CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÂY SẮN 1. ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA CÂY SẮN 1. Một số khái nhiệm - Khái niệm về phát triển: Phát triển kinh tế là quá trình thay đổi theo hướng tiến bộ về mọi mặt Kinh tế- Xã hội của một quốc gia trong bối cảnh nền kinh tế đang tăng trưởng. Trong thế giới tự nhiên và các mối quan hệ xã hội, “Phát triển” được biểu hiện dưới nhiều quan niệm và trạng thái khác nhau, song tựu chung lại “ Phát triển” là một thuật ngữ chứa đựng các chỉ tiêu phản ánh kết quả gia tăng, tiến bộ sau quá trình vận động của một hay nhiều hoạt động Kinh tế - Xã hội trong một giai đoạn, một thời kỳ nhất định.
Phát triển kinh tế là kết quả gia tăng về số lượng, quy mô sản xuất, thị trường tiêu thụ, sự tiến bộ về chất luợng, khoa học công nghệ, cơ cấu kinh tế xã hội. Phát triển là một khái niệm chung song mỗi chủ thể kinh tế, hoạt động kinh tế đều có riêng một tiêu chí phát triển dựa theo khả năng, trình độ và công nghệ của từng chủ thể. Vậy phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công 8 bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ. - Phát triển cây công nghiệp ngắn ngày: Dựa vào công dụng của sản phẩm nông nghiệp cho các mục đích khác nhau mà người ta chia nông nghiệp theo nghĩa hẹp thành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ.
Trong lĩnh vực trồng trọt cũng dựa vào tiêu chí đó người ta chia thành sản xuất cây lương thực và cây công nghiệp. Trong sản xuất cây công nghiệp dựa vào thời gian ngắn hay dài của chu kỳ kinh doanh mà Tổng cục Thống kê chia thành cây công nghiệp ngắn ngày và cây lâu năm. Do đó, việc phát triển cây công nghiệp ngắn ngày cần xác định loại cây trồng phù hợp đảm bảo nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả mà cây trồng mang lại. - Phát triển cây sắn: Cây sắn thuộc nhóm cây công nghiệp ngắn ngày, để phát triển cây sắn cần phải đảm bảo năng suất, sản lượng, chất lượng, hiệu quả cao trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ theo phương hướng ổn định lâu dài; giải quyết hài hòa lợi ích về kinh tế xã hội, gắn với bảo vệ môi trường.
Như vậy, phát triển cây sắn chính là việc phát triển nhằm tăng trưởng quy mô và hoàn thiện cơ cấu sản xuất, trong đó kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường. Đặc điểm của cây sắn a. Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu Trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất cây sắn nói riêng, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, quyết định đến quá trình sản xuất. Sản xuất cây sắn mang tính mùa vụ 9 Tính mùa vụ là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất trồng trọt.
Việc sử dụng lao động và các tư liệu sản xuất không giống nhau trong suốt chu kỳ sản xuất là một trong các hình thức biểu hiện của tính thời vụ. Thời gian sinh trưởng của cây sắn thường khoảng từ 8-10 tháng là thu hoạch, do vậy thời vụ trồng thường vào đầu và cuối mùa mưa, để cây sắn có đủ nước phát triển. Sản xuất cây sắn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên Sản xuất cây sắn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, nhất là vào đất đai và khí hậu. Trong quá trình sản xuất nếu gặp điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ góp phần tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế mang lại.
Một số đặc điểm khác Cây sắn là cây dễ trồng, ít tốn công và vốn đầu tư thấp nên cây sắn là sự lựa chọn số một của các hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, việc sản xuất cây sắn chưa phù hợp làm hiệu quả sản xuất không cao, đất bị xói mòn rửa trôi, thoái hoá nhanh. Do đó, cần thiết phải gắn các tiêu chí quy định những nơi nào, vùng nào được trồng sắn, những vùng đất có độ dốc trên 30 0 , đất bạc màu thì kiên quyết không sản xuất nhằm hạn chế xói mòn đất, hiệu quả sản xuất không cao. Sắn cũng là cây không kén đất, có thể sinh trưởng được trên nhiều loại đất khác nhau: từ đất xám bạc màu, đất đồi núi chua tầng mỏng đến đát phù sa mới, đất than bùn, đất ít mặn hoặc phèn ít…Giới hạn pH đối với cây sắn khá rộng, từ đất chua (pHkcl <4) đến kiềm yếu (phkcl= 7,5), nhưng thích hợp nhất là pHkcl = 5,5.
Trong diễn thế tự nhiên của các cây trồng trên nương rẫy, sắn (giống địa phương) là cây trồng cuối cùng của chu kỳ canh tác, sau sắn người ta phải bỏ 10 hoá đất để phục hồi lại độ phì tự nhiên của đất. Điều này chứng tỏ yêu cầu về đất của sắn không quá khắt khe. Tuy nhiên với các giống sắn cao sản mới nhập nội hiện nay, yêu cầu về đất đai cho vùng trồng sắn làm nguyên liệu cho chế biến công nghiệp không thể xem nhẹ như phương thức trồng quảng canh với các giống sắn địa phương như trước đây. Yêu cầu sinh thái của cây sắn Chỉ tiêu Mức độ hạn chế 1 2 3 4 5 1.
Nhiệt độ không khí 20-26 <20-18 <18-16 <16-14 <14 trung bình năm >26-27 >27 - Trung bình tối thấp >16 16-14 <14-12 <12-10 <10 năm 2. Số tháng khô 3-4 >4-5 >5-6 >6 hạn/năm <3-2 <2-1 <1 4. Đặc trưng về đất - Loại đất Ft; Fk; Fv; Fn; Fp; Fa; Xa; B; Phf; Các Fu; Fj Fs; Ru; Fđ; X; Plf; Pf; Hk; đất Rv; Phb; Fq; Py Hu; Hv; Hs; khác Plb; Ph; Ha; Hq; Hj Pl; Pb; P - Độ dốc (0) 0-3 >3-8 >8-15 >15-25 >25 11 - Độ dày tầng đất mịn > 100 100-700 <70-50 <50-30 <30 (m m) Nguồn: Giáo trình cây sắn – Nhà xuất Bản TP Hồ Chí Minh Ghi chú: Mức độ hạn chế như sau: (1)- không hạn chế; (2)- Hạn chế nhẹ; (3)- hạn chế vừa; (4)- Hạn chế nặng; (5)- Hạn chế rất nặng Sắn là cây trồng có yêu cầu khá cao về các chất dinh dưỡng, nhất là đạm và kali, cây sắn cần đạm để phát triển thân lá, giai đoạn cần đạm nhiều nhất là từ khi mọc đến 6 tháng tuổi. Lân cũng là yếu tố cần thiết cho sắn nhưng nhu cầu của cây sắn về lân không cao như N và K.
Chất dinh dưỡng quan trọng nhất đối với sắn là kali, cây sắn có nhu cầu hút kali ngay từ khi mọc nhưng lượng kali đòi hỏi nhiều khi cây bắt đầu hình thành củ. Tuy sắn chịu được đất chua nhưng cây sắn cũng cần một lượng canxi nhất định để sinh trưởng bình thường. Khối lượng chất dinh dưỡng sắn lấy đi từ đất sau 01 vụ sản xuất Chất Tài liêu của Bonnefoy Tài liệu của Cours dinh Năng suất 200 tạ/ha Năng suất 50 tạ/ha dưỡng Củ 20 Thân lá 40 Tổng Củ 50 Thân lá Tổng (kg/ha) tấn tấn cộng tấn 40 tấn cộng N 14 238 252 85 200 285 P205 20 74 94 62 70 132 K20 56 98 154 280 180 460 Ca0 20 110 130 75 150 225 Nguồn: Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp 12 1. Vai trò của cây sắn a.
Cây sắn là nguồn nguyên liệu chính cho ngành sản xuất tinh bột sắn và sản xuất xăng sinh học. Sắn là nguồn nguyên liệu chính của các nhà máy sản xuất tinh bột sắn và sản xuất xăng sinh học, các nhà máy để hoạt động có hiệu quả cần thiết phải có đủ nguồn nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất. Phát triển cây sắn góp phần nâng cao đời sống nông dân Cây sắn được xem là cây xóa đói giảm nghèo cho bà con nông dân, đặc biệt là người đồng bào dân tộc thiểu số. Những năm qua, nhờ đưa cây sắn vào sản xuất, nhiều vùng, nhiều làng quê đã vươn lên thoát nghèo và làm giàu ngay chính mảnh đất quê hương, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của nhiều địa phương.
Cây sắn góp phần tạo ra nhiều sản phẩm khác Cây sắn không chỉ là nguồn nguyên liệu chính để sản xuất ra tinh bột sắn và xăng sinh học mà còn là nguồn nguyên liệu để sản xuất các ngành công nghiệp và thực phẩm khác như bánh kẹo, phân bón,… Theo FAO ở nhiều nước có trồng sắn tỷ lệ sử dụng làm lương thực chiếm 58%, cho thức ăn gia súc là 28%, làm nguyên liệu cho công nghiệp chiếm 3%, hao hụt khoảng 11%. Tuy nhiên có nhiều nước có tỷ lệ sử dụng cho từng loại khác nhau như ở Indonexia 70% sản lượng sắn dùng cho người; trong khi đó ở Thái Lan 90% cho xuất khẩu, tỷ lệ dành làm lương thực cho người hầu như không đáng kể. Theo nhận xét của một số chuyên gia, ở Việt Nam lượng sắn tiêu dùng làm lương thực cho người khoảng 10%, 30% dành cho công nghiệp, 20% dành cho sản xuất thức ăn chăn nuôi. Song cũng có nhiều ý kiến cho rằng trong mấy năm 13 gần đây thì lượng sắn dùng cho công nghiệp kể cả công nghiệp chế biến thực phẩm, dược chiếm 35-40%, cho chăn nuôi 10%, lương thực cho người 10-15%.
Tiêu dùng sắn dành làm lương thực cho người: hiện nay sử dụng sắn để thay thế một phần lương thực trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của nhân dân chủ yếu ở những hộ nông dân ở miền núi vùng sâu vùng xa, đặc biệt ở 2 vùng Trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên (khoảng trên 100 huyện có trồng sắn nhiều chiếm chủ lực trong các cây màu). Trên cơ sở lập bảng cân đối lương thực ở các địa bàn trên (bao gồm cả lúa, màu) lượng sắn tiêu dùng từ 550-600 tấn sắn củ chiếm 13-14% sản lượng sắn sản xuất. Dùng làm thức ăn gia súc (không kể các phụ phẩm dùng cho chăn nuôi): đã nhiều năm nay trong chăn nuôi thâm canh theo phương thức công nghiệp, hầu như ít sử dụng sắn để sản xuất thức ăn hỗn hợp. Đặc biệt trong chăn nuôiở các vùng tỉnh địa bàn không sản xuất sắn, người nông dân chăn nuôi theo phương thức tận dụng, không dùng nguyên liệu này.