Luận án tiến sĩ nghiên cứu bệnh nhiễm độc tố botulin của vi khuẩn clostridium botulinum trên vịt tại một số tỉnh đồng bằng sông cửu long

Luận án tiến sĩ nghiên cứu bệnh nhiễm độc tố botulin do vi khuẩn Clostridium botulinum gây ra trên vịt tại đồng bằng sông Cửu Long.

Trường đại học

Trường Đại Học Cần Thơ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

157
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG

LỜI CẢM TẠ

TRANG CAM KẾT KẾT QUẢ

MỤC LỤC

DANH SÁCH BẢNG

DANH SÁCH HÌNH

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. Đặt vấn đề

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Giới thiệu về bệnh nhiễm độc tố botulin của vi khuẩn Clostridium botulinum

2.2. Tác nhân gây bệnh nhiễm độc tố botulin

2.3. Đặc tính sinh học của vi khuẩn

2.3.1. Phân loại, đặc điểm hình thái

2.3.2. Đặc tính nuôi cấy

2.3.3. Đặc tính sinh hóa

2.3.4. Khả năng hình thành bào tử của Clostridium

2.3.5. Sức đề kháng

2.3.6. Sự phân bố và ảnh hưởng của vi khuẩn C. botulinum trong tự nhiên

2.4. Độc tố của vi khuẩn

2.4.1. Độc tố botulin

2.4.2. Cơ chế gây bệnh của độc tố botulin

2.5. Bệnh do nhiễm độc tố của Clostridium botulinum

2.5.1. Bệnh ở người

2.5.2. Bệnh ở động vật hữu nhũ

2.5.3. Bệnh do độc tố của Clostridium botulinum ở loài gia cầm

2.5.4. Ảnh hưởng của độc tố botulin trên cá

2.5.5. Ảnh hưởng của độc tố botulin trên chuột

2.6. Phương pháp xác định độc tố botulin của vi khuẩn Clostridium botulinum

2.6.1. Phương pháp tiêm truyền cho chuột bạch (Mouse bioassay)

2.6.2. Xác định độc tố botulin bằng sinh học phân tử

2.6.3. Phương pháp nuôi cấy, phân lập vi khuẩn Clostridium botulinum

2.6.3.1. Phương pháp lấy mẫu
2.6.3.2. Phương pháp nuôi cấy, phân lập vi khuẩn

2.7. Những ứng dụng của độc tố botulin của vi khuẩn

2.7.1. Trong thẩm mỹ

2.8. Tình hình nghiên cứu về vi khuẩn C. botulinum trong và ngoài nước

2.8.1. Tình hình nghiên cứu về vi khuẩn C. botulinum trên thế giới

2.8.2. Tình hình ngộ độc do độc tố của vi khuẩn C. botulinum trên thế giới

2.8.3. Tình hình nghiên cứu về vi khuẩn C. botulinum ở Việt Nam

2.9. Một số đặc điểm sinh học của vịt đẻ

2.9.1. Nguồn gốc, đặc điểm của vịt

2.9.2. Đặc điểm tiêu hóa, hấp thu thức ăn của vịt

2.9.3. Những điều lưu ý khi nuôi vịt đẻ

3. CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Phương tiện nghiên cứu

3.1.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.1.2. Địa điểm nghiên cứu

3.1.2.1. Địa điểm thu thập mẫu
3.1.2.2. Phân tích mẫu và nuôi chuột thí nghiệm

3.1.3. Thí nghiệm trên thực địa

3.2. Trang thiết bị dụng cụ và hóa chất

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.3.3. Chỉ tiêu theo dõi

3.3.4. Đối tượng nghiên cứu: môi trường chăn nuôi: đất, nước, cua, ốc

3.3.5. Phương pháp thực hiện

3.3.6. Chỉ tiêu theo dõi

3.4. Xử lý số liệu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Tình hình bệnh botulism trên vịt chạy đồng (VCĐ) Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)

4.1.1. Điều kiện tự nhiên của các tỉnh An Giang, Hậu Giang, Kiên Giang và thành phố Cần Thơ

4.1.2. Tình hình chăn nuôi vịt chạy đồng ở ĐBSCL

4.1.3. Tình hình bệnh botulism trên vịt chạy đồng ở ĐBSCL

4.1.4. Tình hình vịt bệnh botulism theo mục đích nuôi

4.1.5. Triệu chứng lâm sàng đặc trưng của bệnh botulism trên vịt chạy đồng

4.1.6. Bệnh tích đại thể trên vịt bệnh botulism

4.2. Phân lập vi khuẩn C. botulinum và xác định độc tố botulin trên vịt chạy đồng mắc bệnh botulism

4.2.1. Phân lập vi khuẩn C. botulinum trên bệnh phẩm của vịt bệnh botulism

4.2.2. Xác định độc tố trong huyết thanh của vịt bệnh botulism bằng thử nghiệm trên chuột bạch

4.2.2.1. Kết quả gây độc trên chuột
4.2.2.2. Kết quả xác định type độc tố botulin

4.2.3. Xác định các các yếu tố nguy cơ gây bệnh botulism trên vịt chạy đồng ở ĐBSCL có bệnh botulism

4.2.3.1. Tình hình nhiễm vi khuẩn C. botulinum từ các mẫu đất và nước trên ruộng
4.2.3.2. Tình hình nhiễm vi khuẩn C. botulinum từ mẫu cua và ốc trên ruộng

4.2.4. Tính gây bệnh của vi khuẩn C. botulinum phân lập được trên vịt bệnh và môi trường

4.2.4.1. Kiểm tra độ mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn
4.2.4.2. Sự đa kháng của vi khuẩn C. botulinum phân lập được với một số loại kháng sinh
4.2.4.3. Thử nghiệm độc tố botulin trên vịt
4.2.4.4. Những triệu chứng lâm sàng trên vịt thử nghiệm độc tố
4.2.4.5. Khảo sát bệnh tích đại thể trên vịt thử nghiệm độc tố botulin

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC MẪU ĐIỀU TRA DỊCH BỆNH TRÊN ĐÀN VỊT

KẾT QUẢ XỬ LÝ THỐNG KÊ CÁC SỐ LIỆU

Tóm tắt

I. Giới thiệu về bệnh nhiễm độc tố botulin

Bệnh nhiễm độc tố botulin, hay còn gọi là bệnh botulism, là một trong những bệnh lý nghiêm trọng ảnh hưởng đến đàn vịt tại Đồng bằng sông Cửu Long. Bệnh này do vi khuẩn Clostridium botulinum gây ra, một loại vi khuẩn kị khí tuyệt đối, có khả năng sinh độc tố thần kinh botulin. Tình hình chăn nuôi vịt tại khu vực này rất phát triển, với khoảng 31,5 triệu con vịt, chiếm hơn 70% tổng đàn vịt trong vùng. Tuy nhiên, phương thức nuôi vịt chạy đồng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro về dịch bệnh do môi trường chăn thả không được kiểm soát. Theo thống kê, tỷ lệ mắc bệnh botulism trên đàn vịt chạy đồng là 1,19%, trong đó vịt đẻ có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn so với vịt thịt. Điều này cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu và đánh giá tình hình bệnh lý này để có biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

1.1. Tác nhân gây bệnh

Vi khuẩn Clostridium botulinum là tác nhân chính gây ra bệnh botulism. Vi khuẩn này có khả năng sinh bào tử và tồn tại trong môi trường đất, nước, và trong các xác động vật. Độc tố botulin được sản xuất bởi vi khuẩn này có thể gây ra các triệu chứng nghiêm trọng như liệt cổ, liệt mí mắt, và giảm khả năng vận động ở vịt. Nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ vi khuẩn C. botulinum hiện diện trong mẫu phân vịt bệnh là 50,72%, cao hơn so với mẫu gan (43,13%). Điều này cho thấy sự lây lan của vi khuẩn trong môi trường chăn nuôi và nguy cơ cao đối với sức khỏe đàn vịt.

II. Tình hình bệnh botulism trên vịt tại Đồng bằng sông Cửu Long

Tình hình bệnh botulism trên vịt chạy đồng tại Đồng bằng sông Cửu Long đã được nghiên cứu kỹ lưỡng. Kết quả cho thấy, triệu chứng lâm sàng của bệnh botulism trên vịt bao gồm liệt cổ, liệt mí mắt, và giảm ăn. Tỷ lệ mắc bệnh ở vịt đẻ là 1,52%, cao hơn so với vịt thịt (0,91%). Các triệu chứng này xuất hiện với tần suất cao, cho thấy mức độ nghiêm trọng của bệnh. Bệnh tích đại thể trên vịt bệnh cũng cho thấy sự xuất hiện của gan xuất huyết và ruột trống thức ăn. Những triệu chứng này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của vịt mà còn gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi.

2.1. Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng của bệnh botulism trên vịt rất đa dạng và nghiêm trọng. Các triệu chứng điển hình bao gồm liệt cổ (87,92%), liệt mí mắt (90,07%), và liệt chân (79,78%). Ngoài ra, vịt cũng có thể giảm ăn, ủ rũ, và tiêu chảy phân trắng - xanh (70,96%). Những triệu chứng này không chỉ gây khó khăn cho việc chẩn đoán mà còn làm tăng nguy cơ tử vong ở vịt. Việc nhận diện sớm các triệu chứng này là rất quan trọng để có biện pháp can thiệp kịp thời, giảm thiểu thiệt hại cho người chăn nuôi.

III. Phân lập vi khuẩn và xác định độc tố botulin

Quá trình phân lập vi khuẩn C. botulinum từ mẫu bệnh phẩm của vịt mắc bệnh botulism đã được thực hiện theo phương pháp của Lindstrom và Korkeala (2006). Kết quả cho thấy, tỷ lệ hiện diện vi khuẩn trong mẫu phân vịt bệnh cao hơn so với mẫu gan. Việc xác định độc tố botulin trong huyết thanh của vịt bệnh cũng được thực hiện bằng thử nghiệm trên chuột bạch, cho thấy 63% chuột chết và 37% chuột có triệu chứng bất thường. Điều này chứng tỏ rằng độc tố botulin có khả năng gây hại nghiêm trọng cho sức khỏe của động vật.

3.1. Xác định độc tố botulin

Xác định độc tố botulin là một bước quan trọng trong việc chẩn đoán bệnh botulism. Thử nghiệm trên chuột bạch cho thấy tỷ lệ chuột chết cao, cho thấy độc tố botulin có khả năng gây tử vong. Kết quả xác định type độc tố botulin cho thấy tỷ lệ mẫu huyết thanh chứa độc tố type C là 40,48%, type E là 28,57%, và type D là 25,40%. Những thông tin này rất quan trọng trong việc hiểu rõ hơn về tính chất của độc tố và nguy cơ mà nó gây ra cho đàn vịt.

IV. Đánh giá khả năng gây bệnh của vi khuẩn

Khả năng gây bệnh của vi khuẩn C. botulinum được đánh giá thông qua việc xác định LD50 trên vịt. Kết quả cho thấy, 71,88% vịt chết sau khi tiêm truyền độc tố botulin, và 100% vịt có triệu chứng lâm sàng như ủ rũ, ít đi lại, và liệt cổ. Những triệu chứng này cho thấy mức độ nghiêm trọng của bệnh và khả năng gây hại của vi khuẩn. Việc đánh giá khả năng gây bệnh không chỉ giúp hiểu rõ hơn về bệnh lý mà còn hỗ trợ trong việc phát triển các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

4.1. Tính gây bệnh của vi khuẩn

Tính gây bệnh của vi khuẩn C. botulinum được xác định thông qua các thí nghiệm trên vịt. Kết quả cho thấy, vi khuẩn có khả năng gây bệnh cao, với tỷ lệ tử vong lên đến 71,88%. Các triệu chứng lâm sàng như liệt cổ, liệt mí mắt, và tiêu chảy phân trắng - xanh xuất hiện với tần suất cao. Những thông tin này rất quan trọng trong việc xây dựng các chiến lược phòng ngừa và điều trị bệnh botulism trên vịt.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với hệ thống sông ngòi chằng chịt và khí hậu nóng ẩm, diện tích trồng lúa lớn, và nguồn động thực vật thủy sinh phong phú; đây là những điều kiện thuận lợi để có thể chăn nuôi vịt quanh năm, đặc biệt là nuôi vịt chạy đồng. Số lượng vịt nuôi theo phương thức chạy đồng ở ĐBSCL khoảng 31,5 triệu con, chiếm hơn 70% đàn vịt trong vùng và chiếm 40% trong tổng đàn vịt cả nước (Niên giám thống kê, 2019). Phương thức chăn nuôi này có ưu điểm là tận dụng được thức ăn tự nhiên có sẵn của vùng sông nước, lúa rơi vãi sau thu hoạch của nông dân nhằm giảm đáng kể chi phí trong chăn nuôi. Nhưng điều này cũng là một mối đe dọa lớn cho ngành thú y vì không thể kiểm soát được môi trường chăn thả dẫn đến nguy cơ xảy ra dịch bệnh rất cao.

Một trong những bệnh phổ biến trên đàn vịt chạy đồng ở Đồng bằng Sông Cửu Long hiện nay là bệnh “limberneck” hay bệnh “cúm cần” theo cách đặt tên của địa phương. Bệnh cúm cần là bệnh trên thủy cầm do ngoại độc tố botulin của vi khuẩn Clostridium botulinum gây ra; thế nên, bệnh còn được gọi là bệnh botulism. Vi khuẩn Clostridium botulinum là vi khuẩn kị khí tuyệt đối, sinh bào tử hình oval và có nha bào, thường tồn tại trong đất, nhất là các vùng bùn lắng trầm tích, trong xác các loài nhuyễn thể, trong ruột các loài động vật trên cạn và dưới nước, sinh độc tố thần kinh botulinum neurotoxin rất mạnh, phá huỷ hoàn toàn thần kinh trung ương (Todar, 2009). Vịt ăn phải độc tố này sẽ xuất hiện các triệu chứng là liệt mềm cổ, liệt mí mắt, liệt cánh, liệt chân và tử số cao, gây thiệt hại kinh tế nặng nề cho người chăn nuôi (Rocke and Friend, 1998).

Hiện nay, những trong nhân y và thú y trên thế giới đã và đang nghiên cứu bệnh botulism trên con người và trên các loại gia cầm. Tuy nhiên, những nghiên cứu và thông tin về tình hình về bệnh botulism, yếu tố nguy cơ cũng như đặc điểm sinh học của vi khuẩn Clostridium botulinum tại Việt Nam nói chung, Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng còn khá hạn chế. Với mong muốn thông qua nghiên cứu này sẽ cung cấp thông tin khá toàn diện về vi khuẩn Clostridium botulinum và bệnh do vi khuẩn gây ra trên vịt chạy đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long. Từ đó, đề tài “Nghiên cứu bệnh nhiễm độc tố botulin 1 luan an của vi khuẩn Clostridium botulinum trên vịt tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long” được tiến hành.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Tình hình bệnh botulism trên vịt chạy đồng (VCĐ) ở Đồng bằng sông Cửu Long.

- Xác định sự hiện diện vi khuẩn C. botulinum và xác định type độc lực của botulin trên vịt mắc bệnh botulsim. - Đánh giá sự lưu hành của vi khuẩn C. botulinum trên môi trường chăn nuôi VCĐ ở ĐBSCL.

- Xác định khả năng gây bệnh của các chủng C. botulinum phân lập được.3 Những đóng góp mới về khoa học - Đã đưa ra những bằng chứng khoa học xác thực đầu tiên về bệnh liệt mềm cổ trên vịt ở một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. - Khẳng định sự hiện diện của bệnh nhiễm độc tố botulin trên vịt chạy đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long. - Xác định được các type độc tố của vi khuẩn Clostridium botulinum gây bệnh liệt cổ trên vịt.

- Kỹ thuật mouse bioassay lần đầu tiên được áp dụng để xác định bệnh nhiễm độc tố vi khuẩn Clostridium botulinum trên vịt ở Việt Nam.4 Ý nghĩa khoa học của luận án Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách cơ bản có hệ thống về bệnh botulism trên vịt chạy đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long. Từ đó xây dựng được quy trình khoa học trong chẩn đoán xác định bệnh, đồng thời là cơ sở khoa học trong việc xây dựng qui trình phòng trị bệnh botulism trên vịt chạy đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, cả nước nói chung. 2 luan an Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Giới thiệu về bệnh nhiễm độc tố botulin của vi khuẩn Clostridium botulinum Botulism được báo cáo lần đầu ở gà năm 1917 (Dickson, 1917) còn ở vịt được phát hiện lần đầu ở Hoa Kỳ vào những năm 1900 và sau đó vào năm 1923, bệnh được phát hiện ở gà khi ăn giòi (ấu trùng ruồi xanh) và đây là lần đầu tiên C. botulinum type C được phân lập từ loài thân mềm này (Bengtson, 1922).

Đến năm 1930, nhiều tác giả như Giltner and Couch, Gunderson and Hobmairer đã phân lập được C. botulinum type C từ thủy cầm hoang dã bị bệnh tại Hoa Kỳ (Shaw and Simpson, 1936). Ở gia cầm, bệnh còn được gọi là bệnh liệt cổ (limberneck) và bệnh vịt phương Tây (Western duck sickness). Hầu hết gia cầm bị nhiễm C.

botulinum type C và trong ổ dịch thì vịt là loài cảm nhiễm nhất (Rosen, 1971). Bệnh xảy ra nhiều vào những tháng thời tiết nóng hơn là những tháng lạnh (Rocke and Bollinger, 2007). Người không bị ảnh hưởng bởi type C, tuy nhiên thí nghiệm cho thấy khỉ chết sau khi cho ăn gà nhiễm độc tố type C (Giltner and Couch, 1930). Đối với gia cầm, C.

botulinum type E và C được xem là tác nhân chính gây ra bệnh mặc dù một số type khác cũng có khả năng gây bệnh cho gia cầm (Dohms, 1987). Bình thường vi khuẩn sống cộng sinh trong đường ruột gia cầm và không gây bệnh nhưng khi con vật chết thì vi khuẩn sẽ phát triển và sản sinh độc tố. Khi xác động vật phân hủy, ruồi đẻ trứng vào nở ra những ấu trùng (giòi) mang độc tố. Trên mô xác gia cầm chết đã xác định được lượng độc tố type C lớn hơn 2000 liều gây chết tối thiểu (MLD) và trong con giòi chứa lượng độc tố lên đến 104 – 105 liều MLD.

Do đó khi gà, chim, vịt ăn giòi hoặc xác động vật chết sẽ dễ dàng bộc phát bệnh. Trong môi trường nước, các động vật giáp xác nhỏ và ấu trùng côn trùng có thể chứa Clostridium botulinum trong ruột. Khi các loài động vật này chết xác động vật phân hủy sẽ cung cấp một nguồn protein thúc đẩy việc sản xuất các loại độc tố botulin type C trong thịt, trầm tích hoặc vùng đất ngập nước (Bell et al. Botulism gây ra bởi type A và E ở 3 luan an gia cầm hiếm xảy ra và nó thường liên quan với việc sử dụng thức ăn hư hỏng của người để nuôi gà nhà.

Do đặc điểm trên, bệnh thường xảy ra ở những vùng ngập nước vừa rút cạn, nơi có điều kiện ấm áp, môi trường có nhiều xác động vật chết và phân hủy. Các nghiên cứu cho thấy bệnh là nguyên nhân gây chết chủ yếu đối với các loài chim di cư trên toàn thế giới (Wobeser, 1997).2 Tác nhân gây bệnh nhiễm độc tố botulin Năm 1895, Emile Van Ermengem là người đầu tiên phát hiện người ngộ độc và chết do ăn dăm bông, gọi là bệnh ngộ độc thịt và năm 1896 tác giả đã xác định được nguyên nhân là Clostridium botulinum, một loại vi khuẩn kỵ khí, có nha bào, rất khó bị tiêu diệt. Sau này, các nhà khoa học khác còn thấy chúng trong đất, ruột cá, đồ hộp thịt cá, phân người. Năm 1928, Tessmer Snipe & Hermann Sommer chiết tách được độc tố từ C.

Năm 1949, Arnold Burgen phát hiện độc tố của C. botulinum làm tổn thương hệ thần kinh trung ương (đặc biệt là đến các tín hiệu từ não đến cơ bắp), gây liệt cơ rõ nhất là liệt cơ mắt (không có phản ứng với ánh sáng, song thị), liệt cơ vòm miệng, lưỡi hầu, gây nên biến dạng mặt, nguy hiểm nhất là gây liệt trung tâm hô hấp, tim dẫn đến tử vong cao. Năm 1960, Alan Scott & Edward Schantz sử dụng độc tố botulin cho các mục đích điều trị (Dressler, 2006) 2.3 Đặc tính sinh học của vi khuẩn C.1 Phân loại, đặc điểm hình thái Vi khuẩn Clostridium botulinum thuộc chi Clostridium, họ Clostridiaceae, bộ Clostridiales, lớp Clostridia, ngành Firmicutes. Clostridium botulinum cũng được gọi với nhiều tên là Botulobacillus botulinus, Ermengemillus botulinus, Bacillus botulinus, Bacillus putrificus, Pacinia putrifica, Clostridium putrificum, Bacillus putrificus, Pacinia putrifica, Clostridium putrificum, Botulobacillus botulinus, Ermengemillus botulinus.

Clostridium botulinum có thể phân biệt với các Clostridium khác dựa vào các đặc trưng cấu trúc phân tử theo bảng 2. 4 luan an Bảng 2.1 Đặc trưng tổng quát hệ gen một số loài Clostridium Các loài Clostridium Đặc điểm botulinum difficile acetobutylicum perfringens tetani Kích thước(bp) 3.250 G+C (%) 28,24 29,06 30,93 28,60 28,75 Chuỗi mã hoá 3650 3774 3740 2660 2368 Mật độ mã hoá 0,93 0,87 0,93 0,87 0,85 Kích thước gen 875 943 920 946 1011 trung bình (bp) r ARN 9 11 11 10 6 t ARN 80 87 73 96 54 (Mohammed Sebaihial et al. botulinum là một trực khuẩn thẳng hai đầu tròn, dài từ 4–6 µm, rộng từ 0,9–1.2 µm, có thể đứng riêng lẻ hay tập trung thành song trực khuẩn, có khi thành chuỗi ngắn. Trong canh khuẩn có đường glucose vi khuẩn có dạng sợi dài, vi khuẩn có nha bào.

Nha bào có tính đề kháng cao nhưng bị tiêu diệt ở nhiệt độ 1200C trong 15 phút trong khi độc tố bị phá hủy ở nhiệt độ 1000C trong 20 phút. Nha bào có hình trứng nằm ở một đầu vi khuẩn. Vi khuẩn có 4 – 8 lông quanh thân, nhưng di động không mạnh (Quinn et al, 1994).1 Hình dạng vi khuẩn C. botulinum và nha bào (mũi tên) (Nguồn: Yeh et al.2 Đặc tính nuôi cấy C.

botulinum là loại vi khuẩn yếm khí tuyệt đối. Nhiệt độ nuôi cấy thích hợp 28–30oC, độ pH 8,2–8,5. Trong nước thịt yếm khí có đường glucose: canh khuẩn mọc đều, sản sinh nhiều hơi, có cặn lắng dưới đáy, sau đó canh khuẩn trở nên trong và có mùi butyric. Thạch Vaillon hình thành những khuẩn lạc trong suốt, dần dần trở nên đục, màu nâu nhạt, vi khuẩn sản sinh nhiều hơi làm nứt thạch hoặc vỡ thạch, môi trường có mùi butyric.

Môi trường Gelatin có glucose: cấy chích sâu vi khuẩn mọc tốt theo đường cấy, sản sinh nhiều hơi và làm tan chảy chậm. Nước thịt yếm khí có óc: làm đen óc. Thạch máu: dung huyết sau khi nuôi cấy 3–4 ngày.3 Đặc tính sinh hóa Vi khuẩn lên men có sinh hơi glucose, mantose, levulose, dextrin. Lên men không đều galactose, saccarose, lactose, raffinose, xylose, dunxit, maltose, arabinose, salixin.

Trực khuẩn hóa lỏng nhanh gelatin. Không sinh indole nhưng sinh H2S (Nguyễn Như Thanh et al.2 Một số phản ứng sinh hóa của các Clostridium (Quinn et al., 1994) Thạch lòng Tiêu hóa Casein Sinh axit Sản sinh Indol đỏ trứng gà Loài Lecithinase Glucose Clostridium Maltose Sucrose Lactose Lipase C.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về bệnh nhiễm độc tố botulin của vi khuẩn Clostridium botulinum trên vịt tại đồng bằng sông Cửu Long" của tác giả Nguyễn Thu Tâm, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Đức Hiền, được thực hiện tại Trường Đại Học Cần Thơ vào năm 2020. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích tình hình nhiễm độc tố botulin do vi khuẩn Clostridium botulinum gây ra trên vịt tại một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Bài luận án không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về bệnh lý này mà còn đưa ra các biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả, từ đó giúp nâng cao nhận thức và cải thiện sức khỏe cho ngành chăn nuôi vịt trong khu vực.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến bệnh lý và chăm sóc sức khỏe động vật, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau:

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe và bệnh lý trong cả lĩnh vực thú y và y tế.