CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Tái cấu trúc tài chính của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọngđối với sự tồn tại, phát triển bền vững của doanh nghiệp cũng như chi phối hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp, đồng thời cũng là một phạm trù lý thuyết tương đối phức tạp và cần đượclàm rõ ở nhiều khía cạnh, do vậy ở trong và nước ngoài đã có nhiềunghiên cứu về tái cấu trúc tài chính của doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC Đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu thực hiện ở trong nước về các vấn đề có liên quan đến các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, hoặc cơ cấu vốn, nguồn vốn của các DN nhà nước. Cụ thể như sau: - Hệ thống các công trình nghiên cứu của tác giả Phạm Quang Trung liên quan đến quản lý tài chính nói chung và cơ cấu tài chính, tái cơ cấu tài chính nói riêng tại các Tập đoàn kinh tế như: “Mô hình Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam đến năm 2020” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – 2013); “Mô hình công ty mẹ - công ty con và tái cơ cấu tài chính các tổng công ty lớn” (Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân – 2007); “Quản lý Tài chính trong các Tập đoàn kinh doanh (Tổng công ty) ở Việt Nam” (Tạp chí Kinh tế phát triển - 1997); “Bàn về cấu trúc và kiểm soát tài chính của Tập đoàn kinh tế” (Hội thảo “Tập đoàn kinh tế Lý luận và Thực tiễn” – 2009). Các nghiên cứu nàydođược thực hiện trong giai đoạn Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam mới chỉ phát triển trong một thời gian khá ngắn nên chủ yếuchú trọng đến việc xây dựng mô hình, cơ cấu tổ chức của Tập đoàn, mà chưa có nhiều nghiên cứu để xây dựng cấu trúc tài chính phù hợp.
Mặt khác, các nghiên cứu dựa trên các mô hình Tập đoàn kinh tế trên thế giới,từđó ứng dụng vào Việt 7 Nam, qua đó tác giả cũng chỉ đưa ra các giải pháp mang tính vĩ mô, không thể áp dụng cho mọi Tập đoàn, Tổng Công ty Nhà nước. - Một số công trình nghiên cứu về cơ cấu vốn của một số doanh nghiệp cụ thể như các nghiên cứu của các tác giả Bùi Văn Thi trong các luận văn thạc sỹ (2001) với đề tài "Đổi mới cơ cấu nguồn vốn của Công ty Shell Gas Hải phòng" và Lê Thu Thuỷ (2004) với đề tài "Đổi mới cơ cấu vốn của Công ty xây dựng Lũng lô". Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới chỉ dừng ở mức độ phân tích thực trạng cơ cấu vốn tại các doanh nghiệp cụ thể với quy mô vốn nhỏ, các đề xuất mang tính định tính để đổi mới cơ cấu vốn tại các doanh nghiệp nghiên cứu, không áp dụng được chung cho mô hình tổng công ty. - Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Thanh Tú (Đại học Kinh tế quốc dân) (2006) với đề tài "Hoàn thiện cơ cấu vốn tại các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay".
Luận án đã đưa ra mô hình kinh tế lượng để xác định ảnh hưởng của một sốnhân tố rất cơ bản và truyền thống của doanh nghiệp là lãi vay, cơ cấu tài sản, tỷ suất sinh lời, chi phí vốn chủ sở hữu, rủi ro ngành, thuế suất tới cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Từ đó đưa ra các giải pháp để hoàn thiện cơ cấu vốn như xác định cơ sở thiết lập cơ cấu vốn tối ưu, đa dạng hóa các kênh huy động nợ dài hạn, tăng huy động vốn chủ sở hữu bằng phát hành cổ phiếu,. Tuy nhiên, các giải pháp này còn chung chung và mang tính vĩ mô. - Luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng (Viện khoa học xã hội Việt Nam, 2012) “Tác động của chính sách tài chính - tiền tệ tới tình hình tài chính doanh nghiệp của doanh nghiệp may Việt Nam”.Luận án đã đánh giá thực tế tác động của chính sách tài chính - tiền tệ đến tài chính doanh nghiệpmay Việt Nam, qua đó đề xuất giải pháp hạn chế tác động tiêu cực và phát huy tác động tích cực của các chính sách tài chính - tiền tệ đến tài chính doanh nghiệpmay Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, các giải pháp này chỉ phù hợp áp dụng cho các DN thuộc lĩnh vực may mặc. 8 Tóm lại, trong những năm qua, mặc dù đã có nhiều công trình, đề tài thực hiện ở trong nước về các vấn đề có liên quan đến các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, hoặc cơ cấu nguồn vốn của các DN nhà nước. Tuy nhiên, các nghiên cứu này hoặc là mới chỉ chú trọng đến việc xây dựng mô hình, cơ cấu tổ chức của Tập đoàn mà chưa có nhiều nghiên cứu để xây dựng một cấu trúc tài chính phù hợp, hoặc là các giải pháp tái cấu trúc tài chính còn mang tính vĩ mô trên cơ sở đánh giá khái quát một số Tập đoàn, Tổng Công ty nhà nước, hoặc lại quá cụ thể tại một số doanh nghiệp vừa. Không áp dụng được tại một số Tập đoàn kinh tế, Tổng Công ty nhà nước đặc thù, trong đó có Tổng Công ty Sông Đà.
NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ NƯỚC NGOÀI Liên quan đến cấu trúc và tái cấu trúc tài chính của cácdoanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu với các phương pháp tiếp cận và mức độ tiếp cận khác nhau cả trên phương diện lý luận và thực tiễn. Các nghiên cứu về cấu trúc tài chính của các nhà nghiên cứu trên thế giới tập trung theo các nhóm vấn đề chính sau đây: - Nghiên cứu của Myers năm 1984 về cơ cấu nguồn vốn cho thấy nếu một công ty có đòn bẩy tài chính cao thì cổ đông có khuynh hướng không đầu tư nhiều vào dự án của công ty, bởi lợi nhuận từ các khoản đầu tư này sẽ có lợi cho các chủ nợ hơn là các cổ đông. Vì vậy, các công ty tăng trưởng cao với nhiều dự án sinh lời thường dựa vào vốn chủ nhiều hơn là đi vay. - Nghiên cứu của Titman và Wessels (1988) ở các nước phát triển đã chỉ ra rằng: những công ty có lợi nhuận cao thường duy trì tỷ lệ nợ thấp.Nhóm các nghiên cứu tập trung làm rõ cơ sở lý luận và kiểm chứng trên thực tế để giải thích cho việc các doanh nghiệp ưa thích tài trợ bằng nợ (vốn vay) hơn là vốn chủ sở hữu.
Ở trường phái này ta thấy rõ ở các nghiên cứu của Sheridan Titman và Roberto Wessls (1988) khi các ông cho rằng tỷ lệ nợ có quan hệ nghịch duy 9 nhất với ngành nghề kinh doanh ("line of business") của một doanh nghiệp hay nói cách khác Titman cho rằng các doanh nghiệp mà có thể áp chi phí cao hơn đối với khách hàng, công nhân và nhà cung cấp của họ một cách tiềm năng khi thanh lý, phá sản doanh nghiệp là các doanh nghiệp có hệ số nợ thấp hơn. Do vậy, hẳn nhiên tăng nợ vay thay vì tăng vốn chủ sở hữu là xu hướng lựa chọn của các doanh nghiệp. - Nghiên cứu của Rajan và Zingales (1995) đã đưa ra một nghiên cứu rất điển hình về cơ cấu vốn của các doanh nghiệp ở các nước OECD. Nghiên cứu đã cho thấy mối quan hệ ngược chiều khá chặt chẽ giữa giá trị sổ sách của cổ phiếu với đòn bẩy tài chính.
- Nhóm các nghiên cứu đi vào đề xuất các mô hình nghiên cứu nhằm chỉ ra một hay một vài nhân tố đơn lẻ tác động hay có mối liên hệ đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Điển hình là nghiên cứu của Giáo sư Federick H. Harris trường Đại học Wake Forest (Bang Winston Salem, Mỹ) (1988), đã đề xuất mô hình nghiên cứumối liên hệ giữa cấu trúc tài sản, mức đảm nhiệm doanh thu và cơ cấu vốn. Trong khi đó nghiên cứu của Williams Gentry (1988 – 1991) cho rằng doanh nghiệp có tỷ trọng tài sản cố định trên tổng tài sản càng cao thì càng phải sử dụng nhiều vốn chủ sở hữu.
Bằng việc kiểm chứng giả thuyết về quan hệ giữa mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính và tỷ lệ chi trả cổ tức của các Công ty liên danh của Mỹ trong ngành công nghiệp khai thác dầu khí, Gentry (1994) đã phát hiện ra rằng, các công ty liên danh do không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp nên có tỷ lệ chi trả cổ tức cao hơn và sử dụng nợ ít hơn so với các công ty cùng ngành nghề. Điều này phù hợp với mô hình lý thuyết M&M và các nghiên cứu về tác động củayếu tố thuế đến sự lựa chọn cơ cấu vốn. Năm 2003, Graham cũng đã tiến hành một điều tra về tác động của thuế đến cơ cấu vốn của các doanh nghiệp Mỹ. Không những thế Reinte Gropp (1995), một nhà nghiên cứu kinh tế nổi tiếng của Ngân hàng Trung ương Châu Âu đã phát triển 10 nghiên cứu về tác động của thuế đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp với đề xuất một mô hình nghiên cứu kết hợp nhiều loại thuế kinh doanh của Chính quyền địa phương tác động đến cơ cấu vốn của các doanh nghiệp Đức [49].
Mô hình cũng chỉ ra rằng phần tiết kiệm thuế theo Luật thuế của Đức khi các doanh nghiệp tài trợ một tỷ lệ nhất định bằng nợ sẽ thay đổi theo sắc thuế của từng địa phương. Fischer (1989) lại đi tìm mối quan hệ giữa chi phí giao dịch đối với cơ cấu vốn của doanh nghiệp theo lý thuyết trật tự phân hạng. Ông đã sử dụng mô hình quyền chọn giá và phát hiện ra chỉ một thay đổi nhỏ trong chi phí vốn (chi phí giao dịch) cũng dẫn đến một thay đổi đáng kể trong cơ cấu vốn mục tiêu. Cũng đi theo hướng này, nghiên cứu của Michaely và Thaler (1995) đã phát hiện ra rằng, trái ngược với những lý thuyết tối ưu về chi trả cổ tức, các giámđốc doanh nghiệp dường như chi trả cổ tức dựa trên cơ sở thu nhập trong quá khứ nhiều hơn chứ không phải là thu nhập trong tương lai.
Năm 2002, Baker và Wurgler đã tiến hành một điều tra sự ảnh hưởng của tỷ lệ thu nhập trên cổ phiếu trong quá khứ tới cơ cấu vốn của doanh nghiệp, họ đã chỉ ra rằng tỷ lệ thu nhập này ảnh hưởng có tính chất quyết định đối với việc phát hành cổ phiếu của công ty (tức là quyết định việc tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp). - Nhóm các nghiên cứu về mối quan hệ tương tác giữa giá trị thị trường/giá trị sổsách của doanh nghiệp, của cổ phiếu và mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp.