Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chăn nuôi lợn là ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam, mang lại nguồn thu nhập lớn nhưng đồng thời cũng là nguồn phát sinh chất thải đáng kể gây áp lực lên chất lượng môi trường sinh thái. Theo Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc (FAO) và các nghiên cứu chuyên ngành, chất thải chăn nuôi phát sinh khí nhà kính, chứa nhiều vi sinh vật gây bệnh, các chất dinh dưỡng (nitơ, photpho) và hợp chất hữu cơ dễ phân hủy. Nếu không được thu gom và xử lý đúng kỹ thuật, chất thải này sẽ xâm nhập trực tiếp vào môi trường đất, làm suy giảm chất lượng nước mặt, ô nhiễm nước ngầm và phát tán mùi hôi thối vào không khí, làm gia tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh (như tiêu chảy, tai xanh, lở mồm long móng) đối với đàn vật nuôi và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng.

Tại xã Minh Đức, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, hoạt động chăn nuôi tập trung chủ yếu vào đàn lợn với các mô hình trang trại quy mô vừa và lớn tăng nhanh trong những năm gần đây. Phần lớn các cơ sở này nằm xen kẽ trong khu dân cư hoặc xả thải trực tiếp vào hệ thống kênh mương tưới tiêu khi chỉ mới qua xử lý sơ bộ bằng hầm biogas hoặc hồ lắng không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật. Nhằm đánh giá mức độ phát tán ô nhiễm và đề xuất biện pháp xử lý phù hợp với điều kiện thực tế, khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Hiền (chuyên ngành Khoa học Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, 2018) đã thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường của một số trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn xã Minh Đức, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu chung: Đánh giá hiện trạng môi trường của một số trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn xã Minh Đức, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; từ đó đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn xã.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Tìm hiểu tình hình chăn nuôi lợn tại một số trang trại trên địa bàn xã Minh Đức.
    • Đánh giá chất lượng môi trường tại một số trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn xã Minh Đức (bao gồm môi trường nước, không khí và chất thải rắn).
    • Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các cơ sở chăn nuôi lợn trong điều kiện thực tế ở địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chất thải chăn nuôi lợn, hiện trạng chất lượng môi trường xung quanh khu vực chăn nuôi lợn và các giải pháp xử lý chất thải chăn nuôi lợn.
  • Phạm vi không gian: Các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn xã Minh Đức, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu và khảo sát thực địa được tiến hành từ ngày 28/7/2017 đến ngày 20/12/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở lý luận về quản lý chất thải nông nghiệp, các chu trình chuyển hóa chất hữu cơ kỵ khí - hiếu khí, quá trình phú dưỡng hóa nguồn nước do nitơ và photpho, cùng các cơ chế tác động của vi sinh vật gây bệnh từ phân gia súc đến hệ sinh thái và sức khỏe con người. Nghiên cứu tham chiếu các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành tại Việt Nam bao gồm:

  • Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chăn nuôi: QCVN 62-MT:2016/BTNMT (ban hành kèm theo Thông tư số 04/2016/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường).
  • Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt: QCVN 08-MT:2015/BTNMT (cột B1).
  • Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước dưới đất: QCVN 09-MT:2015/BTNMT.
  • Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh và tiếng ồn: QCVN 05:2013/BTNMT, QCVN 06:2009/BTNMT và QCVN 26:2010/BTNMT.
  • Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp: QCVN 40:2011/BTNMT (loại B).
  • Tiêu chuẩn ngành TCN 678-2006 và tiêu chuẩn phân loại chất thải rắn thông thường TCVN 6705:2009.
  • Quyết định số 1363/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc đưa nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân.

Các phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:

  1. Phương pháp kế thừa tài liệu: Kế thừa chuỗi số liệu thứ cấp từ báo cáo nhiệm vụ “Điều tra, đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” do Chi cục Bảo vệ Môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên) thực hiện, các niên giám thống kê và báo cáo kinh tế - xã hội của UBND xã Minh Đức.
  2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Khảo sát hiện trường và phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu điều tra tại 23 trang trại chăn nuôi lợn tại xã Minh Đức; ghi nhận quy mô đầu lợn, cơ cấu giống, diện tích chuồng trại, hiện trạng công trình xử lý, định mức sử dụng nước và xả thải.
  3. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Tổng hợp các báo cáo thống kê từ Chi cục Bảo vệ Môi trường, số liệu thống kê chăn nuôi của Cục Chăn nuôi, Viện Môi trường Nông nghiệp, Tổng cục Thống kê và các nghiên cứu khoa học chuyên ngành.
  4. Phương pháp lấy và phân tích mẫu: Quy trình lấy mẫu nước thải tuân thủ theo tiêu chuẩn TCVN 5999:1995 và TCVN 6663-11:2011 tại 3 cơ sở điển hình:
    • Trang trại 1: Cơ sở của bà Lê Thị Hạnh (xóm Đậu, xã Minh Đức).
    • Trang trại 2: Cơ sở của ông Nguyễn Văn Kiệm (xóm Ba Quanh, xã Minh Đức).
    • Trang trại 3: Công ty TNHH Phát Triển Nông Sản Phú Thái (xóm Tân Lập, xã Minh Đức). Các thông số phân tích (pH, BOD5, COD, SS/TSS, Tổng Nitơ, Coliform, NO3-N, NH4+-N) được thực hiện tại các phòng thí nghiệm đạt chuẩn ISO/IEC 17025:2005 (VILAS) và VIMCERTS 079 thuộc Viện Công nghệ Môi trường (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam).
  5. Phương pháp thống kê, xử lý dữ liệu và so sánh đánh giá: Phân tích số liệu quan trắc, so sánh đối chiếu trực tiếp với các ngưỡng giới hạn tối đa cho phép trong các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần mở đầu trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự bùng nổ số lượng đàn lợn tại xã Minh Đức tạo nên khối lượng chất thải lớn (phân, nước tiểu, thức ăn thừa, nước rửa chuồng) nhưng thiếu các công trình xử lý đạt chuẩn. Tác giả nêu rõ mục tiêu chung, 3 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học trong việc đánh giá thực trạng quản lý môi trường nông nghiệp và ý nghĩa thực tiễn trong việc hỗ trợ chính quyền địa phương, người chăn nuôi định hình các giải pháp bảo vệ môi trường, giảm thiểu rủi ro bùng phát dịch bệnh.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tác giả hệ thống hóa các tư liệu về vai trò và tác động môi trường của ngành chăn nuôi trên thế giới và tại Việt Nam. Về mặt toàn cầu, chăn nuôi đóng góp 18% tổng lượng phát thải khí nhà kính (chiếm 9% CO2, 37% CH4 và 65% N2O toàn cầu), chiếm 70% diện tích đất nông nghiệp. Tại Việt Nam, đàn lợn đứng thứ 4 thế giới, phát sinh trên 85 triệu tấn chất thải rắn mỗi năm nhưng chỉ dưới 10% chất thải rắn được xử lý, tỷ lệ cơ sở áp dụng hầm khí sinh học còn thấp (8,7% ở quy mô nông hộ năm 2014) và chưa có dự án cơ chế phát triển sạch (CDM) trong lĩnh vực này. Tại Thái Nguyên, năm 2016 toàn tỉnh có 694 trang trại (trong đó có 274 trang trại/gia trại chăn nuôi lợn, tập trung lớn ở Phổ Yên, Phú Lương, Phú Bình); phần lớn có quy mô dưới 1.000 con/năm (chiếm khoảng 90%), nằm xen kẽ trong khu dân cư và xử lý chất thải chủ yếu qua hầm biogas đơn giản.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày cụ thể địa điểm nghiên cứu tại xã Minh Đức, thị xã Phổ Yên, thời gian thực hiện từ tháng 7/2017 đến tháng 12/2017. Chương này mô tả chi tiết phương pháp điều tra thực địa 23 trang trại, phương pháp lấy mẫu nước thải theo TCVN 5999:1995 và TCVN 6663-11:2011, thiết bị và quy trình phân tích các thông số hóa lý, vi sinh tại Viện Công nghệ Môi trường, cùng khung quy chuẩn QCVN và TCVN làm cơ sở đối chiếu.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này phản ánh toàn bộ các kết quả điều tra và phân tích chất lượng môi trường tại địa bàn nghiên cứu:

  • Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội xã Minh Đức: Xã có diện tích 1.947,60 ha (đất nông nghiệp chiếm 1.135 ha), dân số 6.882 người với 1.876 hộ gia đình (1.700 hộ thuần nông). Nền kinh tế thuần túy nông nghiệp, thu nhập bình quân khoảng 13 triệu đồng/người/năm (năm 2011), chưa có cơ sở công nghiệp. Cơ sở hạ tầng còn hạn chế: chỉ có 3% đường cấp phối, 15% đường đất, tuyến tỉnh lộ 261 chất lượng thấp; nguồn nước sinh hoạt phụ thuộc hoàn toàn vào nước ngầm (mới có 210 hộ có nước sạch).
  • Tình hình chăn nuôi lợn: Xã Minh Đức có 19 trang trại chăn nuôi lợn quy mô vừa và lớn. Đa số nuôi lợn ngoại thương phẩm và lợn nái giống siêu thịt (liên kết với Công ty CP, Dafaco...). Các trang trại khảo sát quy mô từ vài trăm đến 4.000 con (Công ty TNHH Phát triển Nông sản Phú Thái có 200 nái và 4.000 lợn thịt; cơ sở Lê Thị Hạnh, Lê Văn Khánh, Nguyễn Văn Kiệm nuôi khoảng 2.000 lợn/trại).
Tên trang trại Địa bàn (xóm) Lợn nái (con) Lợn thương phẩm (con) Loại hình
CT TNHH PT Nông Sản Phú Thái Tân Lập 200 4.000 Doanh nghiệp
Lê Văn Khánh Tân Lập - 2.000 Gia công CP
Lê Thị Hạnh Xóm Đậu - 2.000 Gia công CP
Nguyễn Văn Kiệm Ba Quanh - 2.000 Gia công CP
Phan Nhất Thống Xóm Đầm - 2.000 Gia công CP
Nguyễn Văn Cường Xóm Chằm 300 1.500 Tư nhân
Quan Văn Trọng Đầm Mương 15 - 200 Tư nhân
Đặng Văn Năm Đầm Mương 14 10 150 Tư nhân
Lại Hồng Kim Đầm Mương 15 8 150 Tư nhân
Đặng Văn Bằng Đầm Mương 15 5 100 Tư nhân
  • Hiện trạng sử dụng nước: Nhu cầu nước phục vụ chăn nuôi tại các trang trại lớn dao động từ 31 đến 65 m3/ngày đêm, trong đó lượng nước dùng cho xử lý (vệ sinh chuồng trại, rửa dọn) chiếm tỷ lệ cao nhất.
Tên trang trại Nước uống (m3/ngày) Nước tắm (m3/ngày) Nước xử lý (m3/ngày) Tổng lượng nước (m3/ngày)
Nguyễn Văn Kiệm 7,5 11,0 12,5 31,0
CT TNHH PT Nông Sản Phú Thái 15,0 25,0 25,0 65,0
Lê Thị Hạnh 10,0 18,0 20,0 48,0
  • Hiện trạng chất lượng nước thải sau xử lý: Các cơ sở chủ yếu sử dụng hầm biogas kết hợp ao sinh học, tuy nhiên hiệu quả không đồng đều. Mẫu nước thải tại trang trại ông Nguyễn Văn Kiệm vượt quy chuẩn QCVN 62-MT:2016/BTNMT ở hầu hết các chỉ tiêu: BOD5 đạt 151,2 mg/l (vượt 1,51 lần ngưỡng 100 mg/l), COD đạt 432 mg/l (vượt 1,44 lần ngưỡng 300 mg/l), chất rắn lơ lửng (SS) đạt 362 mg/l (vượt 2,41 lần ngưỡng 150 mg/l), Tổng Nitơ đạt 157,8 mg/l (vượt 1,05 lần ngưỡng 150 mg/l), Coliform đạt 5,1 x 10^4 MPN/100ml (vượt 10,2 lần ngưỡng 5.000 MPN/100ml). Tại trang trại Phú Thái và ông Lê Văn Khánh, các chỉ tiêu hóa lý nằm trong giới hạn cho phép nhưng Coliform vẫn vượt quy chuẩn (đạt 5,1 x 10^3 và 7,4 x 10^3 MPN/100ml).
Chỉ tiêu phân tích Đơn vị QCVN 62-MT:2016/BTNMT (Cột B) Nguyễn Văn Kiệm CT TNHH PT Nông Sản Phú Thái Lê Văn Khánh
pH - 5,5 - 9,0 7,4 6,9 6,4
BOD5 mg/l 100 151,2 55,8 66,5
COD mg/l 300 432,0 159,4 190,0
SS mg/l 150 362,0 45,0 52,0
Tổng Nitơ mg/l 150 157,8 74,73 68,7
Coliform MPN/100ml 5.000 5,1 x 10^4 5,1 x 10^3 7,4 x 10^3
  • Đánh giá chất lượng nước mặt và nước ngầm:
    • Nước mặt: Nước tại kênh dẫn tiếp nhận nước thải của trang trại Phú Thái có COD vượt 1,07 lần (32,1 mg/l so với ngưỡng 30 mg/l) và Coliform vượt 2,93 lần (mẫu NM-7.02-2 đạt 22.000 MPN/100ml so với chuẩn 7.500 MPN/100ml theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT B1). Tại kênh mương qua trang trại Nguyễn Văn Kiệm, NH4+-N vượt từ 11 đến 12 lần (đạt 5,59 mg/l so với ngưỡng 0,5 mg/l) và Coliform vượt 1,6 - 1,9 lần.
    • Nước ngầm: Cả 4 mẫu nước ngầm phân tích quanh khu vực các trang trại (NN-4.03-1, NN-7.02-1, NN-7.02-2, NN-7.02-3) đều có nồng độ các chất hòa tan TDS, NO2-N, NO3-N, NH4-N, Coliform và E. coli nằm trong ngưỡng cho phép của QCVN 09-MT:2015/BTNMT, cho thấy tầng nước ngầm tại thời điểm khảo sát chưa bị ô nhiễm bởi nước thải chăn nuôi.
  • Chất lượng môi trường không khí: Đo đạc tại trang trại Phú Thái và ông Kiệm ghi nhận nồng độ tiếng ồn (50 - 58 dBA), NH3 (<0,02 mg/m3), H2S (<0,012 mg/m3), NO2 (<0,05 mg/m3), SO2 (<0,026 mg/m3), CO (<2 mg/m3) và bụi (<0,1 mg/m3) đều nằm dưới ngưỡng quy định của QCVN 05:2013/BTNMT, QCVN 06:2009/BTNMT và QCVN 26:2010/BTNMT.
  • Quản lý chất thải rắn: Định mức phát sinh chất thải rắn chăn nuôi tính toán đạt trung bình 2 kg/con/ngày đêm (tương đương định mức của Bộ Tài nguyên và Môi trường). Tỷ lệ trang trại có kho chứa đạt chuẩn còn thấp; chất thải rắn chủ yếu được thu gom đóng bao bán làm phân bón hoặc đặt ngoài trời, khi mưa gây ngấm rỉ vào đất và phát tán mùi hôi.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các kết quả đạt được, khẳng định tình trạng ô nhiễm cục bộ nguồn nước mặt do nước thải chăn nuôi và đề xuất các nhóm giải pháp giảm thiểu mang tính kỹ thuật, quản lý và tuyên truyền.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp bức tranh số liệu định lượng cụ thể về hiện trạng môi trường chăn nuôi lợn tại xã Minh Đức, thị xã Phổ Yên:

  1. Xác định định mức phát sinh chất thải và nhu cầu sử dụng nước: Nhu cầu dùng nước đạt từ 31 đến 65 m3/ngày đối với các trại quy mô 1.500 - 4.000 con; định mức chất thải rắn đạt 2 kg/con/ngày đêm.
  2. Chỉ ra điểm nghẽn ô nhiễm: Xác định thông số Coliform và các hợp chất hữu cơ (COD, BOD5, SS, NH4+-N) là các tác nhân ô nhiễm chính vượt quy chuẩn tại nước thải đầu ra và các thủy vực tiếp nhận nước mặt xung quanh chuồng trại, trong khi chất lượng nước ngầm và không khí xung quanh vẫn được duy trì trong giới hạn cho phép.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật cụ thể theo quy mô:
    • Đối với cơ sở quy mô nhỏ/gia trại (dưới 100 con lợn): Lượng phân tươi khoảng 200 kg/ngày (2 kg/con/ngày), lượng nước thải khoảng 3 m3/ngày. Tác giả tính toán thiết kế:
      • Dung tích hầm biogas hữu ích cần đạt: $2 \times 100 \times 3 \times 60 = 36.000 \text{ kg}$, tương đương kích thước bể $36 \text{ m}^3$ (thời gian lưu trữ 60 ngày).
      • Bể ủ phân và cặn lắng: Xử lý lượng cặn 200 - 250 kg/ngày (tương đương 0,2 m3/ngày), với thời gian lưu 35 ngày thì thể tích bể ủ cần thiết là $V = 0,2 \times 35 = 7 \text{ m}^3$.
      • Hồ lắng/hồ sinh học tùy nghi (lót màng chống thấm HDPE, sâu 1 - 1,5m): Với lưu lượng nước thải 3 m3/ngày và thời gian lưu 35 ngày, thể tích hồ cần đạt $V = 3 \times 35 = 105 \text{ m}^3$.
    • Đối với trang trại quy mô vừa (dưới 1.000 con lợn, lưu lượng nước thải $\le 30 \text{ m}^3/\text{ngày đêm}$): Đề xuất dây chuyền công nghệ gồm hố thu gom, song chắn rác, hố lắng cát, bể biogas phủ bạt HDPE ($1.000 \text{ m}^3$, thời gian lưu tối thiểu 40 ngày), hồ sinh học kết hợp công nghệ sinh thái (CNST) bè nổi thả rau muống với diện tích $1.000 \text{ m}^2$ nhằm hấp thụ nitơ, photpho và thu hoạch sinh khối làm thức ăn chăn nuôi.

Bảng khái toán kinh phí xây dựng bể biogas phủ bạt HDPE cho quy mô 1.000 con lợn (lưu lượng 30 m3/ngày đêm) được tác giả tính toán chi tiết:

STT Hạng mục công việc Đơn vị tính Khối lượng Đơn giá (nghìn đồng) Thành tiền (triệu đồng)
1 Bạt HDPE và gia công lắp đặt m2 1.200 80 96,0
2 Đào đắp đất m3 1.350 70 94,5
3 Bể điều áp Cái 2 2.000 4,0
4 Phụ kiện, đường ống kết nối Bộ 1 15.000 15,0
Tổng Tổng kinh phí dự toán 214,5

Bên cạnh giải pháp kỹ thuật, tác giả còn đề xuất các nhóm giải pháp về khoa học công nghệ (xây dựng cơ sở dữ liệu quan trắc định kỳ), giải pháp tuyên truyền giáo dục môi trường theo Quyết định 1363/QĐ-TTg, và giải pháp quản lý (tăng cường thẩm định cam kết bảo vệ môi trường, kiểm tra giám sát xả thải ở cấp xã).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện:

  • Thời gian nghiên cứu thực địa diễn ra trong thời gian ngắn (từ cuối tháng 7 đến tháng 12/2017), chưa theo dõi và đánh giá được sự biến động chất lượng nước thải và phát tán khí thải theo mùa khô và mùa mưa trong trọn vẹn chu kỳ năm.
  • Số lượng mẫu phân tích chuyên sâu các chỉ tiêu hóa lý và vi sinh mới tập trung tại 3 trang trại quy mô lớn đại diện; các trang trại quy mô nhỏ và gia trại khác chủ yếu được đánh giá qua điều tra bảng hỏi và quan sát ngoại quan.
  • Các mô hình công nghệ sinh học xử lý nước thải (bể biogas phủ bạt HDPE kết hợp bè nổi sinh thái thả rau muống) mới dừng lại ở mức độ tính toán thiết kế lý thuyết và khái toán kinh phí, chưa có số liệu vận hành thực nghiệm để đo lường hiệu suất xử lý thực tế tại địa phương.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng quan trắc chất lượng nước và không khí tại các trang trại trên địa bàn vào các thời điểm khác nhau trong năm để xác định tác động của yếu tố thời tiết, lưu lượng nước mưa đến sự lan truyền chất ô nhiễm.
  • Triển khai thử nghiệm mô hình công nghệ sinh thái xử lý nước thải chăn nuôi quy mô pilot tại các hộ gia đình hoặc trang trại tại xã Minh Đức để đánh giá khả năng xử lý triệt để nitơ, photpho và tính khả thi kinh tế trong thực tế vận hành.

Giá trị tham khảo

Nghiên cứu có giá trị thực tiễn và học thuật cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Chăn nuôi thú y: Có thể sử dụng tài liệu này làm nguồn tham khảo chi tiết về phương pháp điều tra thực địa chăn nuôi, phương pháp lấy mẫu phân tích nước thải theo quy chuẩn QCVN 62-MT:2016/BTNMT, cũng như cách thức tính toán thể tích công trình xử lý biogas, hồ sinh học cho cơ sở chăn nuôi.
  • Cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương (UBND xã Minh Đức, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Phổ Yên, Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Thái Nguyên): Cung cấp nguồn số liệu thực tế về các điểm xả thải gây ô nhiễm nước mặt (đặc biệt là amon và Coliform) để phục vụ công tác thanh tra, giám sát và lập quy hoạch chăn nuôi tập trung tách rời khu dân cư.
  • Các chủ trang trại và hộ chăn nuôi lợn: Tham khảo thông số kỹ thuật và dự toán kinh phí để đầu tư xây dựng hệ thống hầm biogas phủ bạt HDPE kết hợp hồ sinh học phù hợp với quy mô đàn của gia đình, hạn chế mùi hôi và tránh vi phạm quy chuẩn xả thải môi trường.

Câu hỏi thường gặp

Chất lượng nước thải tại trang trại của ông Nguyễn Văn Kiệm có những chỉ tiêu nào vượt ngưỡng cho phép? Theo kết quả phân tích so với QCVN 62-MT:2016/BTNMT (Cột B), nước thải tại trang trại ông Nguyễn Văn Kiệm vượt chuẩn ở hầu hết các chỉ tiêu: BOD5 đạt 151,2 mg/l (ngưỡng 100 mg/l), COD đạt 432,0 mg/l (ngưỡng 300 mg/l), chất rắn lơ lửng SS đạt 362 mg/l (ngưỡng 150 mg/l), Tổng Nitơ đạt 157,8 mg/l (ngưỡng 150 mg/l) và vi sinh vật Coliform đạt 5,1 x 10^4 MPN/100ml (vượt hơn 10 lần ngưỡng quy định là 5.000 MPN/100ml).

Môi trường không khí xung quanh các trang trại chăn nuôi tại xã Minh Đức có bị ô nhiễm độc hại không? Các chỉ tiêu đo đạc môi trường không khí xung quanh khu vực trang trại Công ty Phú Thái và hộ ông Nguyễn Văn Kiệm (bao gồm tiếng ồn, bụi, CO, SO2, NO2, NH3, H2S) đều nằm trong giới hạn cho phép của các quy chuẩn QCVN 05:2013/BTNMT, QCVN 06:2009/BTNMT và QCVN 26:2010/BTNMT. Các khí độc như NH3 (<0,02 mg/m3) và H2S (<0,012 mg/m3) đều ở dưới ngưỡng phát hiện của phương pháp phân tích.

Chất lượng nước ngầm xung quanh khu vực dự án chăn nuôi được ghi nhận ra sao? Kết quả phân tích 4 mẫu nước ngầm (NN-4.03-1, NN-7.02-1, NN-7.02-2, NN-7.02-3) tại các vị trí xung quanh khu vực chăn nuôi cho thấy các chỉ tiêu pH, độ tổng chất rắn hòa tan (TDS), NO2-N, NO3-N, NH4-N, Coliform và E. coli đều đạt ngưỡng cho phép của QCVN 09-MT:2015/BTNMT. Điều này khẳng định tại thời điểm khảo sát, chất lượng nước ngầm tại khu vực dự án vẫn ở trạng thái tốt, chưa bị thẩm thấu ô nhiễm từ các cơ sở chăn nuôi.

Kích thước các công trình xử lý chất thải được đề xuất cho hộ chăn nuôi quy mô 100 con lợn là bao nhiêu? Dựa trên định mức thải 2 kg phân tươi/con/ngày và 3 m3 nước thải/ngày, tác giả tính toán kích thước các công trình cho quy mô 100 con gồm: hầm biogas có thể tích hữu ích là 36 m3 (thời gian lưu trữ 60 ngày), bể ủ phân và cặn lắng có thể tích 7 m3 (thời gian lưu 35 ngày), và hồ lắng sinh học ổn định nước thải lót bạt HDPE có thể tích 105 m3 (thời gian lưu 35 ngày).

Kinh phí khái toán xây dựng hệ thống biogas phủ bạt HDPE cho trang trại 1.000 con lợn là bao nhiêu? Tổng kinh phí khái toán cho hệ thống hầm biogas phủ bạt HDPE dung tích 1.000 m3 (xử lý 30 m3 nước thải/ngày đêm) là 214,5 triệu đồng. Trong đó, chi phí bạt HDPE và công lắp đặt là 96 triệu đồng (1.200 m2), chi phí đào đắp đất là 94,5 triệu đồng (1.350 m3), chi phí 2 bể điều áp là 4 triệu đồng và chi phí phụ kiện đường ống là 15 triệu đồng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hiền đã phản ánh chi tiết hiện trạng chăn nuôi và mức độ ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi lợn gây ra tại xã Minh Đức, thị xã Phổ Yên. Kết quả nghiên cứu khẳng định nguồn nước mặt và nước thải sau xử lý sơ bộ tại các trang trại đang bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi Coliform và các hợp chất hữu cơ, trong khi môi trường nước ngầm và không khí xung quanh vẫn duy trì trong ngưỡng an toàn. Nghiên cứu đã đưa ra các thông số tính toán kỹ thuật và khái toán kinh phí rõ ràng cho việc xây dựng hầm biogas phủ bạt HDPE kết hợp hồ công nghệ sinh thái, mang lại giải pháp xử lý chất thải khả thi, phù hợp với năng lực kinh tế của các hộ chăn nuôi và trang trại quy mô vừa tại địa phương.