Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về ứng dụng khoa học - công nghệ trong nông nghiệp. Chương 2: Thực trạng ứng dụng khoa học - công nghệ để phát triển nông nghiệp ở tỉnh Thái Bình. Chương 3: Những phương hướng và giải pháp đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ để phát triển nông nghiệp ở tỉnh Thái Bình. 6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ỨNG DỤNG KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG NÔNG NGHIỆP 1.
Khoa học - công nghệ và ứng dụng khoa học - công nghệ trong nông nghiệp 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khoa học - công nghệ và mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ Khoa học: Khoa học, tiếng Latin là “scientia”, có nghĩa là “kiến thức” hoặc “hiểu biết”, là các nỗ lực thực hiện phát minh, để tăng lượng tri thức hiểu biết của con người về cách thức hoạt động của thế giới vật chất xung quanh. Có nhiều quan niệm về khoa học: + Định nghĩa về khoa học được chấp nhận phổ biến đó là tri thức tích cực đã được hệ thống hoá.
Theo Luật Khoa học và công nghệ năm 2000 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy” [21]. + Viện Ngôn ngữ học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội cho rằng: Khoa học là hệ thống tri thức tích luỹ trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh những quy luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như các hoạt động tinh thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực. + Theo ý kiến của các nhà triết học: Khoa học (science) là hệ thống tri thức gồm những quy luật về tự nhiên, xã hội và tư duy, được tích lũy trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết. 7 z Những quan niệm trên cho thấy, bản chất của khoa học là hệ thống tri thức mang tính quy luật.
Nó có vai trò đặc biệt quan trọng trong nhận thức và cải tạo thế giới tự nhiên, phục vụ nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người. Khoa học là lĩnh vực hoạt động của con người, cùng với các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội… Xã hội loài người càng phát triển thì khoa học cũng ngày càng phát triển và phân ngành của khoa học càng chi tiết hóa và phức tạp hóa hơn như: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng. Trong thời đại ngày nay, khoa học phát triển có tính chất liên ngành, trong đó khoa học xã hội và nhân văn rất được chú ý. Tóm lại, khoa học là một hình thái ý thức xã hội phản ánh một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp xã hội có tính đặc thù nhằm tìm kiếm, sắp xếp một cách có hệ thống các tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy trên cơ sở tổng hợp, khái quát những tri thức kinh nghiệm đã được tích lũy trong quá trình lịch sử, từ thực tiễn hoạt động sản xuất và đời sống để định hướng, dẫn dắt hoạt động thực tiễn của con người.
Công nghệ: Thuật ngữ công nghệ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là “Technologia” hay “vexvonopơ”. “Techne” có nghĩa là “thủ công” và “logia” là “châm ngôn”; “Technologia” là một thuật ngữ rộng ám chỉ đến các công cụ và mưu mẹo của con người. Trong tiếng Anh, công nghệ là “Technology” có nghĩa là “tài nghệ học”, sự tinh xảo của tay nghề, một nghệ thuật hay một kỹ năng, bí quyết,… để đạt tới sản phẩm chất lượng cao của nghề thủ công trước đó. Hiện nay, trên thế giới có nhiều quan niệm về công nghệ, đơn cử như: + Tác giả F.
Root cho rằng: “Công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng được vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới”. Theo quan niệm này, công nghệ chính là sự vận dụng những thành tựu 8 z khoa học vào sản xuất. Đây là ưu điểm nổi bật của khái niệm này, đã làm rõ được quan hệ giữa khoa học và công nghệ. Ông cho rằng: “Công nghệ là sự áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng những nghiên cứu và cách xử lý một cách có hệ thống và có phương pháp”.
Sự khác nhau giữa ông và tác giả trên ở chỗ là ông đã cảm nhận được tính phức tạp của công nghệ. Nhiều nhà nghiên cứu khác cũng đã đưa ra những quan niệm tương tự. Jones cho rằng: “Công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyển thành hàng hoá”. Theo quan niệm này, công nghệ được gắn với nền kinh tế hàng hoá hay kinh tế thị trường.
Tuy nhiên, khái niệm này lại có nhược điểm là khá đơn giản, chưa đề cập đến quan hệ giữa khoa học và công nghệ. Theo Ủy ban kinh tế xã hội châu Á - Thái Bình Dương: “Công nghệ là hệ thống tri thức về quy trình kỹ thuật chế biến vật liệu và thông tin. Nó bao gồm tất cả kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất, chế tạo dịch vụ công nghiệp, dịch vụ quản lý”. Khái niệm này sâu rộng hơn những khái niệm trên nhưng chủ yếu mới đề cập đến mặt kỹ thuật.
UNCTAD đưa ra định nghĩa về công nghệ đầy đủ hơn: “Công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất. Như vậy, nó được mua bán trên thị trường như một hàng hoá, được thể hiện ở một trong những dạng sau: tư liệu sản xuất và đôi khi là các sản phẩm trung gian, được mua và bán trên thị trường, đặc biệt là gắn với các quyết định đầu tư; nhân lực, thông thường là nhân lực có trình độ và đôi khi là nhân lực có trình độ cao và chuyên sâu, với khả năng sử dụng đúng các thiết bị và kỹ thuật và làm chủ được bộ máy giải quyết vấn đề và sản xuất thông tin; thông tin, dù đó là thông tin kỹ thuật hay thông tin thương mại, được đưa ra trên thị trường hay được giữ bí mật như một phần của hoạt động độc quyền”. Theo Luật KH - CN năm 2000 thì: “Công nghệ là tập hợp các phương 9 z pháp, các quy trình, kỹ năng bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm” [21]. Như vậy, công nghệ là tập hợp những giải pháp kỹ thuật để chế tạo ra hàng hoá và dịch vụ; là toàn bộ quá trình biến các nguồn lực thành sản phẩm hàng hoá theo yêu cầu của thị trường.
Bản chất của công nghệ là kỹ thuật (Công nghệ là tập hợp những giải pháp kỹ thuật để chế tạo ra hàng hoá và dịch vụ). Như vậy, giữa khái niệm công nghệ và khái niệm kỹ thuật không có sự khác biệt về bản chất. Công nghệ gồm bốn thành phần: (i) Thành phần kỹ thuật (technoware), bao gồm các thiết bị, máy móc kỹ thuật, nhà xưởng mang hình thái vật thể “hữu hình”; (ii) thành phần thông tin phi vật thể “vô hình” (inforeware), gồm các bí quyết, phát minh, sáng chế, quy trình công nghệ, phương pháp công nghệ, cách thức xử lý giải pháp công nghệ; (iii) thành phần nhân lực (humanware), gồm kiến thức, kỹ năng, trình độ tay nghề, kinh nghiệm, về các lĩnh vực của người lao động, khả năng thích ứng với các điều kiện sản xuất của người lao động; (iiii) thành phần tổ chức (orgaware), gồm việc tổ chức, quản lý, điều hành, kiểm tra, điều phối bố trí các nguồn lực. Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ Khoa học và công nghệ có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Những thành tựu về khoa học là cơ sở, tiền đề cho sự phát triển công nghệ. Sự phát triển công nghệ, một mặt, làm cho các thành tựu khoa học được ứng dụng trong thực tiễn, làm cho hoạt động khoa học mang tính thực tiễn, phục vụ thực tiễn; mặt khác, sự phát triển của công nghệ làm cho hoạt động thực tiễn của con người có hiệu quả cao hơn nên có điều kiện đầu tư nhiều hơn cho khoa học. Thực tiễn đặt ra cho khoa học những đòi hỏi mới cao hơn, từ đó thúc đẩy khoa học tiếp tục phát triển.Ăng ghen đã viết về quan hệ này: “Nếu kỹ thuật phụ thuộc một phần lớn vào tình trạng của khoa học thì khoa học lại còn phụ thuộc nhiều hơn nữa vào những đòi hỏi của kỹ thuật. Khi xã hội có nhu cầu về 10 z kỹ thuật thì nhu cầu này thúc đẩy khoa học tiến lên hơn mười trường đại học”.
Hầu hết các bước ngoặt trong lịch sử kinh tế thế giới đều gắn với các phát minh khoa học và sáng chế công nghệ. Chúng là những yếu tố chủ yếu, động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội. Mặt dù cả hai đều có điểm chung về mục đích và hoạt động dựa trên cơ sở phát triển trí tuệ của con người, nhưng giữa chúng có những khác biệt quan trọng cần chú ý: Một là, khoa học là tìm ra các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; còn công nghệ lại là việc ứng dụng các nguyên lý, quy luật mà khoa học đã tìm ra vào sản xuất và đời sống; Hai là, khoa học tập trung lý giải tìm ra nguyên nhân, còn công nghệ tìm ra bí quyết để áp dụng; Ba là, các tri thức khoa học có thể phổ biến không hạn chế, thì công nghệ lại là một thứ hàng hoá dùng để mua bán gắn với các yếu tố sở hữu và giá cả; Bốn là, các hoạt động khoa học được đánh giá bằng các thước đo trực cảm, trong khi đó thước đo đối với công nghệ lại là phần đóng góp cụ thể đối với việc giải quyết các mục tiêu kinh tế - xã hội; Năm là, các hoạt động khoa học thường đòi hỏi phải có một thời gian giải quyết dài hơn và yếu tố bất định luôn là đặc trưng của hoạt động này. Ngược lại, đối với các hoạt động công nghệ thời gian giải quyết thường ngắn hơn.
Mặc dù, giữa khoa học, công nghệ có điểm khác nhau như vậy, nhưng cả hai đều thống nhất, tồn tại trong mối quan hệ tác động qua lại với nhau. Khoa học tạo cơ sở lý thuyết và phương pháp cho ứng dụng triển khai công nghệ mới vào sản xuất và đời sống. Công nghệ kích thích sự phát triển của khoa học và cung cấp các phương tiện, công cụ cho nghiên cứu khoa học. Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội loài người, vai trò của khoa học ngày càng tăng.