nai dài 580km là con sông quan trọng thứ hai ở Nam bộ, sau khi tiếp nhận các sông La Ngà, sông Bé và gặp sông Sài Gòn nó đổ ra biển với nhiều nhánh: sông Đồng Tranh, sông Ngã Bảy, sông Lòng Tảo, sông Soài Rạp. Như vậy, hệ thống sông ngòi dày đặc ở Nam bộ không những tạo nên một vùng đồng bằng rộng lớn, mà nó còn có giá trị về nguồn thủy sản và nuôi trồng thủy sản, giá trị tưới tiêu cho hệ thống nông nghiệp và tạo thành một mạng lưới giao thông đường thủy cũng như văn hóa sông nước đặc trưng vùng đồng bằng Nam bộ. Khí hậu Nam bộ có đặc điểm chung là có một nền nhiệt độ cao và hầu như không thay đổi trong năm do ở gần xích đạo, địa hình bằng phẳng và thấp sàn sàn mực nước biển. Nhiệt độ trung bình năm cao khoảng 26 oC đến 27 oC, tổng nhiệt độ năm lên tới 9500 đến 10000oC [59: 219].
Nam bộ có hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô. Lượng mưa hàng năm dao động từ 966 - 1325mm và góp trên 70 - 82% tổng lượng mưa trong suốt cả năm, độ ẩm trung bình năm vào khoảng 82% đến 83%1. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 với độ ẩm trung bình vượt quá 83% đến 85%. Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau với độ ẩm trung bình trên dưới 80%.
Khí hậu Nam bộ ổn định và điều hòa hơn khí hậu các vùng khác trên khắp nước ta. Ở đây, ít có thiên tai do khí hậu gây ra, khí hậu nóng ẩm quanh năm, mưa nắng đều nhiều; không có thời tiết quá lạnh như Bắc bộ, giới hạn thấp nhất của nhiệt độ không xuống đến dưới 12 – 13oC, không có gió tây khô nóng như Trung bộ, ít bão và có bão cũng yếu, diễn biến thất thường từ năm này qua năm khác cũng rất nhỏ. Với tính chất ổn định và đồng nhất tương đối của khí hậu Nam 1 http://vi.org/wiki 16 bộ đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự sống phát triển, cho nền sản xuất nông nghiệp cũng như sinh hoạt của con người trên vùng đất này. Với điều kiện tự nhiên như trên, nguồn tài nguyên chính yếu của Nam bộ chủ yếu là lâm sản với các loại gỗ quý, các rừng tràm, tre, đước…; gạo là tài nguyên chính của miền đồng bằng sông Cửu Long với diện tích tự nhiên lớn khoảng 4.000 hecta, đất nông nghiệp có trên 2.000 hecta [35: 22] đã đem lại sản lượng lúa gạo lớn không những đáp ứng đủ nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài.
Ngoài ra, hải sản cũng là nguồn tài nguyên quan trọng của Nam bộ với bờ biển dài, hệ thống kênh rạch dày đặc, nguồn thủy hải sản phong phú về chủng loại và sản lượng. Qua vài nét về điều kiện tự nhiên, Nam bộ nổi bật là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi trong việc phát triển các ngành kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp, đặc biệt là ngành nông nghiệp trồng lúa nước. Là một đồng bằng rộng lớn, Nam bộ đã tạo ra những sản phẩm nông nghiệp với khối lượng lớn mang tính chất hàng hóa nhằm thúc đẩy nhu cầu trao đổi giữa Nam bộ với các vùng khác cũng như với các nước trên thế giới. Và chính điều kiện tự nhiên này là tiền đề đầu tiên cho một nền thương mại phát triển ở Nam bộ trong lịch sử cũng như hiện nay.
Khái lược lịch sử Nam bộ Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ được chính sử ghi nhận đến nay mới hơn 300 năm, chúng ta vẫn biết đây là vùng đất trẻ, vẫn gọi là đất sinh sau đẻ muộn của dân tộc ta nhưng kết quả khảo cổ học đã chứng minh, Nam bộ là vùng đất có lịch sử lâu đời. Những khám phá khảo cổ học cho thấy con người đã có mặt ở đây khoảng từ 2500 năm đến 4000 năm cách ngày nay, hoạt động và cư trú của con người bao quát cả vùng Nam bộ với mật độ cư trú khác nhau [35: 33]. Những cư dân đầu tiên cư trú ở những vùng đất cao thuộc miền Đông Nam bộ, lấy nghề trồng trọt là nghề chính nhưng là trồng lúa khô, lúa rẫy, trồng lúa nước còn rất hạn chế. Bên cạnh đó, con người thời kỳ đầu này còn sinh sống bằng nghề săn bắt thú rừng và thủy sản.
Sau đó, những cư dân đầu tiên này đã tiến xuống vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long khai phá và xây dựng ở 17 đây một nền văn minh phát triển rực rỡ, mà các nhà khảo cổ ngày nay gọi là văn hóa Óc Eo. Văn hóa này do cư dân của một vương quốc có tên gọi là Phù Nam xây dựng, nằm ở phía nam của nước Lâm Ấp (Champa) tương ứng với vùng đất Nam bộ ngày nay. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện văn hóa Óc Eo phân bố trù mật trên địa bàn các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang và nhiều địa điểm khác thuộc đồng bằng Nam bộ ngày nay. Phù Nam là một quốc gia ven biển, chủ thể là người Mã Lai – Đa Đảo, có truyền thống hàng hải và thương nghiệp phát triển.
Trong thời kỳ cường thịnh từ thế kỷ thứ III đến thế kỷ thứ VI, Phù Nam trở thành một đế chế lớn mạnh có ảnh hưởng, chi phối toàn bộ vùng vịnh Thái Lan và kiểm soát con đường giao thương huyết mạch từ Nam Đông Dương sang Ấn Độ qua eo Kra [18: 19]. Sau thời kỳ phát triển rực rỡ, Phù Nam bắt đầu quá trình tan rã vào cuối thế kỷ thứ VI. Trong khi đó, Chân Lạp là một thuộc quốc của Phù Nam đang lớn mạnh, một quốc gia của người Khmer ở vùng trung lưu sông Mékong và phía bắc Biển Hồ. Nhân sự suy yếu của Phù Nam, Chân Lạp tấn công chiếm một phần lãnh thổ của đế chế này vào đầu thế kỷ VII.
Theo Tùy Thư: “Nước Chân Lạp nằm về phía Tây Nam nước Lâm Ấp, nguyên là một nước chư hầu của Phù Nam… Họ vua là Sát Lỵ (Kshatrya), tên là Trì Đà Tư Na (Chitrasena); tổ tiên ông đã dần hồi phát triển quyền lực của xứ sở. Trì Đà Tư Na đánh chiếm Phù Nam và khuất phục nước đó” [15: 129]. Sau đó, Tân Đường Thư ghi rõ: “Vua Phù Nam đóng đô ở Đặc Mục. Đột nhiên thành bị quân Chân Lạp đánh phá, nhà vua phải bôn tẩu về phía Nam đến thành Na Phất Na” [15: 129].
Như vậy, từ đầu thế kỷ VII, vùng đất Nam bộ ngày nay phụ thuộc vào Chân Lạp. Từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ XVI, về cơ bản vùng đất Nam bộ ngày nay thuộc quyền quản lý của Chân Lạp nhưng trên thực tế, Chân Lạp đã không thực sự quản lý và khai thác được vùng đất này. Chân Lạp chia làm hai phần lãnh thổ cơ bản mà trong sách sử Trung Quốc gọi là “Thủy Chân Lạp” để chỉ vùng lãnh thổ Phù Nam trên đất Nam bộ ngày nay và phân biệt với “Lục Chân Lạp” tức là vùng đất gốc của Chân Lạp. Đối với vùng đất thấp, còn sình lầy như 18 Thủy Chân Lạp, người Khmer chưa khai thác được do truyền thống quen khai thác vùng đất cao, dân số còn ít.
Mặt khác, việc khai thác trên vùng đất Lục Chân Lạp đang dồn sức phát triển vùng trung tâm ở khu vực Biển Hồ, trung lưu sông Mékong và mở rộng ra phía Tây. Hơn nữa, việc cai quản và khai thác vùng đất Thủy Chân Lạp luôn là tình trạng chiến tranh giữa Chân Lạp và Champa. Hơn thế nữa, từ thế kỷ VII đến thế kỷ XII, vùng đất này bị chìm ngập trong nước biển do tình trạng biển tiến. Do vậy, cho đến thế kỷ XIII, vùng đất Nam bộ ngày nay vẫn chưa được khai thác nhiều, cư dân còn thưa thớt.
Các nhà nghiên cứu cho rằng, mãi đến cuối thế kỷ XII, đầu thế kỷ XIII mới có một bộ phận cư dân Khmer từ “Lục Chân Lạp” đến đây sinh sống. Họ tụ cư trên các giồng cát ven sông và ven biển để làm ruộng rẫy. Từ thế kỷ thứ XIV, Chân Lạp phải đối phó với sự bành trướng, xâm lấn của vương triều Xiêm.