MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiện nay chăn nuôi bò sữa là một ngành sản xuất nông nghiệp đã mang lại giá trị kinh tế lớn cho nhiều vùng quê nghèo, đồng thời đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về sữa tươi ở thị trường trong nước. Tuy nhiên, sau khi những mô hình CNBS cho hiệu quả kinh tế cao, tạo nên một cú huých cho đời sống của người dân thì mọi người lại bắt đầu chạy theo lợi nhuận mà quên đi những sức ép từ những đàn bò này mang đến cho môi trường. Có những khu vực, do người dân CNBS theo mô hình chăn thả nên môi trường đã bị ô nhiễm nặng nề bởi chất thải từ những đàn bò sữa.
Huyện Duy Tiên, Hà Nam là nơi có điều kiện thuận lợi để phát triển đàn bò sữa, đặc biệt các xã ven sông Hồng như: Mộc Bắc, Trác Văn, Chuyên Ngoại,… vì có diện tích đất phù sa lớn. Tính đến tháng 10/2017, huyện Duy Tiên có 107 hộ chăn nuôi bò sữa đạt tổng cộng 1.792 con, trong đó, 710 con bò mẹ đang cho sữa. Sản lượng sữa đạt 13,03 tấn/ngày. Phát triển chăn nuôi bò sữa đã tạo nhiều việc làm và thu nhập ổn định cho hàng nghìn lao động địa phương thông qua hoạt động như chăn nuôi, trồng cỏ, dịch vụ thu mua sữa.
Tuy nhiên một vấn đề lớn hiện nay là mùi khó chịu phát sinh do hoạt động chăn nuôi. Trong chăn nuôi bò sữa, các chất khí phát thải chủ yếu gồm CO2, NH3, CH4, H2S,… Trong đó một số gây hiệu ứng nhà kính và một số tạo mùi khó chịu ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người và vật nuôi. Các khí này sinh ra một phần từ sự biến đổi sinh hóa trong quá trình tiêu hóa thức ăn trong dạ cỏ và phần khác do quá trình phân hủy tiếp tục các chất hữu cơ dư thừa trong phân. Xử lý mùi khó chịu trong chăn nuôi là cấp thiết nhằm cân bằng giữa nhu cầu sản xuất và nhu cầu được sống trong môi trường sạch của người dân.
Trong những năm qua phòng Nghiên cứu Triển khai của Trung tâm Khoa học Công nghệ và Môi trường – LMHTXVN đã có nhiều kinh nghiệm trong việc nghiên cứu sản xuất và ứng dụng các chế phẩm vi sinh vật tuyển chọn ở Việt Nam để xử lý phế thải nông nghiệp, rác thải sinh hoạt và nước thải. Hiện nay, phòng đang nghiên cứu và hoàn thiện chế phẩm vi sinh COSTE-MT01 để xử lý mùi chuồng nuôi gia 1 Luan van súc, gia cầm cho các hộ nông dân. Việc đánh giá hiệu quả của chế phẩm COSTE- MT01 trong xử lý mùi chuồng nuôi bò sữa có ý nghĩa rất quan trọng trong việc ứng dụng các sản phẩm khoa học vào thực tiễn. Chính vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu thực hiện đề tài “Đánh giá hiệu quả xứ lý mùi tại chuồng trại chăn nuôi bò sữa bằng chế phẩm vi sinh COSTE - MT01 ở quy mô trang trại tại huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam".
Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá hiệu quả xử lý mùi trong CNBS bằng chế phẩm vi sinh COSTE - MT01 ở quy mô trang trại. Nội dung nghiên cứu - Điều tra khảo sát tình hình CNBS và mức độ ô nhiễm môi trường tại các hộ CNBS xã Mộc Bắc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. - Xây dựng quy trình sử dụng chế phẩm vi sinh COSTE – MT01 xử lý mùi cho 05 trang trại CNBS tại huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam - Đánh giá hiệu quả xử lý ô nhiễm không khí tại 05 trang trại tại HTX dịch vụ nông nghiệp xã Mộc Bắc - Đánh giá hiệu quả về mặt môi trường của mô hình sử dụng chế phẩm vi sinh COSTE-MT01 trong chăn nuôi bò sữa. 2 Luan van CHƢƠNG I.
TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Hiện trạng chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam và trên địa bàn tỉnh Hà Nam 1. Hiện trạng chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam Mặc dù trải qua những năm tháng chiến tranh và khó khăn của đất nước, ngành CNBS đã và đang ngày càng phát triển để đáp ứng nhu cầu sữa tươi trong nước cũng như trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Đặc biệt từ sau khi có Quyết định 167/2001/QĐ-TTg, ngày 26/10/2001 của Thủ tướng chính phủ về "Một số biện pháp và chính sách phát triển CNBS ở Việt Nam thời kỳ 2001- 2010" đã đánh dấu một bước tiến mới cho ngành CNBS của Việt Nam.
Ngành CNBS tại các địa phương trên cả nước đã đẩy mạnh triển khai theo đúng chính sách phát triển CNBS của Chính phủ. Dưới đây là những mốc lịch sử đáng nhớ của ngành CNBS nước ta: Giai đoạn 1920-1923, Những năm 20 của th kỷ XX CNBS giữ một vai trò quan trọng đối với ngành nông nghiệp Việt Nam. Nuôi bò lấy sữa ở Việt Nam bắt đầu từ đầu những năm 1920 do một số di dân người Ấn du nhập các giống bò Zebu (Ongol, Sindhi, Sahiwal…) vào miền Nam để lao tác tại các đồn điền, để tự cung cấp sữa cho mình và cung cấp cho các gia đình người Pháp [1]. Sau đó người Pháp đã nhập khẩu các giống bò chịu nóng như bò Red Sindhi hay gọi là bò Sind và bò Ongle hay gọi là bò Bô vào Sài Gòn và Hà Nội để nuôi và thử nghiệm vắt sữa cung cấp cho họ (người Pháp) ở Việt Nam.
Tuy nhiên, số lượng bò sữa lúc đó còn ít (khoảng 300 con) và năng suất sữa rất thấp khoảng 2-3 kg/con/ngày [2]. Giai đoạn 1937-1942 Những năm 30 của th kỷ XX Giai đoạn này, tại miền Nam đã hình thành một số trại CNBS ở Sài Gòn - Chợ Lớn, mỗi ngày sản xuất ra hàng nghìn lít sữa tươi và tổng sản lượng sữa đạt trên 360 tấn/năm. Có 6 giống bò đã được nhập vào miền Nam trong thời kỳ này để nuôi, thử nghiệm vắt sữa là Jersey, Ongle, Red Sindhi, Tharpara, Sahiwal và Haryana. Cũng ở miền Nam giai đoạn này, Chính phủ Australia đã giúp đỡ xây dựng Trung tâm nuôi bò sữa thuần Jersey tại Bến Cát, Bình Dương với số lượng 80 3 Luan van bò cái, nhưng do điều kiện chiến tranh, Trung tâm này sau đó đã giải thể.
Nhưng cũng từ đó, trong thực tế ngành chăn nuôi đã hình thành con lai giữa các giống nói trên với nhau, các giống đó với bò nội. Những giống ngoại và con lai đều được nuôi thử nghiệm để vắt sữa. Bò lai hướng sữa và bò sữa nhiệt đới về sau được nuôi tại Tân Bình, Gò Vấp, Thủ Đức trong các trại do tư nhân chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý với qui mô nhỏ từ 10-20 con. Sữat tươi sản xuất ra được cung cấp cho các nhà hàng và trực tiếp cho người tiêu dung [2].
Giai đoạn 1954 - 1960 Những năm 50, sau khi hòa bình lập lại và những năm 60 của th kỷ XX Ở miền Bắc, sau khi giải phóng, Nhà nước bắt đầu quan tâm đến phát triển nông nghiệp trong đó có chăn nuôi nói chung và CNBS nói riêng. Các Nông trường quốc doanh được xây dựng như Ba Vì (Hà Tây), Mộc Châu (Sơn La), Than Uyên (Nghĩa Lộ), Tam Đường (Lào Cai), Hữu Nghị (Quảng Ninh), Hà Trung (Thanh Hoá). cùng với các trạm, trại nghiên cứu về giống, kỹ thuật chăn nuôi nói chung và CNBS nói riêng. Năm 1960, bò sữa lang trắng đen Bắc Kinh lần đầu tiên được đưa vào Việt Nam nuôi thử nghiệm tại Ba Vì, Sa Pa, Mộc Châu và Than Uyên.000 bò sữa được nuôi tại khu vực Sài Gòn: 400 bò lai Sind, 300 bò lai Ongol, 100 bò lai Sahiwal, 100 bò lai HF và 174 bò Jersey thuần tại Bến Cát.
Năng suất ghi nhận của bò Jersey là 2.038 kg lứa đầu và 2.400 kg ở lứa sữa thứ 3. Những năm 1963-1968, một vài hộ CNBS cũng nhập bò HF thuần từ Nhật Bản [1]. Giai đoạn những năm 1970 Đến những năm 70, nước ta được Chính phủ Cu Ba viện trợ 1000 con bò sữa Holstein Friesian (HF) về nuôi thử nghiệm tại Mộc Châu. Đồng thời Chính phủ Cu Ba cũng đã giúp ta xây dựng Trung tâm bò đực giống Moncada để nuôi giữ, sản xuất tinh bò đông lạnh.
Từ năm 1976, sau khi thống nhất đất nước, một số bò sữa Holstein Frisian (HF) từ Cu Ba nuôi ở Mộc Châu, Sao Đỏ được chuyển vào nuôi tại Đức Trọng (Lâm Đồng). Bên cạnh đàn HF thuần, phong trào lai tạo giữa bò HF với bò Red Sindhi, bò Vàng Việt Nam, Bò Vàng cải tiến (con lai giữa bò Vàng Việt 4 Luan van Nam với tinh các giống bò Zêbu) tạo con lai phục vụ chăn nuôi lấy sữa được đẩy mạnh. Phong trào này được mở rộng, phát triển tại Tp.Hà Nội, Ba Vì (Hà Tây cũ) ở phía Bắc, các tỉnh miền Đông Nam Bộ và Tp. Hồ Chí Minh.
Đến những năm đầu thập kỷ 1980, đàn bò sữa của Việt Nam chỉ được nuôi tại các trạm trại, nông trường quốc doanh và các cơ sở trực thuộc sở hữu Nhà nước là chính. Quy mô của các cơ sở này thời đó phổ biến là vài trăm con, lớn nhất là Nông trường Mộc Châu - Sao Đỏ khoảng trên 1000 con. Do còn nhiều hạn chế về kinh nghiệm chăn nuôi, cơ chế quản lý không phù hợp, điều kiện chế biến, tiêu thụ sữa khó khăn nhiều nông trường đã giải thể do CNBS không có hiệu quả. Đàn bò sữa cũng vì thế giảm sút nhanh chóng [2].
Giai đoạn những năm 1980 Đồng thời với việc nuôi bò thuần nhập nội, chương trình lai tạo bò sữa Hà-Ấn (HFx Lai Sind) cũng được triển khai song song với chương trình Sind hoá đàn bò Vàng nội. Trong thời gian 1985-1987 Việt Nam nhập bò Red Sindhi (cả bò đực và bò cái) từ Pakistan về nuôi ở nông trường Hữu Nghị Việt Nam-Mông Cổ và Trung tâm tinh đông lạnh Moncada (Ba Vì, Hà Tây). Đồng thời năm 1987, bò Sahiwal cũng đã được nhập từ Pakistan về nuôi tại Trung tâm tinh đông lạnh Moncada và Nông trường bò giống miền Trung (Ninh Hoà, Khánh Hoà). Những bò Red Sindhi và Sahiwal này đã được sử dụng trong chương trình Sind hoá đàn bò Vàng Việt Nam, tạo ra đàn bò Lai Zêbu (gọi lai sind) làm nền cho công tác lai tạo với bò HF, tạo con lai HF ở các độ máu khác nhau tuỳ theo thế hệ lai: F1 (1/2 HF), F2 (3/4 HF), F3 (7/8 HF) hay F2 (5/8 HF) sử dụng trong chăn nuôi lấy sữa [2].
Để cụ thể hóa chương trình lai tạo giống bò sữa tại thành phố Hồ Chí Minh. Sở Nông nghiệp và PTNT đã xây dựng mô hình “Quốc doanh chủ đạo về giống, dịch vụ kỹ thuật, hộ chăn nuôi tập trung nuôi bò sữa và khai thác sữa hàng hóa”.