Mở đầu Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu Phần 4: Kết quả nghiêm cứu và thảo luận Phần 5: Kết luận và kiến nghị Phụ lục Tài liệu tham khảo Phần 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận của đề tài Luan van 4 2.1 Khái niệm kinh tế hộ Kinh tế hộ nông dân đã tồn tại lâu đời, độc lập và tự chủ như các thành phần kinh tế khác. Khái niệm chung về kinh tế hộ là: “Kinh tế hộ nông dân, là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất, có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung một nơi. Mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tùy thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển”. Theo GS Ngô Đình Giao “ Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn của mọi sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước” Theo quan điểm của Farrell(1957): “Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất phải đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ ( hay giá)” Tuy nhiên chúng ta cần phân biệt giữa kinh tế nông hộ với kinh tế gia đình.
Khái niệm, kinh tế hộ gia đình là một tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu của hộ gia đình, trong đó các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định. Sự tồn tại của kinh tế hộ chủ yếu dựa vào lao động gia đình để khai thác đất đai và tài nguyên khác nhằm phát triển sản xuất, thoát nghèo bền vững và vươn lên làm giàu chính đáng. Có thể nhận diện kinh tế hộ gia đình qua các đặc điểm chủ yếu sau: “Kinh tế hộ gia đình được hình thành theo một cách thức tổ chức riêng trong phạm vi gia đình. Các thành viên trong hộ cùng có chung sở hữu các tài sản cũng như kết quả kinh doanh của họ”.
Kinh tế hộ gia đình tồn tại chủ yếu ở nông thôn, hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản. Một bộ phận khác có hoạt động phi nông nghiệp ở mức độ khác nhau. Trong kinh tế hộ gia đình, chủ hộ là người sở hữu nhưng cũng là người lao động trực tiếp. Tùy điều kiện cụ thể, họ có thuê mướn thêm lao động.
Quy mô sản xuất của kinh tế hộ gia đình thường nhỏ, vốn đầu tư ít. Sản Luan van 5 xuất của kinh tế hộ còn mang nặng tính tự cung tự cấp, hướng tới mục đích đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của hộ là chủ yếu. Quá trình sản xuất chủ yếu dựa vào sức lao động thủ công và công cụ truyền thống, do đó năng suất lao động thấp. Do vậy, tích lũy của hộ chủ yếu chỉ dựa vào lao động gia đình là chính.
Trình độ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ của chủ hộ rất hạn chế, chủ yếu là theo kinh nghiệm từ đời trước truyền lại cho đời sau. Vì vậy, nhận thức của chủ hộ về luật pháp, về kinh doanh, cũng như về kinh tế thị trường rất hạn chế. Tại Việt Nam, kinh tế hộ chủ yếu là kinh tế của các hộ gia đình nông dân tại khu vực nông thôn. Xét theo cơ cấu ngành nghề, kinh tế hộ được phân chia thành các loại: hộ thuần nông (hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp), hộ kiêm nghề (vừa làm nông nghiệp, vừa hoạt động tiểu thủ công nghiệp), hộ chuyên nghề (hoạt động trong các lĩnh vực ngành nghề và dịch vụ), và hộ kinh doanh tổng hợp (hoạt động cả trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ).
Đến nay, kinh tế hộ gia đình đã trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta. Trước đây chúng ta quan niệm, kinh tế nông hộ là kinh tế của hộ làm nông nghiệp bao gồm cả Nông - Lâm - Ngư nghiệp. Nhưng đến nay đã quan niệm kinh tế nông hộ là kinh tế của hộ sống ở nông thôn, có nguồn thu từ sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp.2 Khái niệm hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế quan trọng biểu hiện quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế mà xã hội đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được hiệu quả đó. Theo Plato (427-327 trước CN) Thừa nhận chuyên môn hoá và phân công lao động như nguồn gốc của hiệu quả và năng suất.
Theo Aristotle (384-322 trước CN) phân phối công bằng tạo ra hiệu quả kinh tế. Các nhà kinh tế học thời kỳ trung cổ cho rằng hiệu quả kinh tế được tính Luan van 6 thông qua các chỉ về kết quả: A.Smith trong tác phẩm: “Tìm kiếm bản chất và nguồn gốc của sự giàu có của các quốc gia” cho rằng hiệu quả được phản ánh thông qua tiền lãi và lợi nhuận, lợi nhuận là tiền lời đối với tư bản hơn là thu nhập của doanh nghiệp. Tiền lãi được xem là đại diện của lợi nhuận, tức là coi hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu và lợi nhuận. Sức lao động của con người trong mỗi quốc gia là nguồn gốc của sự giàu có và là vốn liếng đầu tiên tạo ra mọi của cải cần thiết cho đời sống xã hội.
Vì vậy để sản xuất có hiệu quả cần một sự phân công lao động trong các tổ chức, các ngành trong một quốc gia. Ogiephri (nhà kinh tế người Pháp) cũng đồng quan điểm như vậy. Trong bản dự thảo phương pháp tính hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của viện nghiên cứu khoa học thuộc uỷ ban kế hoạch nhà nước Liên Xô cũ đã xem hiệu quả kinh tế là tốc độ tăng thu nhập quốc dân và tổng sản phẩm xã hội. Như vậy ở đây hiệu quả được đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh hoạc nhịp độ tăng các chỉ tiêu đó.
Rõ ràng các quan điểm này không hợp lý. Kết quả sản xuất kinh doanh có thể tăng do chi phí tăng hay mở rộng sử dụng các nguồn lực sản xuất. Nếu cùng một kết quả sản xuất mà có hai mức chi phí khác nhau thì quan điểm này có chung một hiệu quả.3 Bản chất hiệu quả kinh tế Bản chất của hiệu quả kinh tế là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội. Đây la hai mặt của hiệu quả kinh tế.
hai mặt này có quan hệ mật thiết với nhau, gắn liền với quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội, là quy luật tăng năng suất và tiết kiệm thời gian.Yêu cầu của việt nâng cao hiệu quả kinh tế là đạt kết quả tối đa về chi phí nhất định và ngược lại, là quy luật tăng năng suất và tiết kiệm thời gian. Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh tế đạt kết quả tối đa về chi phí nhất định và ngược lại, đạt hiệu quả nhất định với chi phí tối thiểu. Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả Luan van 7 chi phí để tạo ra nguồn lực, đồng thời bao gồm cả chi phí cơ hội. Nói tóm lại, bản chất của hiệu quả kinh tế xã hội là hiệu quả của lao động xã hội và được xác định bằng tương quan so sánh giữa lượng kết quả thuội được với lượng hao phí lao động xã hội bỏ ra.
Ý nghĩa của hiệu quả kinh tế Nếu hiệu quả kinh tế gắn liền với lợi nhuận thuần túy thì hiệu quả kinh tế chưa phản ánh được năng suất lao động xã hội, chưa thấy được sự khác nhau về quy mô đầu tư, cũng như quy mô kết quả thu được trong các đơn vị sản xuất có kết quả và chi phí như nhau. Nếu hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả và chi phí sản xuất thì cũng chưa hoàn toàn đầy đủ vì kết quả là sự tác động của nhiều yếu tố: Tự nhiên, kinh tế, xã hội. Các yếu tố đó cần được phản ánh ở hiệu quả kinh tế. Ngoài ra cơ cấu chi phí sẵn có khác nhau thì hiệu quả của các chi phí bổ sung cũng khác nhau.
Vai trò của kinh tế hộ nông dân trong phát triển kinh tế Muốn phát triển nông hộ nông thôn không thể không bàn đến nông dân, nhất là với các nước chưa phát triển như nước ta. Nông dân quản lý và sử dụng đại đa số các nguồn lực sản xuất : đất đai, lao động, tư liệu sản xuất (chiếm khoảng 80% dân số và trên 70% lao động xã hội). Mức GDP trong nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn 35% so với tổng thu nhập. Qua nghiên cứu về kinh tế hộ ở một số nước và ở Việt Nam cho thấy, từ trước đến nay, qua bất kỳ chế độ xã hội nào, kinh tế nông hộ cũng có cách thức để tồn tại, phát triển và có những đóng góp nhất định cho nền kinh tế.
Kinh tế nông hộ đã góp phần làm tăng nhanh sản lượng sản phẩm cho xã hội nguồn lương thực, thực phẩm, các sản phẩm công nghiệp, nông sản xuất khẩu… Ở nước ta, kinh tế nông hộ tuy quy mô còn nhỏ, phân tán và lượng vốn còn ít nhưng đã cung cấp cho xã hội. Cuối năm 2019 trên thế giới xuất hiện virus corona(SARS-CoV2) gây bệnh cho con người, một số quốc gia nói chung việt nam nói riêng đã đóng cửa giao thương buôn bán. Khi đóng cửa như Luan van 8 vậy sẽ không có lương thực, thực phẩm cung cấp cho người dân, trong khi đó việt nam ta không chỉ cung cấp đủ trong nước mà còn xuất khẩu ra bên ngoài. Cho thấy kinh tế hộ đóng vai trò quan trọng trong phát triển nền kinh tế quốc gia.
Cơ sở thực tiễn 2. Tình hình chăn nuôi tại việt nam Chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung là nghề sản xuất truyền thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi nước ta. Chăn nuôi gà chiếm 50 - 70% trong tổng đàn gia cầm hàng năm. Chăn nuôi gà phát triển mạnh nhất là các vùng Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Bắc chiếm 60% đàn gà của cả nước.