PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Mỗi quốc gia, trên con đƣờng phát triển của mình, tùy thuộc hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, sẽ có những lựa chọn khác nhau. Đó có thể là sự phát triển dựa vào nội lực, hoặc thông qua mở cửa, gia tăng quan hệ thƣơng mại (QHTM), đầu tƣ. với bên ngoài.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa phát triển mạnh mẽ hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều lựa chọn hội nhập. Tuy nhiên, mở cửa và phát triển các QHTM trong khuôn khổ hợp tác song phƣơng hay đa phƣơng chỉ là phƣơng tiện để các quốc gia đạt đến mục tiêu phát triển tối cao của đất nƣớc. Về lý thuyết, có nhiều nghiên cứu cho thấy cơ sở và lợi ích của phát triển QHTM giữa các quốc gia. Nghiên cứu của Smith (1776), Ricardo (1817), Heckscher-Ohlin (1933) và các nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng quan hệ thƣơng mại quốc tế (TMQT) giữa các quốc gia nằm ở sự khác biệt giữa các quốc gia về nhân lực và trình độ sử dụng nhân lực, tài nguyên, công nghệ, trình độ phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của quốc gia.
Phát triển QHTM là phƣơng án tối ƣu giúp quốc gia tận dụng đƣợc lợi thế để tham gia vào phân công lao động và hợp tác quốc tế. Phát triển QHTM đồng thời cũng góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế nhờ chuyên môn hóa, tận dụng đƣợc lợi thế của tính kinh tế theo quy mô, đƣa đến cho các chủ thể trong nƣớc sự lựa chọn đa dạng hơn về hàng hóa, dịch vụ cũng nhƣ giúp chính phủ điều tiết nền kinh tế một cách hiệu quả nhất. Từ phát triển QHTM, những tiền đề của hội nhập về chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội (VH-XH), an ninh quốc phòng. cũng sẽ đƣợc tạo dựng và phát triển.
Phát triển QHTM giữa các quốc gia có thể đƣợc thực hiện trên các cấp độ và phạm vi khác nhau. Tuy nhiên, việc lựa chọn các đối tác trong khu vực địa lý để phát triển QHTM giúp quốc gia tận dụng đƣợc những điểm tƣơng đồng với các quốc gia khu vực để phát triển. Với các nƣớc đang phát triển, kết quả của phát triển QHTM với các nƣớc phát triển trong khu vực có thể dẫn đến việc hình thành mạng lƣới sản xuất, gia tăng hợp tác khu vực (Kojima 1978, Krugman 1991). Nghiên cứu thực nghiệm của Yusuf (2003, tr.96-97) chỉ ra rằng “những vấn đề nào không thể đƣợc giải quyết trong khuôn khổ đa phƣơng thì có thể đƣợc giải quyết thỏa đáng và hiệu quả hơn từ tiếp cận khu vực.
Các thành viên trong khu vực có cùng lịch sử, đối mặt về cùng vấn đề, áp dụng chính sách chung, chia sẻ sự hiểu biết chung về các cơ hội kinh tế, thƣơng mại (TM) nên dễ dàng cho hợp tác và phát triển”. Với Việt Nam, từ chủ trƣơng “độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại” và phƣơng châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước -2- trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” đƣợc nêu ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đầu những năm 90, trải qua hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt đƣợc nhiều kết quả đáng khích lệ trong phát triển quan hệ đối ngoại. Tính đến hết năm 2018, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 187 nƣớc, xây dựng quan hệ đối tác chiến lƣợc toàn diện với 3 nƣớc và đối tác chiến lƣợc với 13 nƣớc, là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực (Hoài Đăng&Quang Anh, 2019). Tuy nhiên, điểm sáng trong quá trình đổi mới phải kể đến là phát triển các QHTM.
Việt Nam hiện có QHTM và đầu tƣ với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, đã ký và thực hiện/sẽ thực hiện 16 hiệp định thƣơng mại tự do (FTA), trong đó có các FTA thế hệ mới. Điều này tạo cho Việt Nam cơ hội mới nhƣng đồng thời cũng phải đối diện với những thách thức trong phát triển kinh tế, VH-XH. Từ đây đặt ra một vấn đề muốn tận dụng cơ hội, giảm thiểu thách thức trong phát triển, Việt Nam phải nhận diện đúng và khách quan hiện trạng nền kinh tế, về các cải cách, điều chỉnh có liên quan đến phát triển các quan hệ và tận dụng cơ hội do các mối quan hệ này đƣa lại, trong đó có QHTM giữa Việt Nam với các nƣớc Đông Á. Việc tăng cƣờng QHTM với Đông Á đƣợc xem là nhu cầu cần thiết trong quá trình phát triển KT-XH của Việt Nam, nhất là khi Đông Á đã nổi lên nhƣ một đầu tàu của kinh tế thế giới thời gian qua.
Trong QHTM, Việt Nam và các nƣớc Đông Á đã xác lập đƣợc khuôn khổ phát triển qua các FTA song phƣơng và đa phƣơng đã ký. Việt Nam đã nâng tầm quan hệ đối tác chiến lƣợc với 12/19 quốc gia/vùng lãnh thổ ở Đông Á. Vị thế của các quốc gia Đông Á với Việt Nam gia tăng, không chỉ ở tầm ảnh hƣởng về đƣờng lối đối ngoại mà còn thể hiện rõ trong phát triển TM và đầu tƣ. Về TM, năm 2018, tổng kim ngạch (KN) xuất nhập khẩu (XNK) của Việt Nam với Đông Á đạt 292,6 tỷ USD, chiếm 60,9% tổng KN XNK của Việt Nam (Bộ Công thƣơng, 2019a).
Về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI), tổng số dự án đầu tƣ của các quốc gia/vùng lãnh thổ Đông Á vào Việt Nam còn hiệu lực là 17. Tuy nhiên, bên cạnh thành công, hiện đang nổi lên không ít hạn chế, thách thức trong QHTM Việt Nam với Đông Á. Cụ thể: Chính sách và biện pháp nhà nƣớc sử dụng góp phần thúc đẩy quan hệ với các nƣớc Đông Á và thế giới, đặc biệt là chính sách hội nhập và chính sách thuế XNK. Tuy nhiên, chất lƣợng nguồn nhân lực và năng suất lao động của Việt Nam còn thấp so với khu vực, cơ sở hạ tầng trong một số ngành dịch vụ nhƣ vận tải còn chƣa theo kịp trình độ phát triển.
Hợp -3- tác Việt Nam – Đông Á chƣa khai thác hết đƣợc tiềm năng và thế mạnh của các bên bởi theo các chuyên gia [Phụ lục 2, trang 179] các quan hệ mới chỉ phát triển theo chiều rộng mà chƣa đi vào chiều sâu. Trong khu vực, QHTM của Việt Nam với Đông Á chủ yếu phát triển ở kênh song phƣơng, với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản. QHTM Việt Nam – Đông Á. Theo thống kê của Bộ Công thƣơng, tỷ lệ tận dụng chứng nhận xuất xứ ƣu đãi của Việt Nam trong các FTA đã ký với các nƣớc Đông Á còn thấp (ngoại trừ Hàn Quốc – tỷ lệ năm 2018 là 60%).
Đặc biệt, thâm hụt cán cân thƣơng mại (CCTM) của Việt Nam với Đông Á có xu hƣớng gia tăng, nhất là với Trung Quốc, Hàn Quốc, các nƣớc ASEAN 6. Năm 2018, nhập siêu từ thị trƣờng Đông Á đạt 64,3 tỷ USD, trong đó của ASEAN là 7 tỷ USD, Hàn Quốc là 29,3 tỷ USD, Trung Quốc là 24,2 tỷ USD (Bộ Công thƣơng, 2019a). Những thách thức, bất cập này đòi hỏi các bên cùng tháo gỡ để đƣa quan hệ hợp tác TM lên tầm cao đúng với mục tiêu hợp tác cả hai bên cùng mong muốn và hƣớng tới. Trong thời gian tới, Đông Á đƣợc dự báo sẽ trở thành tâm điểm của sự chuyển dịch vai trò khu vực trong tƣơng quan với các khu vực trên thế giới.
Xu hƣớng hình thành cấu trúc quyền lực khu vực thể hiện trên cả góc độ an ninh-chính trị và kinh tế. Về kinh tế, đó là sự gia tăng vai trò của các cơ chế hợp tác TM song phƣơng và đa phƣơng (Trịnh Thị Hoa & Nguyễn Thị Hằng, 2018). Với nhiều tầng nấc hợp tác, vai trò trung tâm của ASEAN trong hợp tác TM, tài chính ngày càng gia tăng. Vai trò của các nƣớc lớn trong khu vực Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) ngày càng đƣợc khẳng định.
Điều này có ảnh hƣởng lớn đến vi thế và các quan hệ của Việt Nam với khu vực. Vì vậy, một số văn bản định hƣớng của Việt Nam cho hội nhập và phát triển giai đoạn đến 2030 nhƣ Quyết định số 40/QĐ-TTg về “Chiến lƣợc tổng thể hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, Quyết định số 2471/QĐ-TTg về “Chiến lƣợc XNK hàng hóa thời kỳ 2011-2020, định hƣớng đến năm 2030”, Quyết định số 1467/QĐ-Ttg phê duyệt “Đề án phát triển các thị trƣờng khu vực thời kỳ 2015-2020, tầm nhìn đến năm 2030” đều chỉ rõ Việt Nam cần tiếp tục triển khai, tận dụng tối đa cơ hội phát triển QHTM với các nƣớc trong khu vực Đông Á nhằm tạo sự kết nối (nhân lực, thể chế, kết cấu hạ tầng) hiệu quả đồng thời giúp Việt Nam đạt mục tiêu cải cách thông qua hội nhập. Từ những lý do nêu trên, để đạt đƣợc mục tiêu đề ra trong hội nhập và phát triển các quan hệ quốc tế, câu hỏi đặt ra là Việt Nam cần phải làm gì và làm nhƣ thế nào để phát triển QHTM giữa Việt Nam với các nƣớc Đông Á. Góp phần giải quyết vấn đề này, nghiên cứu sinh (NCS) lựa chọn đề tài “Phát triển quan hệ thương mại Việt Nam với các nước Đông Á đến năm 2030” để nghiên cứu.
Đề tài mang tính cấp thiết, có ý nghĩa thiết thực về cả lý luận và thực tiễn. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 2. Công trình nghiên cứu về quan hệ thƣơng mại giữa các quốc gia Có rất nhiều công trình nghiên cứu đƣợc xem là kinh điển khi đề cập đến cơ sở và nguồn gốc của phát triển QHTM giữa các quốc gia. A (1776) trong “An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations” cho rằng các quốc gia đều có lợi khi tham gia vào TMQT và TM dựa trên nguyên lý lợi thế tuyệt đối.
Theo đó, mỗi quốc gia nên chuyên môn hóa vào sản xuất các sản phẩm mà họ có lợi thế tuyệt đối sau đó bán những hàng hóa này sang quốc gia khác để đổi lấy các sản phẩm nƣớc ngoài sản xuất hiệu quả hơn. Tuy nhiên, Ricardo. D (1817) trong “Principles of Political Economy and Taxation” lại chỉ ra sự khác biệt về chi phí so sánh mới quyết định QHTM giữa hai quốc gia. Lý thuyết chi phí so sánh lần đầu đƣợc trình bày có hệ thống trong tác phẩm này của Ricardo và sau đó đƣợc phát triển thêm bởi các nhà kinh tế nhƣ Mill, Marshall, Taussig.
Theo Ricardo, mỗi quốc gia nên chuyên môn hóa vào sản xuất và xuất khẩu (XK) các sản phẩm mà họ có lợi thế so sánh và nhập khẩu (NK) những sản phẩm mà quốc gia bất lợi nhất (về mặt chi phí tƣơng đối).