CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về bệnh Newcastle 1. Khái niệm Bệnh Newcastle (Newcastle disease) hay còn gọi là bệnh gà rù hay bệnh giả dịch tả gà (avian pseudoplague) (Phạm Hồng Sơn, 2013). Bệnh này do paramyxovirus type 1 hay virus bệnh Newcastle (NDV) gây ra ở gà, gà tây, vịt, chim cút, bồ câu, chim trĩ, quạ, chim sẻ,… những chứng bệnh cơ quan hô hấp và thần kinh,.
(Phạm Hồng Sơn, 2013), là một bệnh truyền nhiễm lây lan nhanh ở gà mọi lứa tuổi. Gà bệnh có những triệu chứng về hô hấp, tiêu hoá và thần kinh, tỷ lệ ốm và chết cao (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2006). Bệnh xảy ra trên mọi lứa tuổi, thường ghép với nhiều bệnh khác ở gia cầm và gây ra tỷ lệ chết cao lên tới 90 - 100%, thiệt hại kinh tế lớn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2011). Virus Newcastle có tính độc lực cao.
Tỷ lệ tử vong gần như 100% có thể xảy ra trong đàn gia cầm chưa được tiêm vaccine. Virus cũng có thể lây nhiễm và gây tử vong ngay cả trong đàn gia cầm đã được tiêm phòng (Nguyễn Bá Hiên và cs, 2013). Những ổ bệnh và nạn dịch thường xuyên gây ra tác hại và tổn thất nghiêm trọng cho nền kinh tế quốc dân, có thể lên đến hàng triệu đô la (Rones và cs, 1996). Chính vì mức độ nguy hiểm của bệnh Newcastle mà tổ chức Thú y thế giới (OIE) xếp vào danh mục bảng A các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở vật nuôi và là bệnh bắt buộc phải công bố khi có dịch (Rones và Levy, 1996).
Sơ lược tình hình phát hiện bệnh Newcastle 1. Trên thế giới Năm 1833, Peteni lần đầu tiên đã mô tả về một trận dịch tả gà (một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm mà nay được đổi tên thành bệnh cúm gia cầm (Phạm Hồng Sơn và cs, 2002)) ở Hungari. Đến năm 1880, Denprato ở Ý bắt đầu phân biệt dịch tả gà với bệnh tụ huyết trùng gà và gọi tên là Typhus exudativus gallinarum. Mãi đến năm 1926, Kraneveld ở Jakarta (Indonesia) đã mô tả triệu chứng và bệnh tích của một loại bệnh ở gà, khác với đặc điểm của bệnh dịch tả gà.
Năm 1927 ở bang Tyne ngoại ô thành phố Newcastle nước Anh, lại phát hiện một số ổ dịch tả gà cổ điển, song khi nghiên cứu huyết thanh học lại thấy căn bệnh có đặc tính hoàn toàn khác, và cũng trong năm này Doyle đã phân lập được virus ở gà và là người đầu tiên chứng minh virus phân lập được có tính kháng nguyên khác với virus dịch tả gà. Để kỷ niệm nơi phát hiện ra bệnh, người ta đã gọi tên bệnh là Newcastle hay dịch tả gà châu Á (Nguyễn Như Thanh và cs, 1997). Còn bệnh dịch tả gà được tìm thấy trước kia được gọi là bệnh dịch tả gà cổ điển, dịch tả gà châu Âu hay dịch tả gà thật (Nguyễn Vĩnh Phước và cs, 1978). Dịch bệnh ở Anh xảy ra Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 theo tài liệu ghi chép có liên quan đến một con tàu vận chuyển thịt đông lạnh, mang theo gà nuôi di chuyển từ châu Á đến cảng Newcastle (Alexander, 1988).
Năm 1951 bệnh lan tới Hawaii, Canada và tiếp tục lan rộng sang châu Âu và nhiều vùng khác nhau của châu Phi. Bệnh Newcastle được chẩn đoán lần đầu tiên ở Angola năm 1957 và đã giết khoảng 50% - 80% số gà ở làng quê trong mỗi năm. Trong cùng thời gian đó, các thể bệnh không điển hình cũng được phát hiện ở nhiều nơi trên thế giới (Bankowski, 1964). Tại châu Mỹ, ổ dịch do virus cường độc đầu tiên xảy ra ở Paraguay vào năm 1970, làm chết một triệu con gà.
Năm 1971, bệnh xảy ra ở California, Mỹ (Acha và Szyfres, 1987) và trong năm 2002 - 2003 bệnh Newcastle lại xuất hiện ở Califonia, gây thiệt hại lớn về kinh tế, dẫn đến cái chết của hơn ba triệu con gia cầm và ngành công nghiệp nuôi gà ở Mỹ thiệt hại ước tính ở mức 5 tỷ USD, phải 9 tháng sau mới kiểm soát được bệnh này (The Center for Food Security, Iowa State University, 2016; Phan Chí Thông, 2015). Tính chất bệnh nghiêm trọng hơn ở châu Âu và Trung Đông. Các chuyên gia thú y ở Mỹ đặt tên bệnh là “Velogenic Viscerotropic Newcastle Disease”. Năm 1977, tại hội nghị gia cầm thế giới tổ chức tại Atlanta (Mỹ) đã làm rõ tính chất bệnh và kết luận: Tất cả các chủng virus phân lập được ở California, Trung Đông và châu Âu có cùng serotype.
Ở Đài Loan từ tháng 2 đến tháng 5 năm 1984, bệnh đã xảy ra ở 245 trại gà trong 11 vùng với 2,76 triệu gà mắc bệnh và 0,57 triệu con chết (Lu và cs, 1986). Bệnh có ở khắp nơi trên thế giới nhưng lưu hành rộng rãi nhất là châu Á, châu Phi và Bắc Mỹ. Ở châu Á, châu Phi bệnh thường thể nặng hơn (Nguyễn Vĩnh Phước và cs, 1978). Ở Việt Nam Năm 1933, bệnh được Phạm Văn Huyến đề cập đến lần đầu tiên ở Việt Nam và gọi là bệnh dịch tả gà Đông Dương.
Năm 1938, một vụ dịch xảy ra trên gà ở Nam bộ được mô tả có những triệu chứng giống bệnh Newcastle. Năm 1949, Jacotot và Le Louet đã chứng minh có virus Newcastle ở Nha Trang sau khi nghiên cứu gây bệnh thực nghiệm cho gà và nuôi cấy trên phôi gà, làm phản ứng ngưng kết hồng cầu gà (HA), phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu gà (HI) và miễn dịch chéo. Tại Sài Gòn vào năm 1956, Notter và cộng sự đã phân lập được chủng virus Newcastle. Năm 1956, Nguyễn Lương và Trần Quang Nhiên đã khẳng định lại sự có mặt của bệnh ở các tỉnh miền Bắc nước ta.
Từ cuối năm 1955–1957, ở miền Bắc đã có nhiều nghiên cứu tìm hiểu bệnh dịch tả gà và bệnh Newcastle. Trên 189 bệnh phẩm não gà bệnh lấy từ 20 tỉnh, các tác giả thấy 58 mẫu phát hiện có virus Newcastle, chưa thấy có virus dịch tả gà. Điều này cũng phù hợp với thông báo của Ủy ban quốc tế phân loại virus gà. Từ năm 1940 trở lại đây, trên thế giới không có bệnh dịch tả gà cổ điển nữa.
Nguyễn Bá Huệ và Nguyễn Thu Hồng (1980) đã nghiên cứu và chứng minh được rằng virus gây Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 ra những trận dịch lớn năm 1970 ở nông trường An Khánh; đầu năm 1974 ở Đông Anh, Hà Nội và Hải Phòng là do virus cường độc Newcastle gây nên (Nguyễn Bá Huệ và cs, 1986). Năm 1984-1985, tại Trung tâm nghiên cứu Thụy Phương thuộc viện Chăn nuôi đã giết và hủy 18.000 con gà các loại. Năm 1986 trại gà Phú Tịnh, Đông Anh, Hà Nội bệnh Newcastle đã gây chết 56. Báo cáo của Cục Thú y trong một hội thảo tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1994, kết quả điều tra bệnh Newcastle trong năm 1991 - 1992 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh trên 30% và tỷ lệ chết từ 15 - 20%, có tỉnh thiệt hại lên đến 4 - 5 tỷ đồng (Cục Thú y và Công Ty Sanofi, 1994).
Theo số liệu của phòng Kỹ thuật thuộc Sở Nông Lâm nghiệp Hà Nội, thì tổng số gà chết do bệnh Newcastle từ năm 1993 - 1995 chiếm từ 14 - 16% (Phạm Xuân Tý và cs, 2000). Trương Quang và cộng sự (2005) cho biết những năm gần đây bệnh Newcastle xảy ra ở các đàn gà nuôi tập trung trong các hộ gia đình thường ở thể không điển hình. Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng bệnh trên là do: Lịch sử dụng vaccine không thích hợp, một tỉ lệ nhất định (7,59 - 13,15%) gà sau khi uống vaccine có hàm lượng kháng thể thấp (<3log2) và con giống không rõ nguồn gốc. Đồng thời, tác giả khuyến cáo những đàn gà nuôi trên ba tháng tuổi nếu đã cho uống vaccine Lasota 3 lần lúc gà 7, 21 và 35 ngày tuổi thì an toàn bệnh Newcastle.
Năm 2007, Dương Nghĩa Quốc và cộng sự đã tiến hành xác định mức độ độc lực của một số chủng virus Newcastle phân lập từ các ổ dịch tự nhiên trên đàn gà nuôi ở tỉnh Đồng Tháp. Kết quả cho thấy, từ 78 mẫu bệnh phẩm đầu gà thu thập trong các ổ dịch xảy ra trên đàn gà nuôi thả ở tỉnh Đồng Tháp, đã chẩn đoán được 37 trường hợp nhiễm virus Newcastle, chiếm 47,4%. Kết quả khảo sát đã chứng minh virus Newcastle là nguyên nhân gây bệnh chính trong các ổ dịch xảy ra ở tỉnh Đồng Tháp (Dương Nghĩa Quốc và cs, 2007). Năm 2011, Phạm Hồng Sơn và cộng sự đã nghiên cứu sử dụng phương pháp trắc định xê lệch ngưng kết gián tiếp chuẩn (SSIA) xác định sự lưu hành của virus Newcastle ở gà qua hai mùa Xuân-Hè và Thu-Đông tại tỉnh Thừa Thiên Huế.
Kết quả xét nghiệm cho thấy hơn 20% gà ở Thừa Thiên Huế mùa Xuân - Hè năm 2011 mang virus Newcastle, dao động từ 14% ở Hương Trà đến 25% ở A Lưới. Tỷ lệ mẫu phân gà mang virus Newcastle ở vụ Thu - Đông năm 2011 là 46%. Xét theo vùng, tỷ lệ mang virus ở vùng cao (miền núi) hay thấp (đồng bằng) không tương quan thuận với nhau (Phạm Hồng Sơn và cs, 2012). Nghiên cứu của Hồ Thị Việt Thu (2012), tình hình bệnh Newcastle trên các giống gà thả vườn được thực hiện qua việc khảo sát dấu hiệu lâm sàng, quan sát bệnh tích và xét nghiệm bằng phản ứng ngưng kết hồng cầu (HA) và ức chế ngưng kết hồng Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 cầu (HI) từ 47 đàn gà bệnh tại tỉnh Hậu Giang trong năm 2011, cho thấy có 23 đàn gà mắc bệnh Newcastle từ 35 đàn nghi ngờ.
Tỷ lệ chết từ gà mắc bệnh Newcastle là (20,02%) cao hơn gà mắc bệnh khác (18,09%). Bệnh thường xảy ra nhất ở các đàn không được tiêm ngừa, kế đến là các đàn gà chỉ được tiêm ngừa một lần và gà được tiêm ngừa hai lần (Hồ Thị Việt Thu, 2012). Đến nay, ở Việt Nam bệnh Newcastle vẫn thường xuyên xảy ra và gây những tổn thất lớn trong ngành chăn nuôi gà, nhất là khi chăn nuôi gà công nghiệp phát triển mạnh (Dương Nghĩa Quốc, 2007). Phân loại, hình thái, cấu trúc virus Newcastle 1.
Phân loại Virus gây bệnh Newcastle trên gia cầm thuộc họ Paramyxoviridae, tộc Paramyxovirinae, chi Avulavirus, loài Newcastle disease virus hay Avian paramyxovirus 1 gây ra (Phạm Hồng Sơn, 2013). Họ Paramyxoviridae gồm 2 tộc Paramyxovirinae và Pneumovirinae, bên cạnh các paramyxovius chưa phân loại.