Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRONG CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ 1. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 1. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp “Cơ cấu” là một thuật ngữ được dùng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỉ lệ các mối quan hệ hợp thành hệ thống và được biểu hiện như là một tập hợp mối liên hệ hữu cơ giữa các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định.
Cơ cấu kinh tế là một khái niệm rộng, phức tạp. Việc xác định đúng khái niệm cơ cấu kinh tế sẽ góp phần làm rõ nội dung cơ cấu kinh tế và phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Do cách tiếp cận, mục đích, đối tượng nghiên cứu khác nhau nên cũng có những cách hiểu khác nhau về cơ cấu kinh tế, nhưng xét cho cùng thì cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế thể hiện các mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành nền kinh tế quốc dân, đó là các mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế. Mối quan hệ này phản ánh cả về mặt số lượng và chất lượng của các yếu tố hợp thành.
Có thể thấy rằng nền kinh tế quốc dân là một tổng thể phức tạp gồm nhiều ngành, nhiều nghề, nhiều lĩnh vực, nhiều thành phần. Mỗi ngành, mỗi lĩnh vực, mỗi thành phần lại có cơ cấu riêng. Nói cách khác, cơ cấu kinh tế có phạm vi rộng hẹp khác nhau, có cơ cấu kinh tế cả nước, có cơ cấu kinh tế ở từng vùng, từng địa phương, có cơ cấu ngành và cơ cấu trong từng ngành. Cơ cấu kinh tế bao giờ cũng gắn với những điều kiện không gian và thời gian cụ thể, đó là điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội cụ thể và thích hợp với mỗi nước, mỗi vùng trong từng thời kỳ cụ thể.
8 Cơ cấu kinh tế không thể cố định trong một thời gian dài mà phải có sự vận động chuyển dịch cần thiết, thích hợp với những biến động của điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội. Sự duy trì quá lâu hoặc sự thay đổi quá nhanh chóng cơ cấu kinh tế mà không phù hợp với những biến đổi của tự nhiên - kinh tế - xã hội đều có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh. Bởi vậy, việc duy trì hay thay đổi cơ cấu kinh tế không phải là mục tiêu mà chỉ là phương tiện của việc tăng trưởng và phát triển kinh tế. Cơ cấu kinh tế trong quá trình vận động chuyển dịch nhanh hay chậm không hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn chủ quan mà còn phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết cho sự chuyển dịch.
Trong cơ cấu kinh tế quốc dân, cơ cấu ngành là quan trọng nhất. Cơ cấu ngành được hình thành trên cơ sở phân công lao động theo ngành, là kết quả của sự phân công lao động xã hội. Cơ cấu kinh tế ngành là tổ hợp các ngành hợp thành, là các nhân tố tạo thành ngành kinh tế, là quan hệ hữu cơ giữa các nhân tố tạo thành ngành kinh tế và trong nội bộ từng ngành đó. Về mặt số lượng, cơ cấu ngành biểu hiện quan hệ tỷ lệ giá trị, tỷ trọng ngành đó với ngành khác trong nền kinh tế.
Quan hệ tỷ lệ về mặt giá trị của một ngành nào đó trong cơ cấu ngành luôn luôn có sự thay đổi. Về mặt chất lượng, cơ cấu ngành biểu hiện sự tác động qua lại bên trong giữa các ngành với nhau. Thông thường, các ngành trong cơ cấu kinh tế được phân chia thành 3 nhóm: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Trong từng nhóm ngành lại có sự phân chia thành những phân ngành nhỏ hơn.
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất đặc biệt, là một ngành kinh tế sinh học có từ rất sớm trong lịch sử nhân loại. Sản xuất nông nghiệp có đối tượng là những cơ thể sinh vật sống luôn tồn tại gắn với môi trường tự nhiên. Đối với hầu hết các nước, nhất là các nước đang phát triển, ngành nông nghiệp hiện vẫn là ngành sản xuất vật chất cơ bản có vai trò to lớn, có chức năng cung cấp những tư liệu sinh hoạt tối cơ bản và cần thiết cho con người. Cùng với sự phát triển của sản xuất và tiêu dùng, sự tăng lên của thu nhập.
phương thức thoả mãn nhu cầu về lương thực, thực phẩm của con người thay đổi cả về số lượng và chất lượng, do vậy 9 phương thức sản xuất ra sản phẩm và cách thức mà nông nghiệp đáp ứng nhu cầu về lương thực, thực phẩm cũng thay đổi. Đây chính là cơ sở của việc đa dạng hoá các hoạt động kinh tế trong nông nghiệp. Thực tế, khi bàn về cơ cấu kinh tế nông nghiệp các học giả, các nhà nghiên cứu thường phân loại thành cơ cấu phân ngành nông nghiệp, cơ cấu vùng, cơ cấu thành phần kinh tế trong nông nghiệp. Về cơ cấu phân ngành nông nghiệp Hiện nay, nông nghiệp thường được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ bao gồm các hoạt động nông nghiệp truyền thống là trồng trọt và chăn nuôi, mà còn bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp.
Trong nông nghiệp, trồng trọt là ngành ra đời trước tiên trong lịch sử. Trong lĩnh vực trồng trọt, có thể phân chia thành các ngành trồng cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây rau đậu. Các sản phẩm của ngành trồng trọt cung cấp cho xã hội lương thực, thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp. Bên cạnh trồng trọt và gắn với trồng trọt là chăn nuôi.
Nghề chăn nuôi cung cấp thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho công nghiệp, ngoài ra còn cung cấp sức kéo, phân bón cho sản xuất. Trong lĩnh vực chăn nuôi có thể phân thành chăn nuôi gia súc, chăn nuôi gia cầm. Trồng trọt và chăn nuôi có mối quan hệ với nhau và hợp thành cơ cấu ngành nông nghiệp. Ngoài lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi truyền thống, sự ra đời của các dịch vụ nông nghiệp là đòi hỏi khách quan của sản xuất và đời sống, ví dụ dịch vụ cung ứng nguyên liệu, thông tin, vốn, tiêu thụ sản phẩm.
Nhờ có dịch vụ mà hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư tiếp cận được với các nguồn lực. Dịch vụ nối liền sản xuất với sản xuất và sản xuất với tiêu dùng. Cùng với tiến trình phát triển kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn, hoạt động dịch vụ nông nghiệp cũng trở nên ngày càng sôi động, phong phú, bước đầu thích nghi với cơ chế thị trường, trong đó đặc biệt là các loại dịch vụ như giống cây trồng vật nuôi, bảo vệ thực vật, động vật nuôi, dịch vụ cung ứng đầu vào vào cho sản xuất và giới thiệu tiêu thụ sản phẩm. Hoạt động dịch vụ đã góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao đời sống của nông dân.
Khi nền sản 10 xuất chuyển từ tự cung, tự cấp sang sản xuất xuất hàng hóa, tỷ trọng dịch vụ có xu hướng ngày càng tăng lên trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Lâm nghiệp là ngành có quan hệ gắn bó với nông nghiệp, quan hệ hợp lý giữa nông nghiệp và lâm nghiệp là yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Với nhiều nước, rừng là nguồn lợi to lớn không chỉ về kinh tế mà còn đóng vai trò phòng hộ đầu nguồn, hạn chế lũ lụt, hạn chế sự xói mòn đất đai. Ngoài ra rừng còn là lá phổi của nhân loại, là điều kiện cần thiết cho các hoạt động dưỡng bệnh nghỉ ngơi và du lịch.
Lâm nghiệp bao gồm nuôi trồng, khai thác. Thủy sản với hai lĩnh vực là đánh bắt và nuôi trồng hiện đang được coi là ngành mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn của nhiều quốc gia. Về cơ cấu vùng lãnh thổ Cơ cấu kinh tế vùng là mối quan hệ kinh tế giữa các ngành, các thành phần kinh tế trên phạm vi lãnh thổ. Mỗi quốc gia là sự hợp thành giữa các lãnh thổ địa phương khác nhau, mỗi nền kinh tế cũng hợp thành bởi các ngành, các lĩnh vực và vùng kinh tế.
tương đồng theo cấp độ bộ phận hợp thành. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế vùng là: i) Cơ cấu vùng gắn với điều kiện tự nhiên, địa lý và một không gian lãnh thổ nhất định. Trong một vùng thường có những đặc điểm về tự nhiên tương đồng, và một không gian thống nhất; ii) Cơ cấu vùng là sự thể hiện của cơ cấu ngành về mặt không gian, vị trí địa lý được bố trí phù hợp với sự phân công và chuyên môn hóa trong nền kinh tế, tạo nên những tiền đề của mối liên hệ giữa các vùng; iii) Cơ cấu vùng không tách rời cơ cấu ngành của cả nước, của địa phương và cơ cấu các vùng khác. sự khác nhau giữa các vùng kinh tế chủ yếu là những hoạt động kinh tế đặc thù nhất định của vùng.
Cơ cấu vùng lãnh thổ hình thành nhằm phát huy những lợi thế của từng vùng. Mỗi vùng có những đặc điểm riêng về tự nhiên, kinh tế, xã hội nhất định. Những đặc điểm đó bao hàm cả những lợi thế và những trở ngại. Một cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ phát huy được các lợi thế, hạn chế được những khó khăn.
Vì vậy trong từng vùng cần kết hợp giữa chuyên môn hóa và tập trung hóa, chuyên môn hóa để 11 phát huy hiệu quả kinh tế các lợi thế so sánh, tập trung hóa để hình thành những vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Tuy nhiên, trong phạm vi một địa phương (tỉnh, thành phố), khi điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội không có nhiều khác biệt lớn thì cơ cấu vùng không có nhiều ý nghĩa. Về cơ cấu thành phần kinh tế Cơ cấu thành phần kinh tế trong nông nghiệp là mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế tồn tại trong lĩnh vực nông nghiệp, dựa trên những quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và trình độ phát triển khác nhau của lực lượng sản xuất. Tham gia vào hoạt động kinh tế nông nghiệp bao gồm nhiều thành phần kinh tế khác nhau, kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể.
Toàn bộ các thành phần kinh tế kể trên hợp thành cơ cấu thành phần kinh tế trong nông nghiệp. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một cơ cấu nhiều thành phần tồn tại vừa hợp tác vừa cạnh tranh.