Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu 1. Cơ sở khoa học của chiếu sáng trong chăn nuôi gà broiler 1. Ảnh hưởng của chiếu sáng đến tỷ lệ nuôi sống và bệnh tật Ánh sáng rất cần thiết trong chăn nuôi gà, gà cần ánh sáng để tìm máng ăn và máng uống.
Theo Nguyễn Duy Hoan, 1998 [5] thì với gà broiler nuôi dài ngày (42-49-56 ngày tuổi), nặng cân, áp dụng chế độ chiếu sáng đặc biệt nhằm nâng cao tỷ lệ nuôi sống, giảm chết đột ngột, hoặc chân gà có vấn đề., và cộng sự 2008 [61] chế độ ánh sáng khác nhau ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống và ánh sáng thích hợp sẽ giảm khả năng mắc bệnh ở gà. Ảnh hưởng của chiếu sáng đến sinh trưởng Ánh sáng ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh trưởng của gà, vì vậy, cần phải có một chế độ ánh sáng phù hợp để gà có thể sinh trưởng nhanh, tiêu tốn ít thức ăn và chi phí điện chiếu sáng lại giảm từ đó sẽ nâng cao được hiệu quả chăn nuôi đem lại hiệu quả kinh tế cao. Theo Bùi Đức Lũng, 2004 [17] gà broiler được chiếu sáng 23 giờ/ngày, khi nuôi gà trong nhà kín (môi trường nhân tạo) kết quả thí nghiệm với chế độ chiếu sáng: 1 - 2 giờ chiếu sáng, sau đó 2 - 4 giờ nghỉ không chiếu sáng (tắt đèn) cho thấy gà lớn nhanh, chi phí thức ăn và năng lượng điện chiếu sáng giảm., 2007 [45] chiếu sáng ngắt quãng và cường độ ánh sáng khác nhau ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gà broiler., 2007 [59] cho biết cường độ ánh sáng cao gây Stress cho gà, làm gà hoạt động nhiều dẫn tới giảm khả năng sinh trưởng. Ảnh hưởng của chiếu sáng đến hiệu quả chuyển hoá thức ăn Ánh sáng ảnh hưởng lớn đến khả năng sản xuất thịt của gà.
Cần phải có một chế độ ánh sáng phù hợp để gà có thể tiêu tốn ít thức ăn mà vẫn sinh trưởng nhanh và có chất lượng thịt tốt., 2005 [60] chương trình chiếu sáng khác nhau ảnh hưởng đến khả năng thu nhận và tiêu tốn thức ăn, dao động khoảng 1,90 - 2,15 kg/kg tăng trọng. Ảnh hưởng của chiếu sáng đến thành phần và chất lượng thịt Ánh sáng cũng ảnh hưởng lớn đến thành phần và chất lượng thịt gà. Cần phải có một chế độ ánh sáng phù hợp để gà có thể sinh trưởng nhanh, tiêu tốn ít thức ăn; thịt gà có hàm lượng protein, khoáng tổng số cao còn hàm lượng lipit thấp., và cộng sự 2007 [61] thực hiện chiếu sáng ngắt quãng cho gà nuôi thịt, chúng có thời gian nghỉ ngơi và hoạt động phù hợp với cơ thể, vì vậy đã cho chất lượng thịt tốt hơn. Cơ sở khoa học về di truyền các tính trạng năng suất 1.
Tính trạng số lượng Di truyền học có thể chia các tính trạng của vật nuôi ra thành hai loại: Tính trạng chất lượng và tính trạng số lượng. Theo Trần Huê Viên, 2001 [39] phần lớn các tính trạng có giá trị kinh tế của vật nuôi đều là tính trạng số lượng và phần lớn sự thay đổi trong quá trình tiến hoá của sinh vật cũng là sự thay đổi của các tính trạng số lượng. Tính trạng số lượng là những tính trạng mà ở đó sai khác giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác về chủng loại. Tính trạng số lượng còn gọi là tính trạng đo lường, bản chất của di truyền các tính trạng có thể xác định bằng cân, đo, đong, đếm được như tốc độ tăng khối lượng và kích thước các chiều đo, sản lượng trứng,… 12 Theo Nguyễn Ân, 1993 [1] cơ sở lý thuyết của di truyền học số lượng được thiết lập vào khoảng năm 1920 bởi công trình của Fishter R.
(1932), sau đó môn di truyền học số lượng được nhiều nhà di truyền và thống kê bổ sung nâng cao, trở thành cơ sở vững chắc và được áp dụng rộng rãi trong việc cải tiến giống vật nuôi. Các yếu tố ảnh hưởng tính trạng số lượng Các đặc tính bên ngoài hoặc các biểu hiện bên ngoài của một cá thể được gọi là kiểu hình, kiểu hình này do kiểu gen và môi trường gây ra. Các giá trị có liên quan với kiểu gen là giá trị kiểu gen (Genotypic Value) và sai lệch môi trường (Environmental Deviation). Như vậy, Giá trị kiểu hình của tính trạng nào đó được quy định bởi kiểu gen của cá thể và môi trường gây ra, có thể biểu thị như sau: P=G+E Trong đó: P: là giá trị kiểu hình (Phenotypic Value).
G: là giá trị kiểu gen (Genotypic Value). E: là sai lệch môi trường (Environmental Deviation). + Giá trị kiểu hình (Phenotypic Value): Là giá trị cân đo đong đếm được của tính trạng số lượng. + Giá trị kiểu gen (Genotypic Value): Do toàn bộ các gen mà cá thể có gây nên.
+ Sai lệch môi trường (Environmental Deviation): Do tất cả các yếu tố không phải di truyền gây nên sự sai khác giữa giá trị kiểu gen và giá trị kiểu hình. Theo Trần Huê Viên, 2001 [39] trung bình sai lệch môi trường của một quần thể là bằng không (0), do đó trung bình giá trị kiểu hình bằng trung bình 13 giá trị kiểu gen. Giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ cấu tạo thành, đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ có ảnh hưởng rõ rệt đến tính trạng nghiên cứu, hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen (Polygene). Tuy nhiên, sự phân chia hiệu ứng của gen làm hai loại nhỏ và lớn chỉ là tương đối vì còn có nhiều gen có hiệu ứng trung gian, hơn nữa do hiện tượng đa hiệu của gen một gen có thể có hiệu ứng nhỏ đối với một tính trạng này nhưng lại có hiệu ứng lớn đối với một tính trạng khác.
- Giá trị kiểu gen chịu ảnh hưởng bởi ba loại tác động của các gen, đó là giá trị cộng gộp (Additive Value) hoặc giá trị giống, sai lệch trội (Dominance Deviation) và sai lệch tương tác (Interaction Deviation) hoặc sai lệch át gen: G=A+D+I Trong đó: G: là giá trị kiểu gen (Genotypic Value). D: là giá trị sai lệch trội (Dominance Deviation). I: là giá trị sai lệch tương tác (Interaction Deviation) hoặc sai lệch át gen. Theo Nguyễn Văn Thiện, 1998 [26] khi một kiểu hình của một cá thể được cấu tạo từ hai locut trở lên thì giá trị kiểu hình của nó được biểu thị qua mối quan hệ như sau: P = A + D + I + Eg + Es Trong đó: P: là giá trị kiểu hình (Phenotypic Value).
A: là giá trị cộng gộp hoặc giá trị giống (Additive Value). D: là giá trị sai lệch trội (Dominance Deviation). 14 I : là giá trị sai lệch tương tác (Interaction Deviation) hoặc sai lệch át gen. Eg: là sai lệch môi trường chung (General Environmental Deviation).
Es: là sai lệch môi trường riêng - Môi trường đặc biệt (Special Environmental Deviation). Để cải tiến năng suất vật nuôi ngoài việc cải tiến kiểu gen còn phải tạo ra môi trường thích hợp. Từ công thức trên ta thấy, đối với A + D + I là nhiệm vụ của các nhà di truyền giống, còn đối với Eg + Es là nhiệm vụ của các nhà kỹ thuật. Đây là cơ sở khoa học để thiết lập một điều kiện ngoại cảnh thích hợp nhằm củng cố phát huy tối đa khả năng di truyền của các giống vật nuôi trong đó có gia cầm.
Cơ sở khoa học về việc nghiên cứu khả năng sinh trưởng và cho thịt 1. Sinh trưởng * Khái niệm sinh trưởng: Khi còn là hợp tử có khối lượng rất nhỏ, khi trưởng thành ta thấy có sự biến đổi về phương diện khối lượng. Sự biến đổi này gọi là sự tăng trưởng hay sự sinh trưởng và được định nghĩa như sau: Sự sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng của cơ thể và các bộ phận trong cơ thể trên cơ sở tính di truyền (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [19])., 1990 [47] Sinh trưởng là một quá trình sinh lý, sinh hóa phức tạp, duy trì từ khi phôi được hình thành cho đến khi con vật đã trưởng thành. * Đánh giá sinh trưởng: - Sinh trưởng tích lũy: Độ sinh trưởng tích lũy là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn cơ thể hay của từng bộ phận cơ thể tại các thời điểm sinh trưởng, nghĩa là các 15 thời điểm thực hiện các pháp đo.
Các thông số thu được qua các lần cân, đo là biểu hiện sự sinh trưởng tích lũy. Ta có thể biểu thị trên đồ thị gọi là đồ thị sinh trưởng hay tích lũy. Đối với gà broiler đây là tính trạng sản xuất quan trọng được tính bằng kg hoặc g/con và cũng là căn cứ để so sánh khối lượng cơ thể của các tổ hợp lai tốt nhất. - Sinh trưởng tuyệt đối: Là sự tăng lên về khối lượng kích thước và thể tích cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (T.
Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng Parapol. Với gà broiler hướng thịt thường đạt đỉnh cao từ 6 - 8 tuần tuổi. Sinh trưởng tuyệt đối thường được tính bằng g/con/ngày. Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn.
- Sinh trưởng tương đối: Là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát (T. Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng Hypepol. Đơn vị tính sinh trưởng tương đối là %, vật nuôi nói chung và gà broiler thường có tốc độ sinh trưởng tương đối giảm qua các tuần tuổi. - Đường cong sinh trưởng: Đường cong sinh trưởng biểu thị tốc độ sinh trưởng., 1990 [47] đường cong sinh trưởng của gà thịt có 4 đặc điểm chính gồm 4 pha: + Pha sinh trưởng tích lũy: Tăng tốc độ nhanh sau khi nở.
+ Điểm uốn của đường cong tại thời điểm có tốc độ sinh trưởng cao nhất. 16 + Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn. + Pha sinh trưởng tiệm cận có giá trị khi gà trưởng thành., 1991 [57] đường cong sinh trưởng không những được sử dụng để chỉ rõ về khối lượng mà còn làm rõ về mặt chất lượng, sự sai khác giữa các dòng, giống, giới tính. Trần Long và cộng sự, 1994 [14] khi nghiên cứu về đường cong sinh trưởng của các dòng gà A, V1, V3, trong giống gà Hybro (HV85) cho thấy đường cong sinh trưởng của cả bốn dòng đều phát triển đúng quy luật.