MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trong những năm qua, cũng như hiện nay và chắc chắn trong nhiều năm tới, hộ sản xuất vẫn là lực lượng chủ lực trong phát triển kinh tế nông nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, ngành nghề truyền thống ở Việt Nam. Thực tế kinh tế hộ sản xuất là nguồn chủ yếu cung cấp các mặt hàng gạo, cà phê, hạt điều, tiêu, nhiều mặt hàng thủy sản khác,… cho tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Xác định rõ vai trò chiến lược của đối tượng khách hàng đông đảo này, các NHTM ở Việt Nam cạnh tranh khá mạnh mẽ trong việc mở rộng tín dụng đối với kinh tế hộ sản xuất, từ việc phát triển mạng lưới ở khu vực nông thôn, tập trung vào khách hàng hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, ngư nghiệp, nuôi trồng thủy sản,… Với xu hướng cạnh tranh đó, kinh tế hộ sản xuất đã được đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng Ngân hàng ngày càng tốt hơn, với lãi suất ngày càng hợp lý hơn và thủ tục vay ngày càng phù hợp hơn.
Trong thực tế, đối với hầu hết các NHTM, việc mở rộng cho vay đối với kinh tế hộ sản suất cũng đảm bảo chất lượng cao hơn, tỷ lệ nợ xấu thấp hơn nhiều đối tượng khách hàng khác. Trong hệ thống NHTM ở nước ta hiện nay thì NHNo&PTNT Việt Nam có mạng lưới lớn nhất, đặc biệt là ở khu vực nông thôn; có quy mô lớn nhất về tài sản, có số lượng cán bộ và nhân viên đông nhất, đặc biệt là lực lượng cán bộ tín dụng am hiểu địa bàn nông thôn và kinh tế hộ, có truyền thống gắn bó với hộ nông dân cũng như các đối tượng hộ sản xuất khác. Nằm trong xu hướng cạnh tranh chung cũng như thực hiện chiến lược khách hàng, chiến lược kinh doanh của mình, trong những năm qua, NHNo&PTNT Việt Nam không ngừng thực hiện nhiều giải pháp mở rộng tín dụng an toàn, hiệu quả đối với hộ sản xuất. Thực tế quy mô cho vay bình quân một hộ sản xuất, quy trình và thủ tục tín dụng đối với lực lượng khách hàng này ngày càng được nâng lên và hoàn thiện hơn, phù hợp với thực tế hơn, tỷ lệ nợ xấu được kiềm chế.
Trong 6 năm qua, tính từ năm 2009 đến năm 2014, bình quân dư nợ cho vay hộ sản xuất của NHNo&PTNT Việt Nam đạt trên 12%/năm, tỷ lệ nợ xấu thường xuyên không vượt quá 3%. (Nguồn: NHNo&PTNT Việt Nam (2009-2014) [24] Trong năm gần đây nhất, đó là tính đến hết năm 2014 dư nợ cho vay nền kinh tế của NHNo&PTNT Việt Nam tăng 48.903 tỷ đồng với tốc độ tăng 8,8% so với năm trước, nhưng dư nợ cho vay hộ sản xuất tăng tới 13,4%, với số tuyệt đối tăng thêm là 39. Trước đó, tính đến hết năm 2013, tốc độ tăng trưởng chung của NHNo&PTNT Việt Nam là 10,44 %, nhưng dư nợ cho vay đối với hộ sản xuất tăng 21,54% so với 31/12/2012, cao gấp 2 lần so với tốc độ tăng trưởng tín dụng dư nợ cho vay nền kinh tế của chính Ngân hàng này. (Nguồn: NHNo&PTNT Việt Nam (2009-2014) [24] Mặc dù NHNo&PTNT Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng tín dụng hộ sản xuất thường xuyên cao như trên, với chất lượng tín dụng về cơ bản là an toàn, tuy nhiên thực tiễn cũng đang đặt ra nhiều vấn đề có tính cấp bách đối với NHTM này.
Môi trường cạnh tranh hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng hộ sản xuất nói riêng ngày càng sôi động hơn, nhu cầu vốn của hộ sản xuất ngày càng lớn hơn, đối tượng sử dụng vốn vay của hộ sản xuất ngày càng đa dạng hơn kèm theo đó là mức độ rủi ro cũng lớn hơn, mức độ hội nhập của nền kinh tế nói chung và lĩnh vực nông nghiệp nói riêng cũng đem lại nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức lớn hơn, tỷ lệ nợ xấu cho vay hộ sản xuất theo báo cáo là thấp nhưng thực tế còn tiềm ẩn nhiều rủi ro bởi nợ đã cơ cấu lại hoặc được che dấu dưới nhiều hình thức khác nhau… Điều đó đòi hỏi NHNo&PTNT Việt Nam cần có giải pháp phù hợp, tiếp tục giữ vai trò chủ lực về hoạt động tín dụng đối với kinh tế hộ sản xuất, nhưng cũng cần tiếp tục nâng cao chất lượng tín dụng trong phân đoạn đối tượng khách hàng này. Bên cạnh đó, với những bài học kinh nghiệm về chất lượng tín dụng đối với các chi nhánh hoạt động ở khu vực đô thị, khách hàng là doanh nghiệp trong lĩnh vực phi sản xuất và lĩnh vực phi nông nghiệp, doanh nghiệp chế biến thủy hải sản,… càng đặt ra chiến lược cho NHNo&PTNT Việt Nam về việc mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất trong thực hiện đề án tái cơ cấu chính Ngân hàng này. Vốn tín dụng cho phát triển nông nghiệp - nông thôn nói chung, cho phát triển kinh tế hộ sản xuất nói riêng tiếp tục là vấn đề thời sự, là nền khách hàng bền vững và chiến lược lâu dài của NHNo&PTNT Việt Nam. Do vậy, luận án chọn đề tài: “Chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam” để nghiên cứu là xuất phát từ yêu cầu cấp bách đang đặt ra trong thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.
Từ trước đến nay có một số đề tài và công trình nghiên cứu về tín dụng đối với hộ sản xuất. Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể, ở phạm vi rộng, có tính cập nhật trong giai đoạn hội nhập, thực hiện đề án tái cơ cấu Tổ chức tín dụng về nâng cao chất lượng cho vay vốn hộ sản xuất của các NHTM nói chung, của NHNo&PTNT Việt Nam nói riêng. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2. Nghiên cứu trong nước 2.
Các công trình nghiên cứu về chất lượng tín dụng hộ sản xuất của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 2. Luận án tiến sỹ kinh tế, đề tài: “Tín dụng ngân hàng với quá trình phát triển kinh tế nông hộ ở Việt Nam" của NCS Lê Quốc Tuấn, bảo vệ tại Đại học Kinh tế quốc dân năm 2000. Nội dung chủ yếu nghiên cứu về phát triển tín dụng đối với hộ sản xuất. (Nguồn: Lê Quốc Tuấn, 2000) [47]: - Thành công: đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống, hệ thống hóa và khái quát được nền tảng lý thuyết về tín dụng ngân hàng chủ yếu dựa trên một số tài liệu dịch, một số cuốn giáo trình và tín dụng NHTM được biên soạn trong thập niên 90.
Đồng thời công trình nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, dựa trên cơ sở phân tích và mô tả số liệu thứ cấp là báo cáo của một số NHTM về hoạt động tín dụng đối với phát triển kinh tế nông hộ; tập trung nghiên cứu về hoạt động tín dụng nói chung đối với kinh tế nông hộ của hệ thống Ngân hàng những năm đầu của thời kỳ đổi mới, thực hiện Chỉ thị 201/CT-TW của Ban bí thư TW Đảng về phát triển kinh tế hộ sản xuất. Đề tài nghiên cứu đến hoạt động này của tất cả các NHTM, trọng tậm là NHNo&PTNT Việt Nam. - Hạn chế và khoảng trống nghiên cứu: + Về phương pháp nghiên cứu: luận án chưa sử dụng phương pháp định lượng, phương pháp chuyên gia, phương pháp khảo sát, chưa sử dụng nguồn số liệu sơ cấp. + Về không gian: Nghiên cứu chung về vốn tín dụng ngân hàng đối với kinh tế nông hộ.
Không tập trung nghiên cứu về chất lượng tín dụng hộ sản xuất, không chuyên sâu về chất lượng tín dụng hộ sản xuất của NHNo&PTNT Việt Nam. + Về thời gian: Thực trạng tập trung trong giai đoạn 1991-1998.; giai đoạn thực hiện 2 Pháp lệnh Ngân hàng; dự báo và phương hướng giai đoạn 2000 - 2005. Trong khi đó, hộ sản xuất và hoạt động tín dụng đối với hộ sản xuất trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay ở nước ta đã khác với 10 – 15 năm trước rất nhiều. Luận án tiến sỹ kinh tế, với đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay hộ sản xuất tại các Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn khu vực đồng bằng Bắc Bộ”, của nghiên cứu sinh Trần Văn Dự, bảo vệ tại Học viện Ngân hàng năm 2010.
(Nguồn: Trần Văn Dự, 2010 ) [7] - Thành công: Thông qua phương pháp khái quát, tổng hợp, phân tích và so sánh, luận án đã hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản về chất lượng cho vay hộ sản xuất của NHTM trong nền kinh tế thị trường; đồng thời bằng phương pháp định lượng, thống kê và mô tả, luận án đã tập trung nghiên cứu hoạt động này đối với các chi nhánh NHNo&PTNT vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Theo đó đề tài luận án tập trung phân tích rõ thực trạng chất lượng cho vay hộ sản xuất và ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng cho vay hộ sản xuất đối với các chi nhánh NHNo&PTNT khu vực Đồng bằng Bắc Bộ và đối với phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp - nông thôn trên địa bàn: ruộng đất manh mún, quy mô nhỏ và phân tán, có đông làng nghề truyền thống, đất chật, người đông. Phần lớn là hộ phát triển kinh tế tổng hợp. Đề tài cũng nghiên cứu đề xuất giải pháp và kiến nghị góp phần nâng cao chất lượng cho vay hộ sản xuất tại các chi nhánh NHNo&PTNT khu vực đồng bằng Bắc Bộ, chủ yếu là thủ tục cho vay có tài sản đảm bảo tiền vay, lãi suất và thời gian cho vay.
- Hạn chế và khoảng trống nghiên cứu: + Về phương pháp nghiên cứu: cũng tương tự như công trình nói trên, luận án chưa sử dụng phương pháp định lượng, phương pháp chuyên gia, phương pháp khảo sát, chưa sử dụng nguồn số liệu sơ cấp. + Về không gian, đồng bằng Bắc bộ có tính đặc thù riêng, không có tính bao quát về tính đa dạng của các vùng miền khác nhau trong hoạt động tín dụng đối với kinh tế hộ sản xuất của toàn quốc và của toàn hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam. + Về thời gian, đề tài luận án tập trung nghiên cứu thực trạng là giai đoạn 2001-2008, trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, không có tính cập nhật trong giai đoạn gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) có tính đặc thù trong những năm gần đây, giai đoạn tái cơ cấu NHTM nói chung và tái cơ cấu NHNo&PTNT Việt Nam nói riêng. Luận án tiên sỹ kinh tế: “Nghiên cứu giải pháp tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đăk Nông đối với hộ sản xuất cà phê”.