Phần mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về hoạt động chuyển giao công nghệ. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng chuyển giao công nghệ tại Trung tâm Khuyến nông tỉnh Hƣng Yên. Chƣơng 4: Đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm thúc đẩy chuyển giao tiến bộ Khoa học Công nghệ tại Trung tâm khuyến nông tỉnh Hƣng Yên.
Kết luận 3 z Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Liên quan đến đề tài nghiên cứu đã có một số công trình đã đƣợc công bố nhƣ sau: PGS.TS Trần Văn Hải, Chủ nhiệm khoa - Khoa học quản lý, trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội - chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học về nhiệm vụ hợp tác quốc tế khoa học và công nghệ - đƣa ra con số: Cho đến hiện tại Bộ Khoa học Công nghệ vẫn chƣa đƣa ra đƣợc con số cụ thể có bao nhiêu công nghệ Việt Nam đƣợc chuyển giao và chuyển giao có đăng ký là rất ít và giữa giới khoa học và nông nghiệp còn có khoảng cách. Từ khi Luật Chuyển giao công nghệ có hiệu lực từ đầu năm 2007 đến nay, Bộ Khoa học và Công nghệ (KHCN) đã cấp giấy chứng nhận cho 254 hợp đồng chuyển giao công nghệ; trong đó có 217 hợp đồng thuộc các dự án FDI, 37 hợp đồng chuyển giao của các tổ chức, cá nhân và 11 hợp đồng của các cơ quan, tổng công ty nhà nƣớc tại buổi thảo về hoạt động chuyển giao công nghệ kinh nghiệm của Australia và đề xuất cho Việt Nam, tại TPHCM.
Thừa nhận số hợp đồng chuyển giao công nghệ mà Bộ KHCN thực hiện còn ít, nhƣng tiến sĩ Bùi Văn Quyền, trợ lý bộ trƣởng Bộ KHCN cho rằng, con số trên không phản ánh đúng thực tế; chỉ bằng 1/6 – 1/5 so với số hợp đồng chuyển giao đã diễn ra. Tiến sĩ Bùi Văn Quyền giải thích, Luật Chuyển giao công nghệ quy định chỉ những công nghệ hạn chế chuyển giao mới cần phải đăng ký, những công nghệ còn lại thì tổ chức, cá nhân khi chuyển giao của nƣớc ngoài có thể đăng ký, hoặc không. Khi chƣa có Luật Chuyển giao công nghệ (từ năm 2007 trở về trƣớc) các hợp đồng chuyển giao công nghệ của nƣớc ngoài vào Việt Nam có giá trị 500 triệu đồng trở lên buộc phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền.TS Trần Văn Hải còn cho rằng việc chuyển giao công nghệ của các dự án FDI ở Việt Nam trong thời gian qua vẫn chƣa đạt hiệu quả nhƣ kỳ vọng, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển kinh tế, giá trị gia tăng chƣa cao. Đa số các công nghệ chuyển giao vào Việt Nam ở mức độ trung bình, một số là công nghệ thấp, lạc hậu; cá biệt có trƣờng hợp chuyển giao là công nghệ thanh lý của nƣớc ngoài, nguy cơ biến Việt Nam trở thành bãi thải công nghệ.
TS Bùi Văn Quyền cho rằng Việt Nam đang thiếu chuyên gia, những ngƣời làm „mai mối‟ cho khoa học công nghệ để có đƣợc những công nghệ tiên tiến. (Nguồn: Báo Kinh tế online, đăng năm 2014) Đặc biệt, trong lĩnh vực nông nghiệp đã có nhiều nghiên cứu về chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp đã mang lại nhiều đóng góp tích cực cho nông nghiệp với các đề tài, báo cáo khoa học nhƣ sau: Phạm Đình Nghiệp – mã số KTN-2002 với đề tài: “Mô hình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và công nghệ của thanh niên nông thôn trong tiến trình Công nghệp hóa, hiện đại hóa”. Báo cáo khoa học của tác giả An Đình Doanh – 2008 đã tổng kết đề tài và khuyến nghị tiếp tục nhân rộng 8 mô hình chuyển giao công nghệ cho thanh niên nông thôn đã đạt đƣợc hiệu quả trong thực tiễn. Đó là: Mô hình câu lạc bộ Khuyến nông thanh niên, mô hình câu lạc bộ Gia đình trẻ, mô hình hội Khuyến nông trẻ, mô hình Hội thi thanh niên nông thôn với tiến bộ kỹ thuật và công nghệ, mô hình Trang trại trẻ, mô hình Làng thanh niên, mô hình Đội, nhóm thanh niên bảo vệ thực vật, mô hình dịch vụ chuyển giao chế phẩm tăng năng suất cây trồng, vật nuôi.
Đồng thời Ban chủ nhiệm đề tài cũng đề xuất một số giải pháp để nhân rộng các mô hình chuyển giao công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, nông thôn. Cụ thể là: tạo cơ chế và hành lang pháp lý cho hoạt động chuyển giao công nghệ trong thanh niên nông thôn; phát huy vai trò quản lý Nhà nƣớc của Ủy ban Quốc gia thanh niên; kiện toàn tổ chức và đội ngũ cán bộ đủ khả năng tổ chức tốt hoạt động chuyển giao công nghệ của Đoàn thanh niên. 5 z Đề tài: “Thực trạng và một số biện pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy công tác chuyển giao công nghệ cho thanh niên nông thôn ở huyện Chương Mỹ - Hà Tây”, do Hoàng Đình Vinh nghiên cứu. Đề tài đã nghiên cứu thông qua các hộ gia đình trẻ tham gia mô hình câu lạc bộ Khuyến nông thanh niên, câu lạc bộ Gia đình trẻ trong việc tiếp thu và ứng dụng các tiến bộ Công nghệ vào sản xuất nông nghiệp ở huyện Chƣơng Mỹ - tỉnh Hà Tây và các tác động của việc ứng dụng tiến bộ Công nghệ vào sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình trẻ.
Tác giả đã đề xuất giải pháp chủ lực để ứng dụng nhanh tiến bộ khoa học, công nghệ để dịch chuyển cơ cấu kinh tế huyện Chƣơng Mỹ qua các ngành: Trồng trọt, Chăn nuôi và các dịch vụ trong nông nghiệp. Tác giả cho rằng để Công nghệ đến với ngƣời dân th eo con đƣờng ngắn nhất cần có sự quan tâm của nhiều cấp, nhiều ngành, từ những ngƣời làm khoa học, làm khuyến nông, đến ngƣời làm sản xuất kinh doanh. Không thể để tình trạng tiến bộ Công nghệ đã có mà ngƣời dân lại rất lúng túng khi áp dụng. Dương Thị Lan (2008) những giải pháp nâng cao kết quả và hiệu quả hoạt động khuyến nông tỉnh Hải Dương – Luận văn Thạc sĩ kinh tế.
Đề tài nghiên cứu về hoạt động khuyến nông tại Trung tâm khuyến nông tỉnh Hải Dƣơng. Luận văn đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động khuyến nông trong đó có các phƣơng pháp hoạt động chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp. Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến nông tỉnh Hải Dƣơng giai đoạn 2010 – 2015. Từ tình hình nghiên cứu nêu trên cho thấy, đến nay chƣa có đề tài nào nghiên cứu chuyển giao công nghệ phục vụ nông nghiệp tại Trung tâm Khuyến nông tỉnh Hƣng Yên, nên đề tài không trùng lặp với những công trình đã đƣợc công bố.
Để thực hiện đề tài, tác giả có chú trọng kế thừa một số vấn đề lý luận trong các công trình trên liên quan trực tiếp tới đề tài nghiên cứu của mình. Những vấn đề lý luận cơ bản về chuyển giao công nghệ trong sản xuất nông nghiệp 1. Những khái niệm cơ bản có liên quan đến công nghệ 1. Khái niệm khoa học công nghệ Theo Lý luận chung về khoa học công nghệ của tác giả Nguyễn Thị Kim Phượng – những khái niệm cơ bản liên quan đến công nghệ nhƣ sau: Khoa học đƣợc hiểu là tập hợp những hiểu biết và tƣ duy nhằm khám phá những thuộc tính tồn tại khách quan của các hiện tƣợng tự nhiên và xã hội.
Khoa học là một hệ thống trí thức về tự nhiên, xã hội con ngƣời thu nhận đƣợc thông qua hoạt động nghiên cứu. Khoa học cũng đồng thời là hoạt động của con ngƣời sản xuất ra trí thức mới. Công nghệ là tập hợp các phƣơng pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ và phƣơng tiện để biến đổi các nguồn lực thành các sản phẩm hay dịch vụ phục vụ cho đời sống xã hội. Đó là trí thức có hệ thống dùng để sản xuất ra một loại hàng hoá hay tiến hành một loại dịch vụ nào đó.
Công nghệ là kết quả sử dụng tri thức khoa học, phải nghiên cứu công phu mới tạo ra đƣợc. Kỹ thuật đƣợc hiểu là những phƣơng pháp sản xuất đơn độc nào đó, nó là một sự kết hợp đúng đắn của các đầu vào đƣợc sử dụng để sản xuất một đầu ra nhất định. Nhƣ vậy, công nghệ có nội dung phản ánh rộng hơn, nó thể hiện sự kết hợp nhiều yếu tố kỹ thuật trong một quá trình sản xuất nào đó. Hoạt động khoa học công nghệ là hoạt động có hệ thống liên quan chặt chẽ tới sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức khoa học, công nghệ trong thực tiễn sản xuất và đời sống.
Khoa học và công nghệ là một yếu tố năng động của lực lƣợng sản xuất. Vậy thì mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ là gì? Công nghệ luôn luôn gắn bó mật thiết với sản xuất, Công nghệ lấy sản xuất làm đối tƣợng phục vụ. Con ngƣời với bộ óc khoa học đã sử dụng tri thức khoa học và nghiên cứu sáng tạo ra tri thức mới định hƣớng vào nghiên cứu ứng dụng, triển khai thiết kế ra sản phẩm mẫu, thử nghiệm và kết luận, đƣa sản phẩm đi tiếp thị tìm 7 z địa chỉ áp dụng và phát triển sản xuất để tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá dịch vụ. Nhƣ vậy khoa học không chỉ phục vụ khoa học, làm giàu trí thức mà khoa học hƣớng vào sản xuất tạo ra sản phẩm phục vụ lại cho chính con ngƣời.
Ngƣợc lại, thực tế sản xuất đặt ra yêu cầu cho nghiên cứu và sáng tạo. Mối quan hệ hai chiều này luôn gắn bó khăng khít với nhau, tác động tƣơng hỗ và kích thích nhau phát triển. Công nghệ theo nghĩa chung nhất là tập hợp có hệ thống các tri thức khoa học vận dụng vào trong sản xuất và đời sống. Công nghệ trong nông nghiệp là tập hợp các tri thức khoa học nông nghiệp áp dụng vào sản xuất đồng thời lựa chọn những công nghệ phù hợp liên quan đến các quá trình sản xuất, chế biến, marketing các sản phẩm nông nghiệp.
Công nghệ nông nghiệp gắn liền với một trình độ phát triển nhất định về lực lƣợng sản xuất, về một xã hội hay một cộng đồng. Có công nghệ hiện đại nhƣng cũng có những công nghệ phản ánh những tri thức cổ truyền. Trong nông nghiệp công nghệ thƣờng kết hợp cả 2 yếu tố trên.