Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ xã hội học "Hoạt động đào tạo nghề cho thanh niên trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" được nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Vân Hạnh thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Đặng Cảnh Khanh, bảo vệ năm 2008 (Mã số chuyên ngành: 62 31 30 01).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH-HĐH) và hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực có kỹ năng và trình độ kỹ thuật cao. Hội nghị quốc tế của 150 quốc gia về giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp tại Seoul năm 1999 đã đưa ra khuyến nghị về việc tăng cường vị thế của đào tạo nghề (ĐTN) và xác định giáo dục nghề nghiệp là hướng đi chủ yếu trong học tập suốt đời. Tuy nhiên, tại Việt Nam, trong một thời gian dài tồn tại tình trạng mất cân đối cơ cấu nhân lực "nhiều thầy ít thợ", tỷ lệ người tốt nghiệp đại học, cao đẳng cao hơn nhiều so với kỹ thuật viên và công nhân kỹ thuật lành nghề.
Nghị quyết Trung ương lần thứ hai khoá VIII (tháng 12/1996) cùng kết luận tại Hội nghị Đào tạo nghề, việc làm và xuất khẩu lao động toàn quốc năm 2007 đã chỉ rõ những bất cập: nhận thức xã hội về học nghề còn hạn chế, hệ thống dạy nghề phát triển chậm và mất cân đối, cơ sở vật chất nghèo nàn, nội dung đào tạo chưa sát thị trường, quản lý còn phân tán. Về mặt học thuật, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về ĐTN từ năm 2000 trở lại đây còn tương đối hạn chế (theo số liệu tra cứu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam ngày 11/4/2007, trong 61 ấn phẩm về ĐTN và dạy nghề chỉ có 24 tài liệu được xuất bản từ năm 2000 trở đi). Đặc biệt, phần lớn các công trình tiếp cận dưới góc độ giáo dục học hoặc kinh tế học, thiếu vắng các công trình phân tích toàn diện dưới lăng kính xã hội học giáo dục để làm rõ mối quan hệ giữa ĐTN với cơ cấu xã hội và nhu cầu của thanh niên.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn, tiến hành đánh giá thực trạng hoạt động ĐTN cho thanh niên ở Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động này.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ cụ thể:
- Làm rõ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động ĐTN cho thanh niên.
- Phân tích, đánh giá thực trạng, nội dung, phương pháp, chất lượng và hiệu quả của hoạt động ĐTN cho thanh niên ở nước ta hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm hoàn thiện chính sách, tăng cường sự quản lý của nhà nước, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả ĐTN và phát triển nguồn nhân lực trẻ.
Giả thuyết nghiên cứu
Luận án xây dựng hai giả thuyết nghiên cứu chính:
- Nhu cầu thực tế của thị trường đối với lao động qua ĐTN hiện nay rất lớn, tạo cơ hội thuận lợi cho việc phát triển lĩnh vực ĐTN, đặc biệt là đối với thanh niên. Tuy nhiên, nhu cầu ĐTN của bản thân thanh niên hiện nay không cao, trở thành một trở lực lớn. Việc giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu thực tế của thị trường lao động và nhu cầu ĐTN của thanh niên sẽ tạo ra động lực căn bản để thúc đẩy các hoạt động ĐTN cho thanh niên phát triển.
- Chất lượng hoạt động ĐTN cho thanh niên ở nước ta hiện nay còn thấp, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thị trường lao động. Việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động ĐTN không chỉ dựa vào các giải pháp nội bộ của bản thân hoạt động này (như giáo viên, nội dung chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dạy), mà cần tìm kiếm các giải pháp đồng bộ nhằm phát triển cả hệ thống, tạo lập các điều kiện xã hội cơ bản để nâng cao nhu cầu đào tạo, đa dạng hoá các loại hình đào tạo và cải tiến phương thức quản lý nhà nước.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động ĐTN cho thanh niên.
- Khách thể nghiên cứu: Các cơ sở ĐTN; đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên dạy nghề; đối tượng tuyển sinh; người theo học nghề; người sử dụng lao động (nhà tuyển dụng).
- Khách thể khảo sát: Học sinh lớp 12 tại các trường trung học phổ thông (THPT) thuộc địa bàn nghiên cứu được chọn.
- Phạm vi thời gian: Thu thập và xử lý dữ liệu trong giai đoạn từ tháng 11/2002 đến tháng 12/2006.
- Phạm vi không gian: Khảo sát xã hội học thực địa tại 6 tỉnh, thành phố đại diện cho 3 miền Bắc, Trung, Nam và hai khu vực thành thị - nông thôn: Hà Nội, Hải Dương, Nghệ An, Đắk Lắk, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai. Phân tích số liệu thứ cấp trên phạm vi toàn quốc.
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Luận án tập trung mô tả và phân tích hoạt động ĐTN chính thức trong hệ thống giáo dục quốc dân (gồm trường dạy nghề, trung tâm dạy nghề và trường trung học chuyên nghiệp) qua 8 khía cạnh: (1) Quy mô đào tạo; (2) Cơ sở vật chất; (3) Đội ngũ giáo viên; (4) Phương pháp đào tạo; (5) Nội dung đào tạo; (6) Chất lượng đào tạo; (7) Hệ thống văn bằng chứng chỉ; (8) Hoạt động quản lý nhà nước. Luận án không nghiên cứu các loại hình đào tạo nghề phi chính thức, truyền nghề thủ công tại làng nghề hoặc đào tạo đặc thù cho người khuyết tật, bộ đội xuất ngũ và nông dân mất đất.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hoá các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đào tạo nghề theo các nhóm chủ đề:
- Các quan điểm mang tính định hướng phát triển ĐTN: Bài viết của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH) Nguyễn Thị Hằng (2002) về phát huy trí tuệ và tay nghề của nguồn lực con người; bài viết của GS.TS Vũ Đình Cự (2002) về đổi mới tư duy trong ĐTN; các ấn phẩm của VS Phạm Minh Hạc về phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH-HĐH và phát triển giáo dục nghề nghiệp; luận án tiến sĩ giáo dục học của Phan Chính Thức về các giải pháp phát triển ĐTN đáp ứng nhu cầu nhân lực thời kỳ CNH-HĐH.
- Thực trạng nguồn lao động kỹ thuật và hệ thống ĐTN: Công trình của PGS. Trần Khánh Đức về giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực; công trình của GS.TSKH Vũ Ngọc Hải và PGS.TS Trần Khánh Đức về hệ thống giáo dục hiện đại; công trình của PGS.TS Nguyễn Viết Sự về giáo dục nghề nghiệp; đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước năm 2004 do PGS.TS Đỗ Minh Cương chủ nhiệm về phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam giai đoạn 2001-2010; luận án tiến sĩ kinh tế học của Lê Văn Nhã về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng công nhân kỹ thuật và cán bộ trung học chuyên nghiệp; tác phẩm của Nguyễn Đức Thuần về nhân lực trẻ; luận án tiến sĩ của Lê Khắc Đoá về hoàn thiện hệ thống dạy nghề.
- Vấn đề hướng nghiệp cho thanh niên: Nghiên cứu của Nguyễn Đức Trí (2005) về hướng nghiệp; đề tài khoa học cấp nhà nước năm 2004 do TS. Nguyễn Hữu Dũng chủ biên về thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp của thanh niên; ấn phẩm "Cẩm nang hướng nghiệp - dạy nghề thành phố Hồ Chí Minh".
- Các khía cạnh chuyên biệt trong hoạt động ĐTN: Xã hội hoá ĐTN (Nguyễn Đức Trí, Nguyễn Tiến Dũng, Anh Văn, Tiên Tri); đổi mới phương pháp và nội dung đào tạo (Hoàng Minh Phương, Trần Khánh Đức, Nguyễn Xuân Mai, luận án tiến sĩ tâm lý sư phạm của Nguyễn Viết Sự về xác định nội dung đào tạo công nhân kỹ thuật); phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề (Trần Hùng Lượng, Cao Văn Sâm, Trần Khánh Đức).
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết: Mặc dù các công trình trước đó đã tiếp cận ĐTN dưới các góc độ quản lý, giáo dục học, tâm lý học và kinh tế học, song việc vận dụng chuyên biệt các lý thuyết xã hội học và phương pháp điều tra xã hội học để mổ xẻ hoạt động ĐTN cho thanh niên như một thiết chế xã hội còn phân tán. Luận án này là một trong những công trình nghiên cứu xã hội học chuyên sâu đầu tiên khảo sát toàn diện thực trạng nhu cầu học nghề của thanh niên và 8 khía cạnh cấu thành của hệ thống ĐTN Việt Nam trong bối cảnh CNH-HĐH.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và hệ khái niệm
- Hệ khái niệm công cụ:
- Thanh niên: Được tiếp cận dưới góc độ xã hội học là một nhóm nhân khẩu - xã hội đặc thù được xác định bởi độ tuổi và vị trí xã hội. Theo Luật Thanh niên Việt Nam, thanh niên là người từ đủ 16 đến 30 tuổi.
- Đào tạo nghề: Theo Luật Dạy nghề, là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp để người học có thể tìm hoặc tự tạo việc làm. Về mặt thiết chế xã hội học, ĐTN gồm 8 thành tố: quy mô, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, phương pháp, nội dung, chất lượng, văn bằng chứng chỉ và quản lý nhà nước.
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng sức lao động kết hợp với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại.
- Các khung lý thuyết xã hội học áp dụng:
- Lý thuyết cấu trúc chức năng (Auguste Comte, Herbert Spencer, Emile Durkheim, Bronislaw Malinowski, Kingsley Davis, Talcott Parsons, Robert K. Merton): Phân tích giáo dục - đào tạo như một tiểu hệ thống thực hiện các chức năng truyền tải tri thức, tái sản xuất văn hoá, kiểm soát xã hội, thúc đẩy hội nhập và phân bổ, sàng lọc nguồn nhân lực vào cơ cấu xã hội; đồng thời nhận diện các phản chức năng nảy sinh trong hệ thống.
- Lý thuyết xã hội hoá (Neil Smelser, Joseph Fichter, Anderson, Vervoorn): Coi nhà trường và cơ sở ĐTN là môi trường xã hội hoá giúp người học tiếp nhận hệ thống giá trị, chuẩn mực, phong cách sống và hình thành năng lực cũng như đạo đức nghề nghiệp.
- Lý thuyết vốn con người (Adam Smith, Theodore W. Schultz, Gary Becker, Harry G. Johnson): Xem xét ĐTN như một khoản đầu tư trực tiếp vào tri thức, kỹ năng của cá nhân nhằm tạo ra giá trị phụ trội, gia tăng năng suất lao động và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Tiếp cận xã hội học giáo dục và quan điểm học tập suốt đời (Khuyến nghị của UNESCO): Nhấn mạnh việc học tập liên tục để thích ứng với sự thay đổi của kinh tế tri thức và công nghệ.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính:
- Phương pháp phân tích số liệu thứ cấp: Sử dụng các báo cáo thống kê chính thức từ Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Đào tạo nghề (Tổng cục Dạy nghề - Bộ LĐTB&XH), Báo cáo Điều tra Quốc gia vị thành niên và thanh niên Việt Nam (SAVY) do Bộ Y tế, Tổng cục Thống kê, WHO và UNICEF thực hiện, cùng báo cáo của Viện Nghiên cứu Thanh niên.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát mẫu $N = 600$ học sinh lớp 12 bằng bảng hỏi gồm 7 câu hỏi về nhận thức đại học, dự định tốt nghiệp, lý do chọn học nghề, ngành nghề mong muốn và người định hướng. Mẫu khảo sát được chọn theo phương pháp kết hợp phân cụm (theo 3 miền Bắc - Trung - Nam và 2 khu vực thành thị - nông thôn) và ngẫu nhiên tại các trường THPT:
| Vùng / Miền |
Khu vực Thành thị |
Khu vực Nông thôn |
| Miền Bắc |
Hà Nội – THPT Tây Hồ ($n = 100$) |
Hải Dương – THPT Ninh Giang ($n = 100$) |
| Miền Trung |
TP. Vinh – THPT Hà Huy Tập ($n = 100$) |
Đắk Lắk – THPT Việt Đức, H. Krông Ana ($n = 100$) |
| Miền Nam |
TP. Hồ Chí Minh – THPT Hùng Vương ($n = 100$) |
Đồng Nai – THPT Tân Phú, H. Định Quán ($n = 100$) |
Ngoài ra, luận án kế thừa dữ liệu điều tra cùng thời điểm trên 200 học sinh lớp 12 tại trường THPT Trần Phú và THPT Dân lập Phan Huy Chú (Hà Nội).
- Phương pháp phỏng vấn:
- Phỏng vấn sâu ($N = 28$ trường hợp tại Hà Nội): 5 học sinh THPT, 8 học viên trường nghề, 6 giáo viên dạy nghề, 3 nhà quản lý trường nghề, 6 nhà tuyển dụng lao động.
- Phỏng vấn bán cấu trúc tại 5 tỉnh/thành phố còn lại: 5 nhà quản lý, 10 giáo viên và 20 học viên tại 5 cơ sở đào tạo (Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh, Trường Công nhân Kỹ thuật Cơ điện Đắk Lắk, Trường Công nhân Kỹ thuật TP.HCM, Trung học Nông nghiệp Hải Dương, Cao đẳng Tư thục Kỹ thuật Công nghệ Đồng Nai).
- Phỏng vấn chuyên gia: 2 chuyên gia nghiên cứu và quản lý trong lĩnh vực ĐTN.
- Phương pháp phân tích tài liệu: Phân tích các nghị quyết của Đảng, Luật Dạy nghề, các văn bản quy phạm pháp luật và báo cáo ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 1 xây dựng khung phân tích lý luận và thực tiễn của đề tài. Tác giả định nghĩa thanh niên (16-30 tuổi), đào tạo nghề (tập trung vào khu vực đào tạo chính quy gồm trường dạy nghề, trung tâm dạy nghề, trường trung học chuyên nghiệp) và quá trình CNH-HĐH. Luận án phân tích hệ thống 4 khung lý thuyết nền tảng: Lý thuyết cấu trúc chức năng, Lý thuyết xã hội hoá, Lý thuyết vốn con người và Tiếp cận xã hội học giáo dục về học tập suốt đời.
Về mặt chủ trương, chương này tổng kết các quan điểm của Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ, nhấn mạnh Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII xác định phát triển giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu và coi đào tạo lao động kỹ thuật là khâu then chốt. Về cơ sở thực tiễn, chương này phân tích thực trạng lực lượng lao động Việt Nam với đặc điểm quy mô dân số trẻ nhưng tỷ lệ qua đào tạo nghề còn thấp, dẫn đến tình trạng vừa thừa lao động giản đơn vừa thiếu hụt nghiêm trọng công nhân kỹ thuật lành nghề. Đồng thời, tác giả tổng thuật kinh nghiệm quốc tế về tổ chức và quản lý hệ thống ĐTN tại các quốc gia (tiêu biểu như mô hình hệ thống ĐTN của Australia).
Chương 2: Thực trạng nhu cầu đào tạo nghề của thanh niên ở nước ta hiện nay
Chương 2 tập trung phân tích thực trạng nhu cầu học nghề của thanh niên dựa trên số liệu thứ cấp (báo cáo SAVY, số liệu điều tra thanh niên) và dữ liệu khảo sát thực nghiệm trên mẫu học sinh THPT lớp 12.
Các nội dung khảo sát thực nghiệm tập trung vào các khía cạnh:
- Đánh giá về con đường vào đại học: Phân tích mức độ đồng tình của học sinh đối với nhận định "Đại học là con đường duy nhất để thành công".
- Dự định sau khi tốt nghiệp THPT: Tương quan giữa dự định học tiếp, học nghề hay đi làm với các biến số nhân khẩu học: giới tính, địa bàn cư trú (Bắc - Trung - Nam; thành thị - nông thôn) và điều kiện kinh tế gia đình. Kết quả cho thấy tỷ lệ ưu tiên hàng đầu vẫn là thi vào các trường đại học, cao đẳng; học nghề thường chỉ là phương án dự phòng khi không đạt kết quả thi mong muốn.
- Lý do lựa chọn học nghề: Các yếu tố thúc đẩy gồm thời gian đào tạo ngắn, khả năng tìm kiếm việc làm sau tốt nghiệp, mức học phí phù hợp và sự phù hợp với học lực bản thân.
- Ngành nghề mong muốn theo học: Xu hướng lựa chọn ngành nghề của học sinh tập trung vào các nhóm ngành dịch vụ, kỹ thuật công nghệ, cơ khí, điện tử.
- Người có ảnh hưởng đến định hướng nghề nghiệp: Vai trò chi phối của gia đình, cha mẹ so với vai trò của giáo viên hướng nghiệp trong trường phổ thông và nhóm bạn bè.
Chương này chỉ ra mâu thuẫn xã hội: thị trường lao động có nhu cầu tuyển dụng công nhân kỹ thuật rất lớn, nhưng thanh niên lại có tâm lý chuộng bằng cấp hàn lâm, chưa mặn mà với các cơ sở đào tạo nghề. Công tác tư vấn, hướng nghiệp trong trường phổ thông còn mờ nhạt và mang nặng tính hình thức.
Chương 3: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo nghề cho thanh niên ở nước ta hiện nay
Chương 3 đi sâu đánh giá thực trạng hệ thống ĐTN Việt Nam qua 8 khía cạnh thiết chế và đề xuất các nhóm giải pháp:
- Quy mô hệ thống ĐTN: Phân tích mạng lưới trường dạy nghề và trung tâm dạy nghề (TTDN) phân theo loại hình (công lập - ngoài công lập) và phân bố theo vùng miền; quy mô tuyển sinh giai đoạn 1998 - 2004.
- Cơ sở vật chất: Nguồn lực tài chính và mức đầu tư của Nhà nước cho các dự án ĐTN còn hạn chế; trang thiết bị phục vụ thực hành thiếu thốn, lạc hậu so với công nghệ thực tế tại doanh nghiệp.
- Đội ngũ giáo viên dạy nghề: Số lượng, cơ cấu tuổi đời tại các trường (khảo sát cụ thể tại 3 trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật); trình độ học vấn, tay nghề thực hành, nghiệp vụ sư phạm; tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn, trình độ ngoại ngữ và tin học còn thấp.
- Phương pháp đào tạo nghề: Chủ yếu vẫn là thuyết trình lý thuyết thụ động, thiếu tương tác thực hành, làm hạn chế khả năng lưu giữ và áp dụng thông tin của học viên.
- Nội dung và chương trình đào tạo: Chương trình chậm đổi mới, nặng lý thuyết, chưa linh hoạt thích ứng với sự thay đổi của công nghệ sản xuất.
- Chất lượng và hiệu quả đào tạo: Đánh giá qua điểm thi lý thuyết, điểm thi thực hành, tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học, kết quả tốt nghiệp và tỷ lệ học viên có việc làm đúng chuyên môn sau khi ra trường.
- Hệ thống văn bằng, chứng chỉ: Thiếu tính liên thông giữa các cấp độ đào tạo nghề (sơ cấp, trung cấp, cao đẳng nghề) và liên thông với hệ thống giáo dục đại học.
- Hoạt động quản lý nhà nước đối với ĐTN: Năng lực của cán bộ quản lý tại các trường nghề và trung tâm dạy nghề; tình trạng quản lý phân tán, thiếu đồng bộ giữa các cơ quan quản lý nhà nước.
Dựa trên các phân tích thực trạng và dự báo xu hướng phát triển, chương 3 đề xuất các nhóm giải pháp: hoàn thiện khung chính sách pháp luật về dạy nghề; quy hoạch lại mạng lưới cơ sở đào tạo; đổi mới nội dung, giáo trình và phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực thực hành; chuẩn hoá và nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên; tăng cường đầu tư trang thiết bị; đẩy mạnh xã hội hoá và xây dựng cơ chế phối hợp gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường với doanh nghiệp sử dụng lao động.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống dưới góc độ xã hội học giáo dục về hoạt động ĐTN cho thanh niên tại Việt Nam trong thời kỳ CNH-HĐH.
- Vận dụng và kiểm chứng các lý thuyết xã hội học nền tảng (cấu trúc chức năng, xã hội hoá, vốn con người, học tập suốt đời) vào việc phân tích và giải thích các mâu thuẫn, bất cập của hệ thống đào tạo nghề ở một quốc gia đang phát triển.
- Xác lập khung khái niệm và mô hình hoá cấu trúc hoạt động ĐTN như một phức hợp xã hội gồm 8 thành tố tương tác hữu cơ.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm về nhận thức, thái độ, dự định chọn nghề và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định học nghề của học sinh lớp 12 tại 6 tỉnh, thành phố tiêu biểu đại diện cho 3 miền đất nước.
- Đánh giá toàn diện thực trạng mạng lưới, cơ sở vật chất, giáo viên, chất lượng đào tạo và công tác quản lý nhà nước về ĐTN giai đoạn 1998 - 2006.
- Đề xuất hệ thống khuyến nghị và giải pháp có căn cứ thực nghiệm phục vụ việc hoạch định chính sách, hoàn thiện hệ thống dạy nghề và tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với giáo dục nghề nghiệp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Do nguồn lực và điều kiện nghiên cứu, khảo sát thực địa bằng bảng hỏi chỉ giới hạn ở nhóm khách thể học sinh THPT lớp 12 tại 6 địa phương; các đối tượng phỏng vấn sâu trực tiếp tập trung chủ yếu tại địa bàn Hà Nội.
- Luận án chủ yếu dựa trên số liệu thứ cấp của giai đoạn 1998 - 2006 do Tổng cục Dạy nghề và các cuộc điều tra quốc gia cung cấp.
- Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở khu vực ĐTN chính thức trong hệ thống giáo dục quốc dân, chưa khảo sát sâu khu vực dạy nghề phi chính thức, các làng nghề truyền thống và các nhóm thanh niên đặc thù (người khuyết tật, bộ đội xuất ngũ, thanh niên nông thôn mất đất sản xuất).
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng quy mô điều tra thực nghiệm đối với các nhóm thanh niên ngoài nhà trường, thanh niên dân tộc thiểu số và lao động trẻ trong các khu công nghiệp, khu chế xuất.
- Nghiên cứu sâu về cơ chế liên kết cụ thể giữa cơ sở dạy nghề và các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
- Đánh giá tác động dài hạn của Luật Dạy nghề sau khi đi vào thực tiễn đối với sự chuyển dịch cơ cấu việc làm của lao động trẻ.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho:
- Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng cục Dạy nghề, các Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tại các địa phương trong việc xây dựng chính sách phân luồng học sinh, quy hoạch mạng lưới trường dạy nghề và trung tâm dạy nghề.
- Cán bộ quản lý và giáo viên tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Tham khảo các đánh giá về chất lượng giảng dạy, cơ cấu đội ngũ giảng viên, phương pháp sư phạm kỹ thuật và nhu cầu thực tế của học sinh để điều chỉnh công tác tuyển sinh, đổi mới giáo trình.
- Nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên ngành Xã hội học, Giáo dục học: Sử dụng khung lý thuyết xã hội học giáo dục, phương pháp thiết kế mẫu khảo sát kết hợp phân cụm và ngẫu nhiên, cùng hệ thống công cụ điều tra xã hội học về định hướng nghề nghiệp của thanh niên.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu mẫu khảo sát định lượng của luận án được phân bổ như thế nào?
Khảo sát định lượng được thực hiện trên mẫu 600 học sinh lớp 12 tại 6 tỉnh, thành phố đại diện cho 3 miền Bắc, Trung, Nam và 2 khu vực thành thị, nông thôn: Hà Nội (THPT Tây Hồ, 100 mẫu), Hải Dương (THPT Ninh Giang, 100 mẫu), TP. Vinh (THPT Hà Huy Tập, 100 mẫu), Đắk Lắk (THPT Việt Đức, 100 mẫu), TP. Hồ Chí Minh (THPT Hùng Vương, 100 mẫu), Đồng Nai (THPT Tân Phú, 100 mẫu). Ngoài ra, tác giả sử dụng bổ sung dữ liệu 200 học sinh lớp 12 tại Hà Nội (THPT Trần Phú và THPT Dân lập Phan Huy Chú).
2. Luận án sử dụng những khung lý thuyết xã hội học nào để phân tích đề tài?
Luận án vận dụng 4 khung lý thuyết chính: Lý thuyết cấu trúc chức năng (Comte, Spencer, Durkheim, Parsons, Merton), Lý thuyết xã hội hoá (Smelser, Fichter, Anderson, Vervoorn), Lý thuyết vốn con người (Adam Smith, Schultz, Becker) và Tiếp cận xã hội học giáo dục với trọng tâm là quan điểm học tập suốt đời của UNESCO.
3. Hoạt động đào tạo nghề được luận án xem xét qua những khía cạnh thiết chế nào?
Luận án xem xét hoạt động ĐTN qua phức hợp 8 khía cạnh: (1) Quy mô của hệ thống ĐTN; (2) Cơ sở vật chất; (3) Đội ngũ giáo viên; (4) Phương pháp ĐTN; (5) Nội dung ĐTN; (6) Chất lượng, hiệu quả ĐTN; (7) Hệ thống văn bằng chứng chỉ; (8) Hoạt động quản lý nhà nước đối với ĐTN.
4. Mâu thuẫn cốt lõi được nêu ra trong giả thuyết nghiên cứu của luận án là gì?
Mâu thuẫn cốt lõi là sự lệch pha giữa nhu cầu tuyển dụng rất lớn của thị trường lao động đối với lực lượng công nhân qua đào tạo nghề và nhu cầu đăng ký học nghề thực tế của thanh niên còn thấp do tâm lý chuộng bằng cấp đại học.
5. Phạm vi thời gian và nguồn dữ liệu thứ cấp của luận án được xác định từ đâu?
Thời gian nghiên cứu được thực hiện từ tháng 11/2002 đến tháng 12/2006. Nguồn dữ liệu thứ cấp chủ yếu được cung cấp bởi Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Đào tạo nghề (Tổng cục Dạy nghề - Bộ LĐTB&XH), Báo cáo Điều tra Quốc gia vị thành niên và thanh niên Việt Nam (SAVY) và dự án nghiên cứu nguồn nhân lực trẻ của Viện Nghiên cứu Thanh niên.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Vân Hạnh đã phân tích hoạt động đào tạo nghề cho thanh niên Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá dưới lăng kính xã hội học giáo dục. Bằng việc kết hợp hệ thống lý thuyết cấu trúc chức năng, xã hội hoá, vốn con người cùng các phương pháp phân tích số liệu thứ cấp, điều tra bảng hỏi trên 600 học sinh THPT tại 6 địa phương và phỏng vấn sâu, công trình đã làm rõ thực trạng nhu cầu học nghề của giới trẻ cũng như 8 khía cạnh cấu thành hệ thống đào tạo nghề. Các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra sự bất cập giữa nhu cầu thị trường và định hướng nghề nghiệp của thanh niên, đồng thời cung cấp căn cứ thực chứng cho việc hoạch định chính sách, đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật tại Việt Nam.