Chương 1: Nguồn nhân lực - những vấn đề lý luận và kinh nghiệm Chương 2- Tình hình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam Chương 3: Quan điểm, phương hướng và biện pháp chủ yếu phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. 4 Chương | NGUON NHÂN LUC- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VA KINH NGHIỆM LL CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Khái niệm nguồn nhân lực * Sức lao động và thành tố của nó Lao động của con người là yếu tố chủ thể quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội trên những bậc thang tiến hoá sản xuất xã hội là sản phẩm của những tương tác giữa con người với tự nhiên và ngược lại, khởi phát từ con người để cải biến tự nhiên, chinh phục tự nhiên nhằm tự bảo tồn và phát triển. Nhân tố con người, đặc biệt là nhân tố sức lao động có đặc trưng thể hiện khả năng phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất xã hội, có tác dụng quan trọng đối với sự phát triển của xã hội loài người.
Sức lao động, tức năng lực của người lao động, bao gồm “toàn bộ những năng lực thể chất và tỉnh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” [ 11, 218] * Thể chất Thể lực của con người được xác định bởi kết cấu cơ thể sinh học của con người (chiều cao, cân nặng, sự cân đối của cơ thể, sự nhạy cảm, sức chịu đựng, .) hoạt động theo những chức năng tự nhiên do các quy luật sinh học điều khiển và điều tiết. Cùng với sự phát triển nền kinh tế, nền văn minh xã hội, cơ thể sinh học của con người cũng ngày càng phát triển và hoàn thiện theo quy luật tiến hoá. Cơ thể khoẻ mạnh, thích nghi với môi trường sống thì năng lượng do nó sinh ra sẽ đảm bảo đáp ứng yêu cầu một hoạt động cụ thể nào đó. Nhân tố này chịu ảnh hưởng của mức sống vật chất và sự chăm sóc sức khoẻ, nhất là trong giai đoạn phát triển ban đầu.
Phương A) thức công nghệ của sản xuất vật chất như hái lượm, san ban, sản xuất với những công cu thô sơ đòi hỏi sự hao phí chủ yếu là năng lượng sinh học của người lao động. Vai trò quyết định của nhân tố thể lực kéo dài từ thuở sơ khai của lịch sử loài ngoài (tức là khoảng 8000 năm trước công nguyên) cho tới khi làn sóng thứ hai - nền văn minh công nghiệp tràn tới. Tuy nhiên đối với những nước kém phát triển chưa sử dụng hết năng lượng của làn sóng thứ hai thì với dân số đông, sức lao động dư thừa, vẫn có thể sử dụng và nên tận dụng ưu thế của nhân tố thể lực, mặc dù nó không còn có ý nghĩa quyết định. Thể lực có ý nghĩa quan trọng quyết định năng lực hoạt động của con người.
Phải có thể lực con người mới có thể phát triển trí tuệ và các quan hệ của mình trong xã hội. * Tinh thần Tri lực được xác định bởi các tri thức chung về khoa học (khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội), trình độ kiến thức chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm làm việc và khả năng tư duy xét đoán của mỗi con người. Theo nghĩa đơn giản, thông tin là cơ sở của sự hiểu biết về một số đối tượng nhất định. Vì vậy đối với mỗi con người, trí lực về thực chất là một hệ thống thông tin đã được xử lý và lưu giữ lại trong bộ nhớ của mỗi cá nhân con người và được thực hiện qua nhiều kênh khác nhau.
Nhờ trí tuệ, khả năng đánh giá và xử lý thông tin của mình, con người đã chế ngự và lợi dụng được sức mạnh của thiên nhiên để bảo tồn va phát triển xã hội của mình một cách có hiệu qua. Mặc đù sức mạnh thể lực, tính bên bỉ, khéo léo có ý nghĩa to lớn đối với con người, song những phẩm chất này dân được đưa xuống hàng thứ hai. Các khả năng trí tuệ, tính linh hoạt, nhanh nhẹn tạo nên trước đây bây giờ do nghệ thuật sở hữu thông tin dam bảo. Nhu vay, ý nghĩa của tri thức trong cuộc sống con người không những không giảm đi như có thể tưởng sau khi con người được khẳng định dứt khoát là chủ nhân của hành tinh, ma trái lại, càng ngày càng tang lên vì vị trí 6 của con người trong xã hội phần nhiều được xác định bởi khả năng xử lý thông tin của mình.
Thông tin nuôi dưỡng tri thức đã giảm nhẹ công việc của con người. Tri thức cho phép con người tạo ra và sử dụng các công cụ lao động từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất, hiện đạt nhất. Tất cả những gì mà con người có được hiện nay đều là nhờ ở khả năng biết tiếp nhận, xử lý thông tin của mình. Toàn bộ lịch sử hình thành và phát triển của con người đều gắn liền với việc hoàn thiện khả nang này cùng với sự gia tăng khối lượng thông tin mà xã hội thu thập được.
Trí lực của con người được phát triển thông qua lao động sản xuất, giáo dục và đào tạo. Khi nói tới tinh thần không thể bỏ qua các yếu tố tinh cảm, tập quán, truyền thống, quan niệm, các hình thái tư tưởng, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật,. Thành tố này là một bộ phận của "sản phẩm tinh thần chung của sự phát triển xã hội" cùng tồn tại và phát triển với quá trình của lịch sử xã hội loài người, của lịch sử phát triển từng quốc gia, dân tộc,. Angghen đã nhiều lần nhấn mạnh giá trị của yếu tố tinh thần trong đó có giá trị khoa học trong sự phát triển lực lượng sản xuất.
Ông cho rằng con người tham gia vào sản xuất với những tính chất vật chất và tinh than, rang ngoài các thành phần sáng tạo và tất nhiên, yếu tố tính thần sẽ thuộc loại các yếu tố của sản xuất và nam trong chi phí sản xuất. Theo đà phát triển của sản xuất xã hội, của khoa học kỹ thuật, không chỉ các phương tiện kỹ thuật từ đồ đá phát triển qua từng nấc thang đến máy móc phức tạp tính vi mà chính bản thân con người cũng phát triển từ trình độ thấp đến cao về cả yếu tố vật chất lẫn tinh thần. | Yếu tố tinh thần 1a kết quả của một quá trình tích luỹ lâu dài của xã hội. Một nền văn hoá với bản sắc riêng của mình luôn là điều kiện sống còn của một dân tộc.
Nó luôn là sức mạnh phát huy tiém nang vô tận của một dân tộc về trí tuệ, tài năng, tình cam và ý chí,. đó chính là sức mạnh nội tai của một dân tộc. Kinh nghiệm thành công trong phát triển kinh tế của Nhật 7 Bản và các nước NICs châu Á là tiếp thu kỹ thuật phương Tây trên cơ sở khai thác và phát huy những giá trị tốt đẹp cuả nền văn hoá dân tộc để đổi mới và phát triển. Từ hàng trăm năm nay, Nhật Bản vẫn theo phương châm “kỹ thuật phương Tây + đạo lý Nhật Bản”.
Công nghệ dù cao đến đâu cũng mới chỉ là “phần cứng”, chính văn hoá con người mới đóng vai trò “phần mềm” trong việc vận dụng công nghệ vào điều kiện kinh tế cụ thể của đất nước để đạt được kết quả tối ưu. Sức mạnh của các nước NICs được lý giải bởi sự kết hợp giữa “phần cứng” và “phần mềm” ấy. Sự phát triển kinh tế của một quốc gia luôn gắn liền với sự phát triển xã hội. Phát triển những giá trị tinh thần mới là nền tang của một quốc gia mạnh.
| Kiến thức của xã hội, sản phẩm tính thần chung của sự phát triển xã hội có khả năng phát triển không ngừng và với cường độ ngày càng cao, nhất là trong giai đoạn mà cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, trong sự bùng nổ của những phát minh, sáng chế, thong tin,. Như vậy nhân tố sức lao động bao gồm cả đặc trưng về vật chất (thể lực) và những đặc trưng về tính thần (trí lực và yếu tố xã hội). Chúng luôn tồn tại, tương tác và cùng phát triển trong đó yếu tố tính thần đặc biệt là trí lực có vai trò quyết định hàng đầu. * Nguồn nhân lực ˆ Nguồn nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu như nguồn lực con người (Human Resources) của một quốc gia, một vùng lãnh thổ (vùng, tinh, .) là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội như nguồn lực vật chất (Physical Resources), nguồn lực tài chính (Hinancial Resources) khái niệm lực lượng lao động (Labuor force) theo ILO là dân số hoạt động kinh tế - xã hội bao gồm cả lực lượng quân đội và tư nhân nhưng không bao gồm những người làm nội trợ và những việc không được trả công khác.
Lực lượng lao động được xác định thông qua tổng số dân, tỷ lệ dân số theo nhóm tuổi, giới tính R và những yếu tố xã hội như các loại hình giáo dục đào tạo, sự tự nguyện làm việc ngoài xã hội của người lao động, đặc biệt là phụ nữ. Nguồn nhân lực (theo nghĩa hẹp và có thể lượng hoá được) là một bộ phận của dân số, bao gồm những người trong độ tuổi quy định có khả năng lao động. Nguồn nhân lực nói chung không phải sản sinh ra để đáp ứng yêu cầu kinh tế mà chủ yếu do các yếu tố xã hội và sinh học quyết định. Tuy nhiên sự phát triển nguồn nhân lực có tác động mạnh mẽ đến phát triển kinh tế xã hội và ngược lại.
Vấn đề đặt ra là làm sao sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực để tăng trưởng, phát triển nền kinh tế. Ngược lại cần phát triển kinh tế như thế nào để có khả năng sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, đồng thời đem lại những thay đổi tiến bộ về chất lượng cũng như cơ cấu nguồn nhân lực. Số lượng nguồn nhân lực được xác định dựa trên quy mô dân số, cơ cấu tuổi, giới tính và sự phân bổ theo khu vực và vùng lãnh thổ của dân số.